Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Cây dong riềng là cây trồng nông nghiệp hàng năm có khả năng thích ứng cao với điều kiện sinh thái vùng miền núi và trung du phía Bắc. Với ưu thế dễ canh tác, chi phí đầu tư ban đầu thấp, cây dong riềng giữ vai trò quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng, tạo nguồn sinh kế và nâng cao thu nhập cho các hộ nông dân tại tỉnh Bắc Kạn. Sản phẩm miến dong Bắc Kạn từ lâu đã trở thành mặt hàng đặc sản có uy tín trên thị trường nhờ đặc tính sợi mềm, dai và giữ được hương vị đặc trưng của tinh bột dong riềng. Huyện Na Rì là một trong những vùng sản xuất dong riềng trọng điểm của tỉnh, trong đó xã Côn Minh sở hữu điều kiện thổ nhưỡng phù hợp cùng truyền thống chế biến miến lâu đời, từng phát triển diện tích canh tác lên tới 140 ha.
Tuy nhiên, thực tiễn sản xuất và kinh doanh dong riềng tại xã Côn Minh đang đối mặt với nhiều bất cập:
- Năng suất và chất lượng củ dong chưa đạt mức tối ưu do kỹ thuật sử dụng phân bón chưa hợp lý.
- Cơ cấu giống nghèo nàn, hiện tượng thoái hóa giống cũ qua nhiều năm canh tác chưa được khắc phục, kết hợp với thời tiết biến động thất thường.
- Mối liên kết giữa các hộ trồng dong riềng với các hợp tác xã (HTX) và cơ sở chế biến còn lỏng lẻo, thiếu các hợp đồng ràng buộc chặt chẽ.
- Khâu tiêu thụ sản phẩm thiếu tính ổn định, người sản xuất thường xuyên gặp rủi ro "được mùa mất giá, được giá mất mùa" và giá trị gia tăng chưa được phân chia đồng đều giữa các mắt xích trong chuỗi.
Trước yêu cầu cấp thiết về việc đánh giá toàn diện chuỗi ngành hàng nhằm tìm ra các điểm nghẽn và giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế, đề tài "Phân tích chuỗi giá trị sản phẩm dong riềng trên địa bàn xã Côn Minh, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn" đã được thực hiện.
Mục tiêu chung của đề tài là phân tích thực trạng chuỗi giá trị sản phẩm dong riềng tại địa phương, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cấp và phát triển chuỗi giá trị theo hướng hiệu quả, bền vững.
Các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Tìm hiểu một số đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Côn Minh, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn.
- Đánh giá các tác nhân tham gia vào chuỗi giá trị sản phẩm dong riềng trên địa bàn xã Côn Minh.
- Phân tích chi phí, lợi nhuận của các tác nhân trong chuỗi giá trị để xác định sự phân chia lợi ích kinh tế giữa các khâu.
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chuỗi giá trị sản phẩm dong riềng tại địa bàn nghiên cứu.
- Đề xuất hệ thống giải pháp thúc đẩy chuỗi giá trị sản phẩm dong riềng xã Côn Minh phát triển.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khóa luận:
- Đối tượng nghiên cứu: Các tác nhân trực tiếp và gián tiếp tham gia vào chuỗi giá trị sản phẩm dong riềng (hộ trồng, người thu gom, cơ sở chế biến, đơn vị thương mại, người tiêu dùng và các tổ chức hỗ trợ).
- Phạm vi không gian: Địa bàn xã Côn Minh, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn.
