Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu được trình bày bao gồm các khía cạnh như lý do lựa chọn đề tài, mục tiêu của nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu được áp dụng, cũng như ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài. Ngoài ra, bố cục chương này cũng được giới thiệu để làm rõ cấu trúc và hướng đi của đề tài. Chương 2: Phần cơ sở lý thuyết của đề tài nghiên cứu tập trung vào tổng hợp, hệ thống hóa các lý thuyết cơ bản và các khái niệm liên quan đến nghiên cứu. Chương này sẽ trình bày mô hình nghiên cứu và các giả thuyết được xác định và áp dụng cho SVTH: Phạm Thị Ngọc Yến 7 Báo cáo thực tập GVHD: ThS.
Trương Ngọc Anh Vũ nghiên cứu, đồng thời giải thích các khái niệm có liên quan đến đề tài, các nghiên cứu trước đây có liên quan, và đề xuất một mô hình nghiên cứu mới. Chương 3: Chương này sẽ trình bày tổng quan về quy trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Ngoài ra, chương cũng sẽ cung cấp một mô tả chi tiết về các phương pháp nghiên cứu, thiết kế thang đo cho bảng câu hỏi và quy trình mã hóa thang đo để hỗ trợ xử lý dữ liệu. Các nội dung trong chương này sẽ bao gồm cả phương pháp chọn mẫu, xác định mẫu, công cụ thu thập dữ liệu, và quy trình thu thập thông tin thông qua bảng câu hỏi.
Chương 4: Chương này sẽ trình bày kết quả của nghiên cứu, tập trung vào quá trình phân tích và xử lý dữ liệu thu thập từ bảng câu hỏi khảo sát, sử dụng các công cụ như SPSS và SmartPLS. Nội dung chương bao gồm diễn giải kết quả của quá trình phân tích số liệu, bao gồm kiểm định độ tin cậy của thang đo, kết quả thống kê mô tả về mẫu khảo sát, phân tích nhân tố khám phá (EFA), và phân tích hồi quy. Chương 5: Dựa trên những kết quả thu được từ nghiên cứu, chúng tôi sẽ rút ra một số kết luận và đề cập đến những hạn chế của đề tài. Đồng thời, chúng tôi cũng sẽ thực hiện một đánh giá kỹ lưỡng về các hạn chế của nghiên cứu.
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT - MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT Chương 2 được thiết kế để giới thiệu các lý thuyết liên quan đến khái niệm doanh nhân xã hội, cũng như khám phá các yếu tố gắn liền với ý định trở thành doanh nhân xã hội. Chương 2 bao gồm cơ sở lý thuyết và các khái niệm liên quan, đồng thời điểm qua các nghiên cứu thực nghiệm trước đó có liên quan để đề xuất những giả thuyết và mô hình nghiên cứu mới cho đề tài. CÁC KHÁI NIỆM NỀN TẢNG 2. Doanh nhân thương mại SVTH: Phạm Thị Ngọc Yến 8 Báo cáo thực tập GVHD: ThS.
Trương Ngọc Anh Vũ Một trong những tuyên bố sớm nhất của Adam Smith vào năm 1776, doanh nhân là một tác nhân kinh tế biến cầu thành cung. Schumpeter (1965) định nghĩa “doanh nhân là những cá nhân khai thác cơ hội thị trường thông qua đổi mới kỹ thuật và/hoặc tổ chức”. Hisrich (1990) định nghĩa rằng một doanh nhân được đặc trưng là “người thể hiện sự chủ động và tư duy sáng tạo, có khả năng tổ chức các cơ chế kinh tế và xã hội để biến các nguồn lực và tình huống thành tài khoản thực tế và chấp nhận rủi ro và thất bại”. Tinh thần kinh doanh là một yếu tố ngày càng quan trọng đối với kinh tế, xu hướng toàn cầu hóa, vấn đề việc làm (Tracey và Phillips, 2011; Shinnar et al.
