Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu bao gồm: lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu, kết cấu đề tài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nhiên cứu: trình bày cơ sở lý luận, các khái niệm có liên quan đến nghiên cứu, các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp, tổng hợp các nghiên cứu trước đây và đề xuất mô hình nghiên cứu với các giả thuyết nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu: thiết kế nghiên cứu, xây dựng thang đo các khái niệm nghiên cứu, đánh giá sơ bộ thang đo, mẫu và đám đông nghiên cứu, giới thiệu thang đo chính thức trong nghiên cứu định lượng. Chương 4: Phân tích dữ liệu nghiên cứu thông qua công cụ phân tích khẳng định nhân tố CFA và mô hình cấu trúc tuyến tính SEM.
Chương 5: Thảo luận và kiến nghị: tóm tắt những ý chính sau khi thực hiên đề tài nghiên cứu và nêu lên các đề xuất ứng dụng trong mô hình nghiên cứu. 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Một số khái niệm liên quan đến khởi nghiệp 2. Khởi nghiệp Khởi nghiệp là quá trình thiết kế, mở ra và vận hành một doanh nghiệp mới, mà thường bắt đầu như một doanh nghiệp nhỏ, cung cấp một sản phẩm, quá trình hoặc dịch vụ để bán hoặc cho thuê (Yetisen & cộng sự, 2015).
Khởi nghiệp là năng lực và sự mong muốn để phát triển, tổ chức và quản lý một công việc kinh doanh với việc chấp nhận rủi ro của nó để tạo ra lợi nhuận. Khởi nghiệp được giải thích làm thế nào và tại sao một số cá nhân (hoặc nhóm) xác định cơ hội, đánh giá tính khả thi của những cơ hội đó, và sau đó quyết định để khai thác chúng, trong khi những người khác thì không (Scott & Venkatraman, 2000). Khởi nghiệp là quá trình mà một cá nhân (hoặc nhóm) xác định một cơ hội kinh doanh; mua lại và triển khai các nguồn lực cần thiết để khai thác nó. Việc khai thác các cơ hội kinh doanh có thể bao gồm các hoạt động như phát triển một kế hoạch kinh doanh, thuê nguồn nhân lực, huy động được nguồn tài chính và nguyên vật liệu, xây dựng đội ngũ lãnh đạo, và chịu trách nhiệm cho sự thành công hay thất bại của công việc kinh doanh (Hisrich & Robert, 2011).
Khởi nghiệp chỉ những hoạt động của một cá nhân hay nhóm người hoặc tổ chức trong việc phát triển sản phẩm; thành lập một hình thức, loại hình công việc nào đó có tính chất mới mẻ, rủi ro nhưng lại có tiềm năng phát triển lớn, lợi nhuận cao. Doanh nghiệp mới sáng lập hoặc trong những giai đoạn đầu phát triển. Không có độ dài thời gian cụ thể nào để xác định khi nào thì doanh nghiệp không còn tồn tại được gọi là khởi nghiệp, trừ khi doanh nghiệp không còn coi mình là khởi nghiệp nữa. Khởi nghiệp cũng có nghĩa là bạn tạo ra giá trị có lợi cho cá nhân, cho xã hội hoặc nhóm khởi nghiệp, cho các cổ đông của công ty, cho người lao động, cho cộng 6 đồng và nhà nước.
Khởi nghiệp bằng việc thành lập doanh nghiệp sẽ tạo tăng trưởng kinh tế và dưới một góc độ nào đó sẽ tham gia vào việc phát triển kinh tế và xã hội. Lee & cộng sự (2006) cho rằng, tinh thần khởi nghiệp được chú trọng ở nhiều quốc gia và được xem là cách thức để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tạo việc làm. Sobel & King (2008) nhận định, khởi nghiệp là chìa khóa quan trọng để tăng trưởng kinh tế, chính vì vậy việc thúc đẩy giới trẻ khởi nghiệp là một trong những ưu tiên hàng đầu của các nhà hoạch định chính sách. Người khởi nghiệp Người khởi nghiệp là người tổ chức và quản lý một doanh nghiệp, với sự sáng tạo và chấp nhận rủi ro.