- Phạm vi thời gian: Số liệu thứ cấp được tổng hợp trong giai đoạn 2013 - 2017 (số liệu hiện trạng kinh tế - xã hội năm 2016); thời gian tiến hành điều tra thực địa và thu thập dữ liệu sơ cấp từ ngày 25/8/2017 đến ngày 21/12/2017.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận xây dựng khung phân tích dựa trên sự kết hợp giữa lý thuyết chuỗi giá trị hiện đại và phương pháp tiếp cận ngành hàng truyền thống trong nông nghiệp:
- Khái niệm chuỗi giá trị: Tiếp cận theo nghĩa hẹp (tập hợp các hoạt động nội bộ trong doanh nghiệp nhằm tạo ra sản phẩm) và nghĩa rộng (phức hợp các hoạt động liên kết giữa nhiều tác nhân từ cung ứng đầu vào, sản xuất sơ cấp, chế biến đến phân phối bán lẻ) theo quan điểm của Kaplinsky & Morris (2001), McCormick & Schmitz.
- Phương pháp phân tích ngành hàng (Filière): Khung phân tích có nguồn gốc từ Pháp (thập niên 1960 - 1980, Fabre) nhằm nghiên cứu dòng chuyển dịch vật chất theo 3 chiều: thời gian (bảo quản, dự trữ, điều tiết mùa vụ), không gian (lưu thông, phân phối địa lý) và tính chất/hình thái sản phẩm (chuyển đổi qua công nghệ chế biến từ củ tươi sang tinh bột và miến thành phẩm).
- Khung phân tích lợi thế cạnh tranh và hệ thống giá trị của Michael Porter (1985): Phân định các hoạt động sơ cấp và hoạt động hỗ trợ, xác định nguồn gốc tạo ra giá trị và năng lực cạnh tranh thông qua chiến lược tối ưu chi phí hoặc tạo sự khác biệt sản phẩm.
- Chuỗi cung ứng nông sản thực phẩm (Lambert & Cooper, 2000): Đánh giá đặc thù của hàng nông sản gắn liền với quá trình sinh học, rủi ro tự nhiên, tính chất dễ dập nát, tính mùa vụ và yêu cầu nghiêm ngặt về vệ sinh an toàn thực phẩm.
- Bài học kinh nghiệm thực tiễn: Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm của Fearne & Hughes (1998), Eaton & Shepherd (2001) về chuỗi chè Kenya và cacao Indonesia, báo cáo chuỗi khoai tây của FAO (2008), cùng các nghiên cứu trong nước về chuỗi giá trị chè và thanh long Bình Thuận (Axis Research, 2005).
Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm:
- Phương pháp chọn điểm nghiên cứu: Lựa chọn xã Côn Minh - địa bàn có diện tích trồng và truyền thống chế biến dong riềng tập trung lớn nhất huyện Na Rì.
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Thu thập tài liệu, số liệu thống kê từ các báo cáo tổng kết kinh tế - xã hội (năm 2015, 2016, 2017) của UBND xã Côn Minh, số liệu diện tích - năng suất của Phòng Nông nghiệp & PTNT huyện Na Rì và các công trình khoa học đã công bố.
- Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp:
- Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA): Thảo luận nhóm, quan sát thực địa để nhận diện khó khăn và tiềm năng phát triển.
- Phương pháp điều tra bảng hỏi bán cấu trúc và phỏng vấn trực tiếp: Tiến hành khảo sát theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng đối với từng nhóm tác nhân trong chuỗi.
| Nhóm tác nhân điều tra |
Địa bàn / Đối tượng điều tra |
Quy mô mẫu (N) |
| Hộ trồng dong riềng |
Thôn Bản Cào (25 hộ), Thôn Chè Cọ (25 hộ), Thôn Bản Lài (25 hộ) |
75 hộ |
| Người thu gom (CSTG) |
Thương lái thu mua củ dong trên địa bàn xã |
15 người |
| Người bán buôn, bán lẻ |
Đại lý, tiểu thương phân phối sản phẩm miến dong |
18 người |
| Người tiêu dùng |
Khách hàng sử dụng sản phẩm miến dong Côn Minh |
20 người |
| Cơ sở chế biến (CSCB) |
Cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật của các HTX và cơ sở chế biến |
Toàn bộ các cơ sở trên địa bàn |
- Hệ thống chỉ tiêu và công thức tính toán tài chính:
- Giá trị sản xuất: $GO = Q \times P$ (với $Q$ là sản lượng sản phẩm chính, $P$ là đơn giá).
