Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả và thảo luận nghiên cứu Chương 5: Kết luận và Hàm ý quản trị 5 CHƯƠNG 2 Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Các khái niệm liên quan về khỏi nghệp 2.1 Định nghĩa về khởi nghiệp Một số nhà nghiên cứu (Drucker, 1985; Gorman và cộng sự, 1997) định nghĩa “Khới nghiệp là quá trình tạo ra hoạt động kinh doanh mới cho riêng mình. Qua đó, bạn có thể thuê các nhân viên làm việc cho bạn và bạn là người quản lý công ty, doanh nghiệp của mình”. Theo quan điểm của Thurik và Wennekers, 2004 “Khởi nghiệp là một hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, điều này sẽ có lợi cho bất kỳ người kinh doanh”. Abdullah Azhar và cộng sự (2010) định nghĩa “Khởi nghiệp là chủ đề nghiên cứu tương đối mới và lĩnh vực trọng tâm đang khám phá quá trình quản trị khởi nghiệp như tính sáng tạo và tự chủ, khả năng thích ứng và tạo ra giá trị nghệ thuật cũng như kinh tế và xã hội”.
Nafukho và Muyia (2010) chứng minh rằng “Khởi nghiệp phải sử dụng nguồn nhân lực với lao động kỹ thuật và kỹ năng quản lý”. Từ góc độ doanh nghiệp khởi nghiệp thì “khởi nghiệp là thành lập công ty và chấp nhận rủi ro mục đích làm giàu cho bản thân” (Wortman, 1987), hoặc khởi nghiệp là “Khởi nghiệp bắt đầu bằng hành động và thành lập tổ chức mới” (MacMillan, 1993). Theo Quyết định 844/QĐ-TTg: định nghĩa doanh nghiệp khởi nghiệp (KNST) là “Các doanh nghiệp có thể mở rộng nhanh chóng bằng cách sử dụng các mô hình kinh doanh, công nghệ và sở hữu trí tuệ mới. Các doanh nghiệp KNST có thể hoạt động tối đa 5 năm kể từ ngày cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh lần đầu”.2 Ỷ định khởi nghiệp Ý định khởi nghiệp đã trở thành một vấn đề được quan tâm lớn (Fayolle và Linan 2014).
Theo Kautonen và cộng sự (2015) nhận định rằng ý định kinh doanh có thể được phát hiện trước hành vi kinh doanh của các cá nhân. Ý định khởi nghiệp được định nghĩa là sự tự tin của những người muốn thành lập một công ty mới (Thompson, 2009). Ý định khởi nghiệp là một kế hoạch mong muốn hành lập 6 doanh nghiệp hoặc lĩnh vực kinh doanh mói (Krueger và cộng sự, 2000; Popescu và cộng sự, 2016). Có mối tương quan chặt chẽ giữa kinh sự kinh doanh và hành vi (Kautonen và cộng sự, 2015; Esfandiar và cộng sự, 2019).
Cụ thể hơn, quá trình xác định, đánh giá và nắm bắt các cơ hội kinh doanh để khởi động các dự án kinh doanh mới được gọi là hành vi kinh doanh. (Shane và Venkataraman, 2000) với điều đầu tiên và quan trọng nhất trong toàn bộ quá trình là quyết định thành lập doanh nghiệp. Lý thuyết hành vi có kế hoạch (Ajzen, 1991) là một trong những lý thuyết nổi tiếng nhất về ý định kinh doanh (Fayolle và Linan, 2014). Ý định khởi nghiệp là một hoạt động có kế hoạch, bao gồm nhiều cấp độ khác nhau chứ không phải chỉ đơn giản là có hoặc không (Thompson, 2009).