Bản chất của tinh thần kinh doanh là có những ý tưởng khác nhau về thế giới xung quanh họ (Casson, 1982). Một người bắt đầu một công việc kinh doanh mới được biết đến như một doanh nhân và xem đó là một sự lựa chọn nghề nghiệp (Liguori và cộng sự, 2020). Họ là người tạo ra giá trị có thể mang lại lợi ích và đồng thời phải đối mặt với các rủi ro về tài chính, xã hội và tâm lý trong khi hướng tới một phần thưởng cụ thể, được thể hiện trong hình thức thỏa mãn và độc lập về kinh tế và xã hội (Hisrich 2014). Doanh nhân là người khởi xướng, tổ chức và quản trị, đứng trước thực tế chấp nhận rủi ro, hạn chế và thách thức để biến nó thành cơ hội, nhằm mục đích tạo ra kết quả và lợi nhuận thuận lợi (Drucker, 2014).
Một số các nghiên cứu ta có thể thấy doanh nhân thường có đặc điểm như một nhà đổi mới, luôn sáng tạo và chấp nhận rủi ro để đạt được mục tiêu mà họ đề ra và mang về lợi ích chụng về lợi nhuận. Doanh nhân xã hội Mặc dù khái niệm doanh nhân xã hội đã phổ biến hơn trong những thập kỷ gần đây nhưng nó có những ý nghĩa khác nhau đối với những người khác nhau. Doanh nhân xã hội là những người rất sáng tạo. Giống như các doanh nhân khác, họ thích cạnh tranh và học hỏi từ những sai lầm của mình cũng như của người khác, họ không tránh né rủi ro hoặc chịu khuất phục trước các yếu tố môi trường có thể quyết định thành công hay thất bại (Steinerowski và cộng sự 2008).
Các doanh nhân xã hội có niềm tin mạnh mẽ về các vấn đề xã hội. Họ có những ý tưởng lâu đời và thực tế về cách thay đổi và cải thiện thế giới. Quan điểm thực tế này, cùng với một loạt các giá SVTH: Phạm Thị Ngọc Yến 9 Báo cáo thực tập GVHD: ThS. Trương Ngọc Anh Vũ trị và xu hướng cảm xúc, dẫn tới việc tạo ra những thay đổi tích cực trên thế giới (Waddock 2009).
Các doanh nhân xã hội thường được xác định bởi các đặc điểm như động lực bên trong, sự quyết tâm và niềm đam mê thực hiện các công việc mà họ tin tưởng (Neck et al. Mặc dù họ làm việc nhiều giờ nhưng động cơ của các doanh nhân xã hội không chỉ đơn thuần là lợi ích vật chất. Các doanh nhân xã hội quan tâm đến ảnh hưởng của hoạt động của họ đối với người khác. Ngoài ra, trong quá trình phát triển kinh doanh, họ xem xét tác động mà chúng đang gây ra đối với các nhóm nhỏ hơn khác.
Họ tiếp tục làm việc trong những môi trường xa lạ và chấp nhận mọi rủi ro để đáp ứng nhu cầu của xã hội (Steinerowski và cộng sự 2008). Doanh nhân xã hội là những người thực hiện sứ mệnh tạo ra và duy trì giá trị xã hội bằng các giải pháp sáng tạo cho các vấn đề xã hội khác nhau mà có thể đã bị lãng quên (Short, Moss, và Lumpkin 2009). Doanh nhân xã hội là những người khởi nghiệp với định hướng tạo ra giá trị có cộng đồng, phục vụ xã hội, tận dụng mọi nguồn lực để duy trì và phát triển một xã hội bền vững. Doanh nhân xã hội đã được đặc trưng như một quá trình mà các cá nhân bắt đầu các tổ chức mới với mục đích tạo ra giá trị xã hội (Austin et al.