- Chi phí trung gian: $IC$ (tổng chi phí vật chất và dịch vụ mua ngoài phục vụ sản xuất).
- Giá trị gia tăng: $VA = GO - IC$.
- Lãi gộp: $GPr = VA - (W + T + FF)$ (trong đó $W$ là chi phí lao động/tiền lương, $T$ là thuế và các khoản phí, $FF$ là chi phí tài chính/lãi vay).
- Hao mòn tài sản cố định: $A$ (tính theo phương pháp khấu hao đường thẳng).
- Lãi ròng: $NPr = GPr - A$.
- Lợi nhuận chuỗi theo Kaplinsky & Morris (2001): $\text{Lợi nhuận} = \text{Tổng tài sản có} - \text{Các khoản nợ}$.
- Các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế so sánh: $GO/ha$, $VA/ha$, $MI/ha$, $Pr/ha$; giá trị tạo ra trên 1 ngày công lao động, trên 1 đồng chi phí trung gian và trên 1 đồng tổng chi phí.
- Phương pháp phân tích ma trận SWOT: Tổng hợp các yếu tố bên trong (Điểm mạnh - S, Điểm yếu - W) và bên ngoài (Cơ hội - O, Thách thức - T) để hoạch định chiến lược phát triển chuỗi.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Phần mở đầu xác định tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ tiềm năng tự nhiên của huyện Na Rì và xã Côn Minh đối với cây dong riềng. Tác giả chỉ ra sự mâu thuẫn giữa thế mạnh vùng nguyên liệu với thực trạng năng suất, giá trị còn thấp do giống thoái hóa, kỹ thuật bón phân chưa chuẩn hóa và mối liên kết chuỗi lỏng lẻo. Mục tiêu nghiên cứu được thiết lập gồm 1 mục tiêu chung và 5 mục tiêu cụ thể, đồng thời khẳng định ý nghĩa khoa học trong việc bổ sung dữ liệu phân tích chuỗi ngành hàng vùng cao và ý nghĩa thực tiễn đối với công tác quy hoạch của chính quyền địa phương.
Phần 2: Tổng quan nghiên cứu
Chương này tổng kết có hệ thống cơ sở lý luận về chuỗi giá trị nông sản, chuỗi cung ứng, bản đồ chuỗi giá trị và phương pháp phân tích ngành hàng Filière. Phân tích khung lý thuyết của Michael Porter về các hoạt động sơ cấp, thứ cấp và hệ thống giá trị nhằm định vị lợi thế cạnh tranh. Đồng thời, tác giả tổng quan các nghiên cứu thực tiễn trên thế giới (Kenya, Indonesia, báo cáo FAO về chuỗi khoai tây) và trong nước (chuỗi chè Việt Nam, chuỗi thanh long Bình Thuận), rút ra bài học về tầm quan trọng của việc chia sẻ thông tin, kiểm soát chi phí giao dịch và xây dựng hợp đồng bao tiêu nhằm giảm thiểu tổn thương cho nông hộ nhỏ.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Nội dung chương trình bày chi tiết phương pháp tiếp cận nghiên cứu tại xã Côn Minh. Tác giả thiết lập phương pháp chọn mẫu khảo sát thực địa với quy mô 75 hộ trồng dong riềng tại 3 thôn đại diện (Bản Cào, Chè Cọ, Bản Lài), 15 cơ sở thu gom, 18 thương nhân bán buôn/bán lẻ, 20 người tiêu dùng cùng cán bộ kỹ thuật các HTX. Hệ thống chỉ tiêu kinh tế - tài chính ($GO$, $IC$, $VA$, $GPr$, $NPr$, chỉ tiêu hiệu quả trên đất đai, lao động, chi phí) và công cụ đánh giá tác động sinh thái, xã hội được chuẩn hóa làm căn cứ cho việc xử lý số liệu.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu
