Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về giáo dục khởi nghiệp và ý định khởi nghiệp Chương 2: N ghiên cứu tác động của giáo dục khởi nghiệp đến ý định khởi nghiệp của sinh viên trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế Chương 3: Hàm ý quản trị nhằm phát triển giáo dục khởi nghiệp và thúc đN y ý định khởi nghiệp tại trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế 9 PHẦ 2 ỘI DU G GHIÊ CỨU CHƯƠ G 1: CƠ SỞ LÝ LUẬ VÀ THỰC TIỄ VỀ GIÁO DỤC KHỞI GHIỆP VÀ Ý ĐN H KHỞI GHIỆP 1. Giáo dục khởi nghiệp Hiểu một cách đời thường thì khởi nghiệp chính là bắt đầu một sự nghiệp, đó có thể là làm chủ hoặc làm thuê cho người khác. Theo góc nhìn doanh nhân, khởi nghiệp được dịch ra từ thuật ngữ startup, tức là đề cập đến một giai đoạn phát triển của doanh nghiệp, một hình thức doanh nghiệp mà ở đó có khả năng tăng trưởng nhanh trong tương lai. Một góc nhìn khác được nhiều chuyên gia thừa nhận thì khởi nghiệp nên được tiếp cận theo thuật ngữ entreprneurial, tức là tinh thần doanh nhân.
Theo góc nhìn này, khởi nghiệp nghĩa là giải quyết vấn đề của xã hội, của khách hàng. Khởi nghiệp lúc này sẽ đồng nghĩa với tạo giá trị và giải quyết vấn đề. Trong nghiên cứu này, khởi nghiệp được hiểu theo nghĩa tạo giá trị và giải quyết vấn đề của khách hàng và của xã hội. Theo định nghĩa của Alexandria Valerio, Brent Parton, and Alicia Robb trong báo cáo Các chương trình giáo dục và đào tạo khởi nghiệp trên thế giới (Entrepreneurship Education and Training Programs around the World) năm 2014 của N gân hàng Thế giới, thì: "Giáo dục khởi nghiệp là giáo dục nhằm chia sẻ mục tiêu lớn là cung cấp cho các cá nhân kiến thức, tư duy và kỹ năng khởi nghiệp để hỗ trợ sự tham gia và thực hiện các hoạt động khởi nghiệp [12, 3]".
Các chương trình giáo dục và đào tạo khởi nghiệp được phân thành hai loại: chương trình giáo dục khởi nghiệp và chương trình đào tạo khởi nghiệp. Điểm 10 chung của cả hai chương trình trên là kích thích tinh thần khởi nghiệp nhưng khác nhau ở mục tiêu hoặc kết quả của chương trình. Các chương trình giáo dục khởi nghiệp có xu hướng tập trung trang bị kiến thức, kỹ năng và tư duy cho mục đích khởi nghiệp, và thường hướng đến đối tượng học sinh trung học và sinh viên đại học. Trong khi đó, chương trình đào tạo khởi nghiệp tập trung vào xây dựng kiến thức và kỹ năng để khởi sự kinh doanh, và thường dành cho những cá nhân khởi nghiệp tiềm năng và chủ doanh nghiệp.
Trong một nghiên cứu của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) về “Khởi nghiệp và Giáo dục đại học” (2008), các nhà nghiên cứu cho rằng giáo dục và đào tạo khởi nghiệp là tất cả các hoạt động nhằm thúc đN y tư duy, thái độ và kỹ năng khởi nghiệp và bao gồm nhiều khía cạnh khác nhau từ việc tạo ra ý tưởng khởi nghiệp, đến tăng trưởng và đổi mới sáng tạo. N ó liên quan đến việc phát triển những phN m chất cá nhân nhất định, và không nhất thiết phải trực tiếp tập trung vào việc tạo ra các doanh nghiệp mới. Do đó, mục tiêu giáo dục khởi nghiệp bao gồm: Phát triển các phN m chất cá nhân có liên quan đến khởi nghiệp, chẳng hạn như sáng tạo, tinh thần chủ động, mạo hiểm và trách nhiệm. N goài ra, còn giúp cho sinh viên nhận thức được khởi nghiệp như một lựa chọn nghề nghiệp, tức là sinh viên sau khi tốt nghiệp đại học, họ có thể đi làm thuê ở công ty người khác, hoặc tự khởi sự kinh doanh để làm chủ.
