Chương 1 đã trình bày rõ về lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu, việc đầu tiên cần làm để nâng cao, thúc đẩy tinh thần KN của sinh viên là xác định được các yếu tố ảnh hưởng và mức độ tác động của các yếu tố đó đối với YDKN của sinh viên. Do đó, tác giả chọn đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên tại trường Đại học Ngân Hàng Thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài nghiên cứu của mình. Từ đó, nêu ra các mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu cụ thể để làm rõ vấn đề nghiên cứu. Đồng thời, tác giả trình bày về phương pháp định tính và phương pháp định lượng được sử dụng trong bài.
Nêu bật được ý nghĩa đóng góp của đề tài trong khoa học và thực tiễn cũng như trình bày sơ lược nội dung chính của 5 chương được trình bày trong bài nghiên cứu. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2. TỔNG QUAN VỀ KHỞI NGHIỆP 2. Khái niệm về Khởi nghiệp kinh doanh Theo Wikipedia (2023), khởi nghiệp (tiếng Anh: startup hoặc start-up) là thuật ngữ chỉ những công ty trẻ được thành lập để phát triển một sản phẩm hoặc dịch vụ độc đáo, đưa nó ra thị trường và làm cho khách hàng không thể cưỡng lại.
Giai đoạn bắt đầu KN bao gồm tìm kiếm ý tưởng kinh doanh, nghiên cứu thị trường, lập kế hoạch, tìm nguồn vốn và triển khai các hoạt động kinh doanh. Việc một cá nhân thành lập công ty riêng để cung cấp sản phẩm, dịch vụ và hoạt động như một chuyên gia tự kinh doanh trong những hoàn cảnh khó lường được gọi là khởi nghiệp (Lý Thục Hiền, 2010). Khởi nghiệp kinh doanh (KNKD): là "việc một cá nhân (một mình hoặc cùng người khác) tận dụng cơ hội kinh doanh mới " (Nguyễn Thu Thủy, 2015). Theo Bird (1988), người có mong muốn khởi nghiệp kinh doanh là người luôn mang một thái độ làm việc nghiêm túc, luôn đề cao tính độc lập, tự chủ, ý tưởng luôn sáng tạo, đổi mới và sẵn sàng chấp nhận các rủi ro để tạo ra giá trị mới trong doanh nghiệp hiện tại.
Khởi nghiệp kinh doanh có thể được hiểu dưới hai góc độ: Khi xem xét các lựa chọn nghề nghiệp, KNKD thu hút những người sẵn sàng chấp nhận rủi ro, mạo hiểm trong việc tự kinh doanh và họ có thể thuê người khác làm việc cho mình. Làm thuê có nghĩa là cá nhân phải trở thành một phần của doanh nghiệp hoặc tổ chức và chịu sự quản lý của người chủ. Vì vậy, khởi nghiệp có thể được coi là một cách tự tạo việc làm cho mình và tự làm chủ bằng cách thành lập doanh nghiệp của riêng mình. Khi nói đến việc tạo dựng doanh nghiệp mới, KNKD đòi hỏi sự sẵn sàng chấp nhận rủi ro của một cá nhân để thành lập một doanh nghiệp mới và tự tạo việc làm với mục tiêu cuối cùng là đạt được sự giàu có.
9 Xem xét giữa việc tự tạo việc làm và tạo lập doanh nghiệp mới có sự khác biệt đôi chút. Việc tự tạo việc làm chủ yếu tập trung vào khái niệm trở thành ông chủ của chính mình và không làm việc cho người khác. Mặt khác, quan điểm thành lập doanh nghiệp bao gồm các cá nhân thành lập doanh nghiệp mới nhưng để có thể tận dụng tối đa các cơ hội thị trường và thuê người khác quản lý doanh nghiệp, cho phép họ làm việc cho các công ty khác. Bất chấp những khác biệt này, cả việc tự kinh doanh và thành lập doanh nghiệp đều đòi hỏi các cá nhân (một mình hoặc hợp tác với những người khác) nắm bắt cơ hội và thành lập doanh nghiệp mới.