Chương này tập trung toàn bộ các phát hiện và số liệu thực nghiệm thu thập tại địa bàn nghiên cứu:
1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên: Xã Côn Minh nằm ở phía Tây Nam huyện Na Rì, cách trung tâm huyện 32 km, có trục Quốc lộ 3B chạy qua. Tổng diện tích tự nhiên đạt 6.355,94 ha; địa hình đồi núi phức tạp chiếm 90% diện tích, nghiêng dần từ Tây Bắc sang Đông Nam xen kẽ hai thung lũng hẹp. Khí hậu nhiệt đới gió mùa có nhiệt độ trung bình năm $22{,}5^\circ\text{C}$, lượng mưa bình quân 1.600 mm, độ ẩm không khí 84%, lượng bốc hơi 854 mm, số giờ nắng 1.450 giờ/năm. Thổ nhưỡng gồm đất phù sa suối, đất dốc tụ ($Ld$), đất feralit biến đổi trồng lúa, đất feralit vàng trên núi cao và đất vàng nâu trên phiến sa thạch ($Fq$).
| Hạng mục sử dụng đất |
Diện tích (ha) |
Tỷ lệ (%) |
| Tổng diện tích đất tự nhiên |
6.355,94 |
100,00 |
| 1. Đất nông nghiệp |
6.187,10 |
97,34 |
| 1.1. Đất sản xuất nông nghiệp |
454,82 |
7,16 |
| - Đất trồng cây hàng năm |
416,41 |
6,55 |
| - Đất trồng cây lâu năm |
38,41 |
0,60 |
| 1.2. Đất lâm nghiệp có rừng |
5.719,36 |
89,98 |
| 2. Đất phi nông nghiệp |
109,27 |
1,72 |
| 3. Đất chưa sử dụng |
59,57 |
0,94 |
- Điều kiện kinh tế - xã hội: Toàn xã có 657 hộ với 2.783 nhân khẩu phân bố trên 14 thôn bản, gồm 4 dân tộc chính: Tày, Nùng, Dao, Kinh. Lực lượng lao động trong độ tuổi là 1.676 người, trong đó 234 người đã qua đào tạo và 1.493 người có việc làm (chiếm 89%). Cơ cấu kinh tế năm 2016 có nông - lâm nghiệp chiếm 79%, thương mại - dịch vụ chiếm 11%. Đàn vật nuôi năm 2016 gồm: trâu 766 con (đạt 123,55% kế hoạch), bò 48 con, ngựa 48 con, dê 289 con (tăng 139 con so với năm 2015), lợn 2.580 con (tổng đàn xuất bán 1.920 con), gia cầm - thủy cầm 16.450 con. Hạ tầng giáo dục có 501 học sinh ở cả 3 cấp; trạm y tế khám chữa bệnh cho 2.929 lượt người, tỷ lệ trẻ tiêm chủng đạt 100%, tỷ lệ suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi là 12%; 95% số hộ sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh.
2. Tình hình phát triển sản phẩm dong riềng tại xã Côn Minh
- Biến động diện tích, năng suất và sản lượng (2013 - 2016):
| Năm |
Tổng diện tích (ha) |
Năng suất (tạ/ha) |
Sản lượng (tấn) |
| 2013 |
229,20 |
850 |
194,82 |
| 2014 |
77,92 |
670 |
52,20 |
| 2015 |
75,38 |
600 |
45,70 |
| 2016 |
76,18 |
650 |
47,69 |
Diện tích dong riềng giảm mạnh từ 229,20 ha (năm 2013) xuống còn 76,18 ha (năm 2016). Vùng nguyên liệu tập trung chủ yếu tại 6 thôn: Bản Lài, Bản Cuôn, Bản Cào, Chè Cọ, Lùng Vạng, Nà Làng với tổng diện tích rà soát đạt 102,34 ha. Nguyên nhân suy giảm năng suất và diện tích xuất phát từ điều kiện mưa lũ ảnh hưởng đến hàm lượng bột củ, thị trường tiêu thụ thiếu ổn định và tình trạng mất giá khiến người dân thu hẹp quy mô sản xuất.