Tương tự, Trung tâm lãnh đạo khởi nghiệp Kauffman (The Kauffman Center for Entrepreneurship Leadership) của Mỹ lại cho rằng: Giáo dục và đào tạo khởi nghiệp là quá trình cung cấp cho cá nhân những khái niệm và kỹ năng để nhận ra những cơ hội mà những người khác đã bỏ qua, và để có cái nhìn sâu sắc và lòng tự trọng để hành động khi những người khác đã do dự. Giáo dục và đào tạo khởi nghiệp bao gồm hướng dẫn về nhận thức cơ hội, năm bắt nguồn lực khi đối mặt với rủi ro và bắt đầu khởi sự kinh doanh. N ó cũng bao gồm hướng dẫn các quy trình quản lý kinh doanh như lập kế hoạch kinh doanh, phát triển vốn, marketing và phân tích dòng tiền. 11 Tóm lại, có nhiều quan điểm khác nhau khi đề cập đến giáo dục khởi nghiệp, tuy nhiên nhiều nhà nghiên cứu cho rằng có 03 nội dung chính của giáo dục khởi nghiệp là: phương pháp dạy học, sự hỗ trợ của giảng viên và các hoạt động ngoại khóa liên quan đến kinh doanh và khởi nghiệp tại nhà trường.
Phương pháp dạy học Hiểu một cách chung nhất, phương pháp là cách thức, con đường, phương tiện để đạt tới mục đích nhất định, giải quyết nhiệm vụ nhất định trong nhận thức và thực tiễn. Với hoạt động giảng dạy đại học, phương pháp dạy học là tổng hợp các cách thức hoạt động tương tác được điều chỉnh của giảng viên và sinh viên nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ và mục tiêu dạy học. Trong hoạt động dạy học, cần kết hợp nhiều phương pháp khác nhau tùy bối cảnh, ngành học, mục tiêu và điều kiện của trường đại học. Một số phương pháp dạy học điển hình đang được áp dụng ở các trường đại học hiện nay như: Phương pháp diễn giảng: Phương pháp diễn giảng là phương pháp giảng viên sử dụng lời nói sinh động cùng với các phương tiện kỹ thuật thông tin, nghe - nhìn như: Bảng - phấn, văn bản in, máy tính… để trình bày tài liệu học tập một cách có hệ thống trong những khoảng thời gian nhất định.
Qua phương pháp diễn giảng, giảng viên cung cấp cho người học những tri thức được cấu trúc theo luật liên kết có sẵn nhằm đạt được mục tiêu dạy học đã được hoạch định. N gười học tiếp nhận tri thức đã được giảng viên truyền tải và tái hiện sau khi lĩnh hội. Phương pháp dạy học luyện tập và thực hành: Phương pháp dạy học luyện tập và thực hành là phương pháp củng cố, bổ sung, làm vững chắc thêm kiến thức lý thuyết qua việc giảng viên thường xuyên nhấn mạnh, lặp lại các kiến thức trọng tâm, yêu cầu sinh viên luyện tập và thực hành dưới sự hướng dẫn của giảng viên. Phương pháp dạy học chủ động (Active teaching) là phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học.