Phân biệt doanh nhân thương mại và doanh nhân xã hội Một số nhà nghiên cứu đã lập luận rằng có sự khác biệt giữa doanh nhân thương mại và doanh nhân xã hội về động cơ, cơ hội và kết quả. Theo các tài liệu, các doanh nhân xã hội chủ yếu được thúc đẩy bởi mong muốn thay đổi xã hội mạnh mẽ, bởi sự khó chịu với hiện trạng, bởi tình cảm vị tha và bởi nhu cầu có trách nhiệm với xã hội (Bornstein, 1998). Doanh nhân xã hội và doanh nhân thương mại đều là những người xuất phát từ ý định kinh doanh nhằm tạo ra giá trị cho bản thân và xã hội (Hassan và cộng sự, 2021). Doanh nhân xã hội khác biệt rõ rệt với doanh nhân thương mại (Dorado, 2006; Thompson và Doherty, 2006; Zahra và cộng sự, 2009; Góc và Hồ, 2010; Gras và Lumpkin, 2012).
Vì họ đầu tư vào niềm tin, đạo đức và tạo ra lợi ích chung cho xã hội (Austin, Ste venson, và Wei- Skillern, 2006; Zahra và cộng sự, 2009; Miller và Wesley II, 2010). Người ta xác định rằng hành động trở thành một doanh nhân tạo thành một chuỗi các hành vi SVTH: Phạm Thị Ngọc Yến 10 Báo cáo thực tập GVHD: ThS. Trương Ngọc Anh Vũ (yếu tố cá nhân) và bối cảnh (yếu tố xã hội và môi trường) biến một cá nhân có tiềm năng thành một doanh nhân (Remeikiene và cộng sự, 2013; Galindo và Méndez- Picazo, 2013). Qua đó, ta có thể thấy việc trở thành doanh nhân được hình thành tự sự tác động từ nội tố và ngoại tố của một cá nhân.
Mặc dù đều xuất phát tự ý định kinh doanh tuy nhiên mục đích hướng đến của hai loại hình doanh nhân lại khác nhau. Doanh nhân xã hội ra đời nhằm giải quyết các vấn đề cấp bách và nghiêm trọng đang tồn tại trong xã hội (Zahra, Ireland, và Hitt 2000; Zahra và cộng sự 2008, 2009). Bên cạnh đó, bản chất của doanh nhân xã hội là họ có động lực nằm ở sứ mệnh tạo ra giá trị xã hội và duy trì nó, mục đích mong muốn dành cho những người yếu thế (Dees, 2003). Trong khi đó doanh nhân thương mại có vai trò dẫn dắt công ty của mình đạt được lợi nhuận tối đa thông qua quá trình kinh doanh (Kirzner, 1978), đề cao và tối đa hóa lợi ích bản thân cùng các đồng sở hữu doanh nghiệp.
Doanh nhân xã hội khác biệt với doanh nhân thương mại truyền thống ở chỗ sau này chủ yếu tập trung vào việc tạo ra sự giàu có kinh tế, trong khi kinh doanh xã hội thường nhằm cải thiện khả năng tiếp cận và công bằng cho người khác (Austin et al., 2006, Trivingi và Stokolos, 2011). Doanh nghiệp Liên đoàn Doanh nghiệp Thụy Điển, trong báo cáo về Vai trò của Doanh nghiệp trong Xã hội (2004), nhắc lại rằng doanh nghiệp là nền tảng của sự thịnh vượng trong xã hội và doanh nghiệp tạo ra các nguồn lực dẫn đến sự phát triển. Doanh nghiệp thương mại thường tập trung vào việc đầu tư để phát triển quy mô kinh doanh và tối đa hóa lợi nhuận cho cổ đông (Mair & Martí, 2006). Vai trò của doanh nghiệp được coi là thiết yếu trong lĩnh vực kinh tế, vì họ huy động nguồn lực, tạo việc làm và tạo ra của cải.
Hơn nữa, xét đến sự đóng góp của họ vào tăng trưởng kinh tế, các doanh nghiệp được coi là thiết yếu trong sự phát triển của một lãnh thổ, vì họ góp phần trẻ hóa cơ cấu sản xuất xã hội, tái khởi động các khu vực trong khu vực và thúc đẩy quá trình đổi mới (Santos, 2012).