- Thực trạng chế biến và tiêu thụ: Trên địa bàn xã có 33 cơ sở sản xuất, chế biến đang hoạt động (14 cơ sở đã ngừng hoạt động). Cụ thể: 15/23 cơ sở chế biến tinh bột còn hoạt động (ngừng 8 cơ sở); 18/24 cơ sở chế biến miến dong còn hoạt động (ngừng 6 cơ sở). Trong đó, có 9 cơ sở kết hợp sản xuất tinh bột và tráng miến, 5 cơ sở chuyên sản xuất tinh bột, 9 cơ sở chuyên chế biến miến. Đã có 6/18 cơ sở đăng ký sử dụng nhãn hiệu tập thể "Miến dong Bắc Kạn".
3. Phân tích chuỗi giá trị và các kênh tiêu thụ
- Các tác nhân tham gia chuỗi:
| Nhóm tác nhân |
Vị trí trong chuỗi |
Chức năng và sản phẩm |
| Cung ứng đầu vào |
Tác nhân chính |
Cung ứng giống, công cụ lao động, phân bón, vật tư nông nghiệp |
| Người sản xuất |
Tác nhân chính |
Trồng trọt, chăm sóc, thu hoạch củ dong riềng tươi |
| Người thu gom |
Tác nhân chính |
Thu mua củ dong từ hộ sản xuất, vận chuyển bán cho các CSCB |
| Cơ sở chế biến |
Tác nhân chính & phụ |
Sản xuất tinh bột dong riềng, chế biến và đóng gói miến dong |
| Người bán buôn, bán lẻ |
Tác nhân thương mại |
Phân phối sản phẩm miến dong ra thị trường tiêu dùng |
| Người tiêu dùng |
Khách hàng cuối cùng |
Tiêu thụ sản phẩm miến dong thành phẩm |
- Các kênh tiêu thụ chính: Khóa luận xác định 2 kênh lưu thông củ dong tươi và miến dong trên địa bàn:
- Kênh 1 (chiếm 65% sản lượng): Người sản xuất $\rightarrow$ Người thu gom $\rightarrow$ Cơ sở chế biến $\rightarrow$ Người bán buôn, bán lẻ $\rightarrow$ Người tiêu dùng.
- Kênh 2 (chiếm 35% sản lượng): Người sản xuất $\rightarrow$ Cơ sở chế biến $\rightarrow$ Người bán buôn, bán lẻ $\rightarrow$ Người tiêu dùng.
- Thị trường tiêu thụ miến dong Côn Minh đã mở rộng tới các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Bắc Giang, Nam Định, Hưng Yên, Hải Phòng, Thái Nguyên và nội tỉnh Bắc Kạn.
4. Phân tích ma trận SWOT của chuỗi giá trị
- Điểm mạnh (S): Điều kiện đất đai, khí hậu thích hợp; người dân có kinh nghiệm canh tác và chế biến lâu đời; sản phẩm miến có chất lượng đặc thù, đã xây dựng được nhãn hiệu tập thể.
- Điểm yếu (W): Quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún; giống cũ thoái hóa; ứng dụng khoa học kỹ thuật hạn chế; thiếu vốn đầu tư máy móc; xử lý nước thải và bã thải chưa triệt để.
- Cơ hội (O): Nhu cầu tiêu thụ nông sản sạch, đặc sản vùng miền của thị trường đô thị tăng cao; nhận được sự hỗ trợ chính sách phát triển nông nghiệp của tỉnh Bắc Kạn và huyện Na Rì; hạ tầng giao thông (Quốc lộ 3B) thuận lợi.