"Chủ động" trong phương pháp dạy học chủ động được dùng với nghĩa là hoạt động, tích cực, trái 12 nghĩa với bị động, thụ động. Phương pháp dạy học chủ động hướng tới việc chủ động hóa hoạt động nhận thức của người học, tập trung vào phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học. Một số phương pháp dạy học chủ động được áp dụng phổ biến hiện nay tại các trường đại học như: - Phương pháp đàm thoại: Phương pháp đàm thoại là phương pháp dạy học phổ biến, theo đó giảng viên đặt ra hệ thống các câu hỏi và dẫn dắt cho sinh viên trả lời, đồng thời giảng viên cũng có thể thực hiện các cuộc trao đổi qua lại giữa sinh viên - sinh viên, qua đó sinh viên lĩnh hội được tri thức mới. Qua phương pháp đàm thoại, giảng viên dẫn dắt sinh viên tự phát hiện ra được những tri thức mình chưa biết và tự đi đến cái cần biết.
Với phương pháp đàm thoại, sinh viên không còn học thụ động, bị động nghe giảng viên truyền đạt kiến thức mà học tích cực bằng hành động của chính mình, tự bản thân sinh viên sẽ chủ động khám phá, phát hiện được tri thức mới. - Phương pháp suy nghĩ - từng cặp - chia sẻ (think - pair – share): Là phương pháp học tập tích cực trên lớp học, theo đó giảng viên sẽ cung cấp tài liệu để tất cả sinh viên cùng suy nghĩ về một chủ đề. Ban đầu mỗi sinh viên tự tìm câu trả lời cho chủ đề mà giảng viên đã đặt ra, sau đó thảo luận cùng một sinh viên khác theo từng cặp và cuối cùng sẽ chia sẻ, thảo luận cùng với cả lớp. Phương pháp này khuyến khích sinh viên thể hiện suy nghĩ, trình bày những kiến thức của họ trước lớp; đồng thời sẽ nhanh chóng nhận được phản hồi về kiến thức, hiểu biết bởi các thành viên khác và giảng viên trong lớp học để từ đó chủ động tiếp thu được tri thức mới.
- Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề: Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề là phương pháp dạy học được thực hiện bởi giảng viên sẽ nêu ra vấn đề học tập, tạo tình huống có vấn đề, tổ chức, hướng dẫn, dẫn dắt sinh viên chủ động, tự lực tìm tòi cách giải quyết vấn đề, qua đó sinh viên 13 tự lĩnh hội tri thức mới, phát triển năng lực tư duy sáng tạo và năng lực giải quyết vấn đề. - Phương pháp dạy học theo nhóm: Phương pháp dạy học theo nhóm là phương pháp dạy học trong đó giảng viên tổ chức, chia sinh viên thành từng nhóm học tập nhỏ để sinh viên cùng thảo luận, trao đổi ý kiến, giải quyết vấn đề học tập được đặt ra dưới sự tổ chức, dẫn dắt, hướng dẫn của giảng viên. Với phương pháp dạy học theo nhóm, sinh viên sẽ không thụ động lĩnh hội tri thức mà học tích cực bằng hành động của chính mình, tự mình tìm ra tri thức và cách thức tìm ra tri thức. Sinh viên sẽ chủ động hợp tác với bạn, với giảng viên, tự khám phá, phát hiện tri thức mới… qua đó, tính tích cực, chủ động của sinh viên được duy trì và phát huy trong suốt tiến trình học tập theo nhóm.
- Phương pháp dạy học theo dự án: Phương pháp dạy học theo dự án được hiểu là phương pháp dạy học mà giảng viên tổ chức cho sinh viên tự lực nghiên cứu và vận dụng kiến thức để giải quyết bài tập tình huống có gắn liền với thực tiễn, với nghề nghiệp tương lai của sinh viên - dự án. Qua quá trình giải quyết các vấn đề theo tình huống thực tiễn, nghề nghiệp đã được giảng viên đặt ra, sinh viên sẽ lĩnh hội được tri thức mới, hình thành, phát triển năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết các vấn đề thực tiễn và nghề nghiệp. - Phương pháp đóng vai: Phương pháp đóng vai là phương pháp dạy học mà giảng viên sẽ phân công sinh viên vào các vai tương ứng trong những tình huống, kịch bản mô phỏng thực tế hoặc thực tế nhằm đạt được mục tiêu dạy học đã được hoạch định.