Khái niệm về Ý định khởi nghiệp Ý định (intentions) là trạng thái tinh thần trong đó tác nhân cam kết thực hiện một quá trình hành động. Theo Krueger (2003), ý định là một trạng thái nhận thức, đại diện cho mức độ cam kết về hành vi cụ thể sẽ thực hiện trong tương lai. Việc có kế hoạch đi thăm sở thú vào ngày mai là một ví dụ về một ý định. Kế hoạch hành động là nội dung của ý định, còn cam kết là thái độ đối với nội dung này.
Theo Fishbein & Ajzen (1975), có bốn thành phần khác nhau cấu thành ý định: hành vi, mục tiêu, tình trạng và thời điểm mà hành vi đó đang diễn ra. Các trạng thái tinh thần khác có thể có các kế hoạch hành động như nội dung, chẳng hạn như khi chiêm ngưỡng một kế hoạch, nhưng chúng khác với ý định ở chỗ chúng không liên quan đến cam kết thực tế để thực hiện kế hoạch này. Những ý định thành công sẽ mang lại tiến trình hành động như dự định, trong khi những ý định không thành công lại không thực hiện được điều đó. Ý định, giống như nhiều trạng thái tinh thần khác, có tính chủ ý: chúng đại diện cho những trạng thái có thể xảy ra của sự việc.
Ý định khởi nghiệp được các nhà nghiên cứu định nghĩa khác nhau trong các bài nghiên cứu của họ. Krueger (1993) cho rằng ý định khởi nghiệp kinh doanh là cam kết hành vi khởi nghiệp bằng việc tạo lập doanh nghiệp mới. Liñán và Chen (2009) cho rằng "YDKN là bước đầu tiên trong quá trình thành lập công ty". "Ý định khởi nghiệp là trạng thái tâm lý cá nhân hướng đến việc hình thành, thiết lập hình thức hoạt động kinh doanh" (Bird,1998).
"YDKN được định nghĩa là ý định bắt đầu khởi 10 sự kinh doanh của một cá nhân, một trạng thái thúc đẩy cá nhân đi đến quyết định thành lập doanh nghiệp mới" (Wu & Wu, 2008; Miranda et al. Shapero và Sokol (1982) cho rằng những người có YDKN là những người không ngừng tìm kiếm và nắm bắt cơ hội kinh doanh hấp dẫn mà họ nhận biết được. Điều này cũng được Krueger và Brazeal (1994) đồng tình cho rằng khi những người có YDKN nhận thấy tín hiệu của cơ hội kinh doanh, họ sẽ là người luôn sẵn sàng chấp nhận rủi ro và tiến hành thiết lập các hoạt động kinh doanh để tạo ra giá trị mới cho doanh nghiệp. Tóm lại, YDKN có thể hiểu là mong muốn, dự định và cam kết của một người về việc khởi sự kinh doanh bằng cách lập công ty riêng trong tương lai.
Khái niệm về Doanh nhân khởi nghiệp Theo Wikipedia (2023), “Doanh nhân là người giải quyết các vấn đề cho người khác để kiếm lợi nhuận”. Ở Việt Nam, doanh nhân là một từ được các phương tiện truyền thông sử dụng để xác định một tầng lớp gắn với thành phần kinh tế tư nhân và chủ nghĩa tư bản xuất hiện từ sau những năm 1990. Họ có một nền tảng kinh tế thành đạt và có những cống hiến nhất định cho xã hội. Theo Ngọc Thúy (2022), doanh nhân là những người tự chủ, thiếp lập hoạt động kinh doanh với mục đích chính là tìm kiếm lợi nhuận thông qua việc cung cấp các sản phẩm và dịch vụ đến khách hàng của mình.