- Thách thức (T): Cạnh tranh gay gắt từ các vùng sản xuất miến khác; giá củ tươi và giá tinh bột biến động thất thường; rủi ro thời tiết, sương muối, mưa lũ xói mòn đất.
Phần 5: Kết luận và kiến nghị
Tác giả đúc kết các phát hiện then chốt về chuỗi giá trị dong riềng Côn Minh, khẳng định tiềm năng kinh tế của cây trồng này đối với công cuộc xóa đói giảm nghèo tại địa phương. Đồng thời, đề xuất các kiến nghị cụ thể đối với UBND tỉnh Bắc Kạn, UBND huyện Na Rì và chính quyền xã Côn Minh về việc quy hoạch vùng sản xuất, hỗ trợ kỹ thuật, xúc tiến thương mại và kiểm soát an toàn vệ sinh thực phẩm.
Kết quả và đóng góp
Kết quả nghiên cứu chính
- Lượng hóa thực trạng và sự suy giảm của vùng sản xuất: Khóa luận đã hệ thống hóa chuỗi số liệu 4 năm (2013 - 2016), phản ánh sự biến động mạnh mẽ của diện tích trồng dong riềng tại Côn Minh khi giảm từ đỉnh điểm 229,20 ha (năm 2013) xuống còn 76,18 ha (năm 2016), năng suất giảm từ 850 tạ/ha xuống 650 tạ/ha, sản lượng tương ứng giảm từ 194,82 tấn xuống 47,69 tấn.
- Khảo sát mạng lưới chế biến địa phương: Xác định chính xác quy mô của 33 cơ sở chế biến còn hoạt động (15 cơ sở tinh bột, 18 cơ sở miến dong) và 14 cơ sở đã dừng hoạt động; ghi nhận tỷ lệ 33,3% cơ sở miến (6/18 cơ sở) đã gắn nhãn hiệu tập thể "Miến dong Bắc Kạn".
- Mô hình hóa dòng lưu chuyển sản phẩm: Xác lập cơ cấu 2 kênh phân phối chính, chỉ ra tỷ trọng 65% lượng củ dong phải qua trung gian thương lái thu gom, khiến giá trị gia tăng của nông hộ bị chiết giảm đáng kể so với kênh bán trực tiếp (chiếm 35%).
Các giải pháp do tác giả đề xuất
- Nhóm giải pháp canh tác và giống:
- Thực hiện phục tráng và thay thế các dòng giống dong riềng đã bị thoái hóa; khảo nghiệm các giống mới có hàm lượng tinh bột cao.
- Hướng dẫn kỹ thuật sử dụng phân bón hợp lý, tăng cường bón phân hữu cơ và áp dụng biện pháp canh tác chống xói mòn trên đất dốc.
- Quy hoạch ổn định vùng nguyên liệu tập trung tại 6 thôn trọng điểm (Bản Lài, Bản Cuôn, Bản Cào, Chè Cọ, Lùng Vạng, Nà Làng).
- Nhóm giải pháp liên kết, chế biến và tiêu thụ:
- Xây dựng và củng cố mô hình hợp tác xã kiểu mới, thiết lập hợp đồng liên kết bao tiêu củ dong tươi giữa nông hộ và các cơ sở chế biến nhằm ổn định giá cả.
- Đầu tư nâng cấp công nghệ nghiền lọc tinh bột, hỗ trợ máy tráng sấy miến bán tự động nhằm giảm phụ thuộc vào thời tiết phơi nắng.
- Mở rộng tỷ lệ cấp quyền sử dụng nhãn hiệu tập thể "Miến dong Bắc Kạn" cho các cơ sở đủ điều kiện; tăng cường xúc tiến thương mại tại các thị trường đô thị (Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên).
- Xây dựng hệ thống bể lắng và xử lý bã thải, nước thải tinh bột nhằm đảm bảo tiêu chuẩn môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm.