Thay vì làm việc như một nhân viên, một người khởi nghiệp điều hành một doanh nghiệp nhỏ và gánh vác tất cả các rủi ro và phần thưởng của việc kinh doanh. Người khởi nghiệp thường được xem như là một nhà lãnh đạo kinh doanh và là người sáng tạo những ý tưởng mới và quy trình kinh doanh. Những người khởi nghiệp có xu hướng nhận thức tốt cơ hội kinh doanh mới và họ thường thể hiện những ý kiến tích cực trong nhận thức của họ (ví dụ, một xu hướng thiên về việc tìm kiếm những khả năng mới và nhìn thấy nhu cầu thị trường chưa được đáp ứng) và một thái độ chấp nhận rủi ro khiến họ có nhiều khả năng khai thác các cơ hội hơn (Zhang & Cueto, 2015; Black & cộng sự, 2010). Một người khởi nghiệp là người kiểm soát hoạt động của một cam kết thương mại, chỉ đạo các yếu tố tài nguyên như con người, tài chính, sản xuất, nguyên vật liệu cần thiết để khai thác cơ hội kinh doanh.
Họ hành động như một nhà quản lý; giám sát việc mở mới và phát triển một doanh nghiệp (Hisrich & Robert, 2011). Ý định khởi nghiệp Ý định là yếu tố quan trọng nhất dự đoán hành vi (Ajzen & Fishbein, 1975); là nhân tố động cơ dẫn đến hành vi và được định nghĩa như là mức độ nỗ lực cá nhân để thực hiện hành vi đó (Ajzen, 1991). Ý định khởi nghiệp kinh doanh là nhân tố 7 quyết định đối với việc thực hiện hành vi đó (Ajzen, 1991). Ý định khởi nghiệp kinh doanh là nhân tố quyết định đối với việc thực hiện hành vi kinh doanh (Kolvereid, 1996); là một sự dự báo, sự sẵn sàng thực hiện hành vi kinh doanh có chủ ý của một người nào đó với mong muốn tạo ra giá trị, sản phẩm, dịch vụ đáp ứng nhu cầu xã hội (Luthje & Franke, 2000).
Gupta & Bhave (2007) xem ý định khởi nghiệp là một quá trình định hướng việc lập kế hoạch và triển khai thực hiện một kế hoạch tạo lập doanh nghiệp. Souitaris & cộng sự (2007) định nghĩa ý định khởi nghiệp là sự liên quan về ý định của một cá nhân để bắt đầu một doanh nghiệp; ý định này bắt nguồn từ việc các cá nhân nhận ra cơ hội, tận dụng các nguồn lực có sẵn và sự hỗ trợ của môi trường để tạo lập doanh nghiệp của riêng mình (Kuckertz & Wagner, 2010). Ý định khởi nghiệp được xem là yếu tố then chốt để hiểu được quá trình sáng tạo ra doanh nghiệp mới (Bird, 1988). Lý thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action - TRA) TRA (Ajzen & Fishbein, 1975) là mô hình giải thích và dự đoán ý định hành vi trong các trường hợp chấp nhận một hệ thống công nghệ thông tin.
TRA dựa trên giả định rằng con người đưa ra những quyết định hợp lí dựa trên những thông tin mà họ biết. 8 Niềm tin Thái độ Sự đánh giá Hành Ý định hành vi vi thực Niềm tin quy chuẩn sự Chuẩn chủ quan Động cơ Hình 2. Mô hình TRA Nguồn: Mô hình TRA của Ajzen & Fishbein (1975) Lý thuyết này chỉ ra rằng “ý định hành vi” là nhân tố trung tâm, là dự đoán tốt nhất của hành vi cuối cùng; nó được giả định để nắm bắt các yếu tố tạo động lực ảnh hưởng đến hành vi; là những dấu hiệu cho thấy cách mọi người chăm chỉ và cố gắng với nổ lực rất cao để thực hiện hành vi. Ý định đồng thời được xác định bởi thái độ và các quy chuẩn chủ quan.