Doanh nhân khởi nghiệp là người phải chịu những rủi ro khi thực hiện một công việc kinh doanh mới. Theo Bird (1988), DNKN là người đứng đầu doanh nghiệp, luôn chủ động, sáng tạo, đối mặt với sự thay đổi, rủi ro của nền kinh tế trong việc tạo dựng và tìm ra hướng đi đúng đắn cho công việc kinh doanh của mình. Bên cạnh đó, Đỗ Minh Cương (2009) có nói rằng DNKN là những người khởi nghiệp kinh doanh dám chấp nhận mạo hiểm, đối mặt với rủi ro và chèo lái con thuyền doanh nghiệp trên biển lớn nền kinh tế với rất nhiều đối thủ. Tóm lại, DNKN là người luôn biết cách tìm kếm và nắm bắt những cơ hội để thành lập doanh nghiệp riêng cho chính mình.
Họ là những người năng động, dám nghĩ dám làm, có trách nhiệm chịu những rủi ro cũng như về những thành tựu đạt được khi thực hiện một công việc kinh doanh mới. Rất nhiều doanh nhân khởi nghiệp có hiểu biết 11 về kĩ thuật để sản xuất những hàng hóa có thể bán được hay thiết kế những dịch vụ mới cần thiết. Theo các nhà nghiên cứu, khởi nghiệp không phải là ngẫu nhiên mà đều có sự chuẩn bị từ trước. Các cá nhân có tố chất để bắt đầu khởi nghiệp chưa chắc sẽ nhận được thành công hơn so với những cá nhân vừa có tố chất vừa có sự chuẩn bị.
Bên cạnh đó, việc khởi nghiệp còn phụ thuộc vào các yếu tố bên trong và bên ngoài. Với những yếu tố, đặc điểm và tố chất ảnh hưởng xung quanh thì sẽ có những tiềm năng khởi nghiệp khác nhau. Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ giải thích một phần tiềm năng khởi nghiệp. Vai trò của khởi nghiệp 2.
Đối với cá nhân Nâng cao khả năng nhận thức: khởi nghiệp giúp cá nhân biết được những giá trị sống, mục tiêu mà bản thân mong muốn theo đuổi, thôi thúc nhận thức, tiếp thu những cái mới để đặt ra những dự định khởi nghiệp trong tương lai. Cải thiện sự tập trung: Cùng với quá trình nhận thức về bản thân, cá nhân sẽ có ý thức hơn về việc sắp xếp các kế hoạch, dự định. Cùng với đó sẽ tập trung xác định nhiệm vụ nào mang lại kết quả cao nhất và tiến hành thực hiện nó. Khả năng xử lí vấn đề: Khi bắt đầu hoặc đang trong quá trình khởi nghiệp không khó tránh khỏi những khó khăn.
Nhờ khởi nghiệp cá nhân sẽ biết tìm cách xử lí vấn đề, nâng cao sự tự tin, khả năng phục hồi và các kĩ năng giao tiếp khác để thích ứng với mọi tình huống. Đối với kinh tế - xã hội Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế: Khi một doanh nghiệp khởi nghiệp thành công, họ không chỉ tạo ra lợi nhuận lớn mà dần dần còn mở rộng quy mô hoạt động doanh nghiệp nhiều hơn và trở thành các tập đoàn xuyên quốc gia đóng góp vào tăng trưởng của nền kinh tế. Giải quyết lượng lớn việc làm: Khởi nghiệp có thể trở thành một nguồn quan trọng của GDP khi chúng phát triển thành doanh nghiệp lớn. Với số lượng doanh nghiệp 12 khởi nghiệp lớn giúp số lượng lớn lao động có việc làm, từ đó giảm thiểu tình trạng thất nghiệp.
Huy động được các nguồn lực xã hội: việc đầu tiên các cá nhân thực hiện khi khởi nghiệp là từ nguồn vốn của gia đình và bạn bè thì với số lượng DNKN lớn sẽ giúp huy động lượng vốn tồn tại trong khu dân cư. Nếu có cơ chế phù hợp thì các nguồn lực của nền kinh tế sẽ được khai thác để tạo ra của cải vật chất và đem lại lợi nhuận cho cá nhân, gia đình, doanh nghiệp và xã hội.