Đóng góp của đề tài
- Cung cấp nguồn cơ sở dữ liệu thực chứng chi tiết về hiện trạng sản xuất, các tác nhân và cấu trúc kênh tiêu thụ của chuỗi dong riềng tại một xã miền núi cao thuộc tỉnh Bắc Kạn.
- Làm sáng tỏ những hạn chế nội tại trong cơ chế phân chia lợi ích kinh tế giữa người sản xuất củ thô và các cơ sở chế biến/thương mại.
- Đóng góp tài liệu tham khảo có giá trị ứng dụng trực tiếp cho UBND xã Côn Minh và Phòng Nông nghiệp & PTNT huyện Na Rì trong việc định hướng quy hoạch nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của đề tài:
- Phạm vi khảo sát sơ cấp tập trung tại 3/14 thôn của xã Côn Minh với dung lượng mẫu 75 hộ nông dân; các số liệu phỏng vấn thương nhân bán buôn, bán lẻ và người tiêu dùng ngoài địa bàn xã còn giới hạn về quy mô mẫu.
- Khung thời gian nghiên cứu thực địa diễn ra trong 4 tháng (tháng 8 đến tháng 12/2017) nên chủ yếu phản ánh số liệu tại thời điểm thu hoạch và chế biến chính vụ, chưa theo dõi được biến động giá cả trong cả chu kỳ năm.
- Phân tích chuỗi giá trị chưa đi sâu vào việc hạch toán chi tiết chi phí dòng đời sản phẩm và phân tích tác động biên môi trường đối với nguồn nước thải bã dong riềng.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng phạm vi phân tích chuỗi giá trị sang toàn bộ vùng nguyên liệu dong riềng của huyện Na Rì (bao gồm các xã Hảo Nghĩa, Cư Lễ, Dương Sơn) để so sánh hiệu quả kinh tế liên vùng.
- Nghiên cứu chuyên sâu về các mô hình liên kết chuỗi giá trị khép kín gắn với công nghệ chế biến phụ phẩm (sản xuất thức ăn chăn nuôi, phân bón vi sinh từ bã dong) nhằm nâng cao giá trị gia tăng toàn chuỗi.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Phát triển nông thôn, Kinh tế nông nghiệp, Quản trị kinh doanh nông nghiệp cần tài liệu tham khảo về phương pháp luận phân tích chuỗi giá trị ngành hàng nông sản vùng cao.
- Cán bộ khuyến nông, chuyên viên các Phòng Nông nghiệp & PTNT, Chi cục Phát triển nông thôn tại các địa phương trung du, miền núi phía Bắc đang thực hiện chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP).
- Ban quản trị các HTX, chủ cơ sở chế biến miến dong trong việc định hình chiến lược liên kết vùng nguyên liệu và quản trị chất lượng sản phẩm.
- Nội dung có giá trị tham khảo nổi bật:
- Khung phương pháp kết hợp giữa điều tra bảng hỏi đa tác nhân, công cụ PRA và hệ thống chỉ tiêu tài chính ($GO$, $IC$, $VA$, $GPr$, $NPr$).
- Phương pháp lập bản đồ chuỗi giá trị, sơ đồ hóa dòng hàng hóa và ma trận phân tích SWOT cho một sản phẩm cây trồng bản địa cấp xã.
Câu hỏi thường gặp
1. Cơ cấu mẫu khảo sát thực địa của đề tài được phân bổ như thế nào?
Đề tài thực hiện điều tra tổng cộng 75 hộ trồng dong riềng chọn mẫu ngẫu nhiên tại 3 thôn có diện tích lớn nhất xã Côn Minh (thôn Bản Cào: 25 hộ, thôn Chè Cọ: 25 hộ, thôn Bản Lài: 25 hộ). Ngoài ra, tác giả phỏng vấn 15 người thu gom, 18 người kinh doanh bán buôn/bán lẻ, 20 người tiêu dùng và toàn bộ cán bộ quản lý, kỹ thuật của các HTX, cơ sở chế biến trên địa bàn.
