lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, lời cảm ơn, tóm tắt nghiên cứu và danh mục bảng biểu và chữ viết tắt, bài Luận văn đƣợc bố cục thành ba chƣơng: Chƣơng 1: Một số vấn đề cơ bản về năng lực cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Logistics Chƣơng 2: Thực trạng vềNăng lực cạnh tranh của Công ty Công ty Bee Logistics Việt Nam Chƣơng 3: Đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Bee Logistics Việt Nam n 6 CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP LOGISTICS 1.1 Khái niệm năng lực cạnh tranh 1.1 Khái niệm cạnh tranh Khái niệm về cạnh tranh có nguồn gốc từ tiếng Latin – competere, đƣợc hiểu là hành động đua tranh giữa các chủ thể trong xã hội với nhau để giành lấy một yếu tố hoặc một thành quả nào đó. Theo đó, các quan điểm về cạnh tranh ra đời với các góc nhìn và đánh giá khác nhau: Theo quan điểm Triết học: “Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tƣ bản nhằm giành giật các điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu đƣợc lợi nhuận siêu ngạch” (Mác, 2011) Theo quan điểm của Kinh tế học: “Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng hoặc thị trƣờng” (Samuelson và Nordhaus, 1995) “Cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hƣớng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi (Porter, 1998) “Cạnh tranh là khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia và các vùng trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế” (OECD, 2008) “Cạnh tranh là một quan hệ kinh tế, tất yếu phát sinh trong cơ chế thị trƣờng với việc các chủ thể kinh tế ganh đua gay gắt để giành giật những điều kiện có lợi về sản xuất và tiêu thụ hàng hóa nhằm chiếm lĩnh thị trƣờng, giành lấy khách hàng để thu đƣợc lợi nhuận cao nhất.
Mục đích cuối cùng trong cuộc cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích đối với doanh nghiệp và đối với ngƣời tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi” (Đặng Đức Thành, 2010) Nhìn chung, từ các quan điểm trên về cạnh tranh, có thể thấy, cạnh tranh là một quan hệ kinh tế tất yếu, phát sinh trong cơ chế thị trƣờng với sự tranh đua giữa các chủ n 7 thể kinh tế thông qua các hành động, nỗ lực và biện pháp, để giành lấy các lợi thế về điều kiện sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, nhằm chiếm lĩnh thị trƣờng và giành lấy khách hàng, qua đó giành lấy thị phần và tối đa hóa lợi ích doanh nghiệp và lợi ích tiêu dùng.2 Khái niệm về năng lực cạnh tranh Song song cùng với khái niệm cạnh tranh, khái niệm năng lực cạnh tranh ra đời nhằm cụ thể hóa các yếu tố các doanh nghiệp có thể sử dụng trong cạnh tranh để chiếm ƣu thế trên thị trƣờng: “Đối với doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh là khả năng sản xuất đúng sản phẩm, xác định đúng giá cả và vào đúng thời điểm. Điều đó có nghĩa là đáp ứng nhu cầu khách hàng với hiệu suất và hiệu quả hơn các doanh nghiệp khác” (Bộ Thương mại và công nghiệp Anh, 1998) “Doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh là doanh nghiệp có thểsản xuất sản phẩm và dịch vụ với chất lƣợng vƣợt trội và giá cả thấp hơn các đối thủkhác trong nƣớc và quốc tế. Khả năng cạnh tranh đồng nghĩa với việc đạt đƣợc lợi ích lâu dài của doanh nghiệp và khả năng bảo đảm thu nhập cho ngƣời lao động và chủ doanh nghiệp” (Garelli, 2005) “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất và chất lƣợng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững” (Trần Sửu, 2005). “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đƣợc đo bằng khả năng duy trì và mở rộng thị trƣờng, thu lợi nhuận cho doanh nghiệp trong môi trƣờng cạnh tranh trong nƣớc và ngoài nƣớc” (Lê Đăng Doanh, 2015) Từ các khái niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, có thể thấy rằng, khi doanh nghiệp hoạt động trên thị trƣờng, doanh nghiệp có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh, chiếm lĩnh và mở rộng thị trƣờng thông qua các ƣu thế về giá cả hoặc sự khác biệt hóa về sản phẩm so với các đối thủ cạnh tranh chính của doanh nghiệp để đạt các mục tiêu và lợi ích dài hạn cho doanh nghiệp.3 Các mô hình cạnh tranh n 8 Trong cạnh tranh hiện đại, có nhiều mô hình cạnh tranh mà từ đó doanh nghiệp có thể áp dụng để phân tích các yếu tố trên thị trƣờng và đƣa ra các giải pháp về cạnh tranh hiệu quả.1 Mô hình năm lực lượng cạnh tranh Mô hình “Năm lực lƣợng cạnh tranh” của Micheal Porter (Porter’s Five Forces) đƣợc xuất bản lần đầu trên tạp chí Harvard Business Review năm 1979.Mô hình năm lực cạnh tranh của Porter là một công cụ phân tích sử dụng năm lực cạnh tranh để quyết định khả năng sinh lợi của một ngành và định hình chiến lƣợc cạnh tranh của công ty.1 dƣới đây thể hiện mô hình năm lực lƣợng cạnh tranh của Michael Porter: CÁC ĐỐI THỦ TIỀM NĂNG Nguy cơ đe dọa từ những ngƣời mới vào Quyền lực Quyền lực thƣơng ĐỐI THỦ CẠNH TRANH thƣơng lƣợng TRONG NGÀNH lƣợng NHÀ CUNG KHÁCH CẤP HÀNG của nhà của khách cung ứng hàng Cuộc cạnh tranh giữa các đối thủ hiện tại Nguy cơ đe dọa từ các sản phẩm và dịch vụ thay thế SẢN PHẨM THAY THẾ Hình 1.1 Mô hình năm lực lƣợng cạnh tranh của Michael Porter Nguồn: Porter, 1979 Theo M.