Ý định mạnh mẽ khuyến khích hành vi, đặc biệt là hành vi có kế hoạch (Ajzen, 1991), vì vậy, nó được coi là yếu tố quyết định hành vi (Fayolle và Lassas-Clerc, 2006). Các nhà nghiên cứu sử dụng mô hình TPB, với một vài điều chỉnh làm nền tảng cho nhiều nghiên cứu về kinh sự kinh doanh.2 Lý thuyết nền liên quan vấn đề nghiên cứu 2.1 Lý thuyết sự kiện khởi nghiệp của Shapero và Sokol (1982) Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu của Shapero và Sokol (1982) Nguồn: Shapero và Sokol (1982) Theo nghiên cứu của Shapero và Sokol (1982), quyết định khởi nghiệp kinh doanh của một người bị ảnh hưởng bởi hai yếu tố: (1) các sự kiện xảy ra trong cuộc sống 7 của họ và (2) thái độ của họ đối với việc kinh doanh đó, tức là được thể hiện theo hai cách: họ cảm thấy thế nào về khả năng thành lập doanh nghiệp và họ cảm thấy thế nào về mong muốn thực hiện điều đó.2 Lỷ thuyết hành vi TPB của Ajzen (1991) Ajzen (1991) đề xuất rằng TPB giải thích các yếu tố mô tả ý định của mọi người đằng sau các yếu tố được mô tả bằng hiệu quả của bản thân. Nó bao gồm các ý định như một yếu tố dự đoán mạnh mẽ về hành vi. Để thúc đẩy sự phát triển của các hoạt động thưong mại, các chính sách của quốc gia nhằm giải quyết các ý định khỏi nghiệp phải được thúc đẩy.
Ý định hành vi bị ảnh hưởng bởi ba điều. Đầu tiên, thái độ của một người đối vói hành vi cho thấy họ cảm thấy thế nào về việc bắt đầu kinh doanh, dù là tích cực hay tiêu cực. Thứ hai, liệu những người xung quanh họ có đồng ý với quyết định thành lập công ty của họ hay không. Thứ ba, đánh giá của một người về sự dễ dàng hay khó khăn trong việc tiến hành kinh doanh được gọi là kiểm soát hành vi nhận thức.2 Mô hình dự định hành vi -TPB Nguồn: Ajzen (ỉ 991) 2.3 Lý thuyết về dự định khởi nghiệp của Krueger và cộng sự (2000) Trong mô hình mói theo mô hình SEE của Shapero và Sokol (1982), Có 3 yếu tố được Krueger và cộng sự (2000) đưa ra để tác động đến ý định khỏi nghiệp: (i) xu hướng hành động, (ii) cảm nhận về tính khả thi và (iii) mong muốn khởi nghiệp.
Kết quả là, xu hướng hành động được thay thế bằng sự thay đổi trong mô hình mới, 8 khác một chút so với mô hình trước đó. Xu hướng hành động của một người là xu hướng thực hiện các quyết định mà họ đưa ra. Sau đây là mô hình của Krueger và cộng sự (2000): Hình 2.3 Mô hình nghiên cứu dự định hành vi Nguồn: Krueger và cộng sự (2000) 2.3 Các nghiên cứu về ý định khỏi nghiệp nước ngoài và trong nước 2.1 Các nghiên cứu của nước ngoài 2. 1 Nghiên cứu Hassan và cộng sự (2020) Hình 2.4 Mô hình nghiên cứu ý định khởi nghiệp thanh niên tại Malaysia Nguồn: Hassan và cộng sự (2020) Hassan và cộng sự (2020) đã “Nghiên cứu ý định khởi nghiệp của thanh niên tại Malaysia” như hỗ trợ tài chính và thị trường, thái độ của thanh niên trong việc dấn 9 thân vào khởi nghiệp.
Theo kết quả nghiên cứu, các yếu tố “hỗ trợ tài chính” và “yếu tố giáo dục khỏi nghiệp” khuyến khích giói trẻ có tư duy khởi nghiệp và theo đuổi khởi nghiệp. Tuy nhiên, sự sẵn có của thị trường không ảnh hưởng đến việc những người trẻ tuổi dấn thân vào kinh doanh.2 Nghiên cứu Alvarez-Risco và cộng sự (2021) Alvarez-Risco và cộng sự (2021) tiến hành nghiên cứu “ý định khởi nghiệp xanh của sinh viên trường Đại học kinh doanh trong đại dịch Covid-19 tại Ecuador”. Nhóm tác giả đã đánh giá mức độ ảnh hưởng của hỗ trợ phát triển giáo dục quốc gia thông qua hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp đối vói các ý định kinh doanh xanh. Có tổng cộng 532 sinh viên trường kinh doanh ở Ecuador đã tham gia vào một cuộc khảo sát trực tuyến.