2. Các kênh tiêu thụ chính của sản phẩm dong riềng tại xã Côn Minh vận hành ra sao?
Chuỗi giá trị tồn tại 2 kênh tiêu thụ chính:
- Kênh 1 (chiếm 65% sản lượng): Người sản xuất $\rightarrow$ Người thu gom $\rightarrow$ Cơ sở chế biến $\rightarrow$ Người bán buôn, bán lẻ $\rightarrow$ Người tiêu dùng.
- Kênh 2 (chiếm 35% sản lượng): Người sản xuất $\rightarrow$ Cơ sở chế biến $\rightarrow$ Người bán buôn, bán lẻ $\rightarrow$ Người tiêu dùng.
3. Diện tích và sản lượng dong riềng tại xã Côn Minh biến động như thế nào trong giai đoạn 2013 - 2016?
Diện tích và sản lượng dong riềng có xu hướng suy giảm mạnh:
- Năm 2013: Diện tích đạt 229,20 ha, năng suất 850 tạ/ha, sản lượng đạt 194,82 tấn.
- Năm 2014: Diện tích giảm còn 77,92 ha, năng suất 670 tạ/ha, sản lượng đạt 52,20 tấn.
- Năm 2015: Diện tích còn 75,38 ha, năng suất 600 tạ/ha, sản lượng đạt 45,70 tấn.
- Năm 2016: Diện tích đạt 76,18 ha, năng suất 650 tạ/ha, sản lượng đạt 47,69 tấn.
4. Thực trạng hoạt động của mạng lưới cơ sở chế biến miến dong tại xã Côn Minh tại thời điểm nghiên cứu ra sao?
Toàn xã có 33 cơ sở chế biến đang hoạt động (14 cơ sở đã ngừng hoạt động), bao gồm 15 cơ sở chế biến tinh bột và 18 cơ sở chế biến miến dong. Trong đó có 9 cơ sở kết hợp cả sản xuất tinh bột và tráng miến, 5 cơ sở chuyên tinh bột và 9 cơ sở chuyên tráng miến. Đã có 6/18 cơ sở chế biến miến hoàn thành đăng ký quyền sử dụng nhãn hiệu tập thể "Miến dong Bắc Kạn".
5. Nguyên nhân chính khiến mối liên kết trong chuỗi giá trị dong riềng Côn Minh còn lỏng lẻo là gì?
Nguyên nhân chủ yếu do các hộ nông dân sản xuất ở quy mô nhỏ lẻ, thiếu hợp đồng tiêu thụ ràng buộc pháp lý với các cơ sở chế biến; hoạt động mua bán củ tươi chủ yếu dựa vào thỏa thuận miệng thông qua thương lái thu gom trung gian (chiếm tới 65% luồng hàng), dẫn đến tình trạng biến động giá cả và thiếu chia sẻ rủi ro thị trường.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đinh Thanh Bình đã phản ánh toàn diện thực trạng chuỗi giá trị sản phẩm dong riềng tại xã Côn Minh, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn thông qua việc kết hợp cơ sở lý luận kinh tế nông nghiệp với dữ liệu điều tra thực nghiệm phong phú. Nghiên cứu đã chỉ rõ các nút thắt then chốt về sự suy giảm diện tích, thoái hóa giống, sự chi phối của khâu thu gom trung gian và những hạn chế trong liên kết chế biến - tiêu thụ sản phẩm miến dong. Hệ thống giải pháp được đề xuất mang tính đồng bộ từ khâu chọn giống, kỹ thuật canh tác đến liên kết hợp tác xã và phát triển thương hiệu tập thể, cung cấp căn cứ khoa học và thực tiễn thiết thực cho công tác quản lý phát triển nông thôn tại địa phương.