Porter, trong mô hình năm lực lƣợng cạnh tranh của ông: n 9 Sức ép của khách hàng: luôn biến đổi, khách hàng có quyền thƣơng lƣợng và tạo áp lực lên doanh nghiệp khi chuyển sang mua hàng haysử dụng dịch vụ của doanh nghiệp khác với giá thấp hơn, chất lƣợng cao hơn và các dịch vụ kèm theo tốt hơn. Đồng thời, khách hàng mua hàng số lƣợng lớn hoặc sử dụng dịch vụ trong một thời gian dài có thể đòi đảm bảo đủ cung, khuyến mại, giảm giá. Sức ép từ các nhà cung cấp: đƣợc tạo ra khi sản phẩm hay dịch vụ của nhà cung cấp có ít sản phẩm thay thế, hay đóng một vai trò quan trọng và cần thiết đối với doanh nghiệp, sản phẩm/dịch vụ của nhà cung cấp có sự khác biệt so với sản phẩm/dịch vụ của các nhà cung cấp khác, chi phí để khách hàng chuyển đổi nhà cung cấp là cao, vàcó rất ít nhà cung cấp tƣơng tự có thể cung cấp hàng hóa/dịch vụ đó. Rào cản để các đối thủ tiềm ẩn gia nhập ngành: yêu cầu về vốn đầu tƣ ban đầu cao, yêu cầu có sự khác biệt về sản phẩm/dịch vụ, chính sách của chính phủ về việc gia nhập ngành, sự trung thành của khách hàng đối với các sản phẩm/dịch vụ hiện tại, chi phí chuyển đổi nhà cung cấp cao, trong ngành tồn tại lợi thế kinh tế theo qui mô, các doanh nghiệp trong ngành có lợi thế tuyệt đối về chi phí là các loại rào cản mà các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn có thể phải đối mặt khi gia nhập ngành.
Căn cứ theo nguồn của rào cản có sáu loại rào cản là lợi thế kinh tế theo quy mô, sự khác biệt về sản phẩm/dịch vụ, khả năng tiếp cận kênh phân phối, vốn đầu tƣ ban đầu, chi phí chuyển đổi, các bất lợi về chi phí khác. Căn cứ vào đặc điểm của rào cản có rào cản về tài chính, công nghệ, thƣơng mại và các rào cản khác. Mức độ cạnh tranh của các đối thủ cạnh tranh hiện tại trong ngành: dựa theo cấu trúc cạnh tranh của ngành (số lƣợng doanh nghiệp và qui mô của các doanh nghiệp), đặc điểm sản phẩm không có sự khác biệt, tốc độ tăng trƣởng ngành và nhu cầu thấp, năng lực cạnh tranh trong ngành, chi phí cố định và lƣu kho, rào cản rút lui khỏi ngành. Nguy cơ từ các sản phẩm, dịch vụ thay thế: sản phẩm, dịch vụ thay thế có giá thấp hơn, chất lƣợng tốt hơn, đƣợc bán kèm theo các điều kiện hậu mãi tốt.
n 10 Phân tích năm lực lƣợng cạnh tranh từ Sức ép từ các nhà cung cấp, sức ép từ khách hàng, mức độ cạnh tranh của các đối thủ cạnh tranh hiện tại trong ngành, rào cản để các đối thủ tiềm ẩn gia nhập ngành, nguy cơ từ các sản phẩm, dịch vụ thay thế giúp doanh nghiệp đánh giá đƣợc về năng lực cạnh tranh của mình, làm cơ sở để xác định lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh. Doanh nghiệp nắm bắt đƣợc nhu cầu của khách hàng và đối phó đƣợc với sức ép từ nhà cung cấp sẽ có những lợi thế về cung đầu vào và cầu đầu ra trên thị trƣờng. Đồng thời phân tích chỉ tiêu cạnh tranh trong ngành của các đối thủ cạnh tranh hiện tại nhƣ thị phần, hiệu quả sản xuất kinh doanh, chất lƣợng sản phẩm dịch vụ cung cấp, chất lƣợng nguồn lực và các giá trị vô hình của doanh nghiệp giúp doanh nghiệp đánh giá đƣợc một cách chính xác vị trí của mình trong môi trƣờng cạnh tranh. Rào cản gia nhập ngành cao sẽ hạn chế sự thâm nhập của các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn, ngƣợc lại rào cản gia nhập ngành thấp sẽ làm gia tăng mức độ cạnh tranh trong ngành, qua đó ảnh hƣởng trực tiếp đến việc triển khai chiến lƣợc cạnh tranh của doanh nghiệp.2 Mô hình phân tích tổng hợp các yếu tố của môi trường bên ngoài và bên trong doanh nghiệp (SWOT) Mô hình phân tích SWOT là một công cụ rất hữu dụng cho việc nắm bắt và ra quyết định trong mọi tình huống đối với bất cứ tổ chức kinh doanh nào.
Viết tắt của 4 chữ Strengths (điểm mạnh), Weaknesses (điểm yếu), Opportunities (cơ hội) và Threats (nguy cơ), SWOT cung cấp một công cụ phân tích chiến lƣợc, rà soát và đánh giá vị trí, định hƣớng của một doanh nghiệp. SWOT đƣợc sử dụng trong việc lập kế hoạch kinh doanh, xây dựng chiến lƣợc, đánh giá đối thủ cạnh tranh, tiếp thị, phát triển sản phẩm và dịch vụ.