Thái độ: cảm nhận tích cực hay tiêu cực về việc thực hiện một hành vi và có thể được quyết định bởi sự dự báo về kết quả của những hành động của họ. Chuẩn chủ quan: nhận thức của một người rằng hầu hết những người xung quanh cho rằng họ nên hoặc không nên thực hiện hành động đó. Lý thuyết hành vi dự định (The theory of planned behavior-TPB) Thái độ hướng đến hành vi Ý định Hành vi thực Chuẩn chủ quan Nhận thức kiểm soát hành vi Hình 2. Mô hình TPB Nguồn: Mô hình TPB của Ajzen (1991) Mô hình TPB khắc phục nhược điểm của lý thuyết hành động hợp lý TRA (Ajzen, 1985, 1987) bằng cách thêm vào một biến nữa là nhận thức kiểm soát hành vi.
Lý thuyết về hành vi dự định (TPB) của Ajzen (1991) đưa ra ba khái niệm độc lập ảnh hưởng đến ý định. Đầu tiên, thái độ hướng đến hành vi đề cập đến mức độ mà một người đánh giá tích cực hay tiêu cực về hành vi thực hiện. Thứ hai, chuẩn chủ quan đề cập những nhận thức về áp lực xã hội ảnh hưởng đến người có ý định để thực hiện hoặc không thực hiện hành vi. Thứ ba, nhận thức kiểm soát hành vi đề cập đến nhận thức là dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện hành vi và nó được giả định để phản ánh kinh nghiệm quá khứ cũng như dự đoán những trở ngại trong tương lai; biến này phụ thuộc vào sự sẵn có của các nguồn lực và các cơ hội để thực hiện hành vi… Mô hình TPB được xem như tối ưu hơn đối với TRA trong việc dự đoán và giải thích hành vi của người tiêu dùng trong cùng một nội dung và hoàn cảnh nghiên cứu.
Lý thuyết sự kiện khởi nghiệp (The entrepreneurial event theory- EET) Lý thuyết về sự kiện khởi nghiệp của Shapero & Sokol (1982) xem xét việc tạo ra doanh nghiệp như là kết quả của sự tương tác các yếu tố hoàn cảnh, được hình thành bởi nhóm các biến số xã hội (như các nhóm dân tộc), tình huống và cá nhân. 10 Sự kiện khởi nghiệp được bao hàm bởi sáng kiến, tổng hợp các nguồn lực, quản lý, quyền tự chủ tương đối và chấp nhận rủi ro. Yếu tố sự kiện khởi nghiệp bị ảnh hưởng bởi nhận thức sự mong muốn (hệ thống giá trị cá nhân và hệ thống xã hội tác động một phần lên cá nhân) và nhận thức tính khả thi (hỗ trợ tài chính và khả năng trở thành đối tác). Trong đó, mô hình được thể hiện trong hình 2.
Nhận thức sự mong muốn Ý định khởi nghiệp Nhận thức tính khả thi Hình 2. Mô hình sự kiện khởi nghiệp Nguồn: Mô hình EET của Shapero & Sokol (1982) Nhận thức sự mong muốn đề cập đến mức độ mà một người cảm thấy sự hấp dẫn đối với một hành vi nhất định (để trở thành một doanh nhân). Nhận thức tính khả thi là mức độ mà cá nhận tự coi mình có thể thực hiện hành vi đó. Sự hiện diện của vai trò người mẫu, cố vấn hoặc các đối tác sẽ là một yếu tố quyết định trong việc thiết lập mức độ khả thi của cá nhân.