Bảng câu hỏi khảo sát gồm, tám câu hỏi tập trung vào thông tin nhân khẩu học và 27 câu hỏi thăm dò ý định khởi nghiệp xanh của sinh viên. Kết quả nghiên cứu có 3 yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên tại Ecuador bao gồm: (1) Hỗ trợ của Chính phủ phát triển ý định khỏi nghiệp của sinh viên, (2) Hỗ trợ của giáo dục cho phát triển định hướng khởi nghiệp cho sinh viên, (3) Hỗ trợ về nhận thức khỏi sự kinh doanh cho sinh viên. Kết quả phân tích và kiểm định mô hình đã giải thích 73,1% ý định kinh doanh xanh.5 Mô hình nghiên cứu của Alvarez-Risco và cộng sự (2021) Nguồn: Alvarez-Risco và cộng sự (2021) 10 Nghiên cứu trên có thể giúp các trường đại học phát triển các kế hoạch chiến lược để phát triển ý tưởng kinh doanh trong sinh viên. Các kết quả nghiên cứu là căn cứ đề xuất, kiến nghị cho Chính phủ trong việc thiết lập các chuẩn mực mới để thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp.3 Nghiên cứu Kobỵlinska (2022) Kobylinska (2022) dựa trên mô hình TPB của Ajzen (1991) thực hiện nghiên cứu về Thái độ, chuẩn mực chủ quan và kiểm soát nhận thức ảnh hưởng đến ý định kinh doanh của sinh viên tại Ba Lan.
Nghiên cứu được thực hiện trên mẫu hon 330 sinh viên tại Ba Lan đã chỉ ra rằng không phải tất cả các yếu tố cá nhân đều có ý nghĩa thống kê trong việc đánh giá ý định khởi nghiệp của giới trẻ. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 3 yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Ba Lan bao gồm: (1) Thái độ, (2) Kiểm soát hành vi, (3) Chuẩn chủ quan.5 Mô hình nghiên cứu của Kobylinska (2022) Nguồn: Kobyỉinska (2022) 2.4 Nghiên cứu Martín-Navarro và cộng sự (2023) Martín-Navarro và cộng sự (2023) đã thực hiện nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên ngành du lịch từ các trưởng đại học Cadiz và Seville tại Tây Ban Nha. Nghiên cứu này nhằm mục đích xác định xu hướng hành động như một tiền đề của ý định kinh doanh. Với mục đích này và dựa trên mô hình TPB, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu với các sinh viên du lịch từ các trường đại 11 học Cadiz và Seville (Tây Ban Nha) bằng Smart PLS 3.
Kết quả cho thấy xu hướng hiệu quả ảnh hưởng đến ý định kinh doanh và thái độ cũng như nhận thức về kiểm soát hành.6 Mô hình nghiên cứu của Martín-Navarro và cộng sự (2023) Nguồn: Martín-Navarro và cộng sự (2023) 2.2 Các nghiên cứu trong nước 2. ỉ Nghiên cứu của Nguyễn Anh Tuấn (2018) Nghiên cứu của Nguyễn Anh Tuấn (2018) đã dựa vào mô hình TPB của Ajzen (1991) tiến hành nghiên cứu về ý định khởi nghiệp của thanh niên Việt Nam. Tác giả đã ké thừa ba yếu tố cơ bản là: Thái độ đối với khởi nghiệp; Chuẩn mực xã hội và nhận thức kiểm soát hành vi, và năm yếu tố khác tác động đến ý định khởi nghiệp của thanh niên gồm: Thái độ đối với tiền bạc, khát vọng thành công, giáo dục khởi nghiệp, kinh nghiệp khởi nghiệp, môi trường kinh doanh và tính sáng tạo.7 Mô hình nghiên cứu của Nguyễn Anh Tuấn (2018) Nguồn: Nguyễn Anh Tuấn (2018) 2.2 Nghiên cứu của Nguyễn Võ Hiểu Chầu (2023) Nguyễn Võ Hiền Châu (2023) kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng phân tích mối quan hệ giữa các biến bằng hồi quy tuyến tính. Nghiên cứu áp dụng lý thuyết hành vi có kế hoạch của Ajzen (1991) và thang đo Likert 5 mức.