CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Tổng quan nghiên cứu nhằm tổng hợp, phân tích, so sánh và đánh giá các công trình đã nghiên cứu có liên quan đến tác động của giáo dục khởi nghiệp đến ý định khởi nghiệp định hướng bền vững của sinh viên. Nghiên cứu thực hiện tổng quát theo 5 nội dung sau: (1) Các nghiên cứu về giáo dục khởi nghiệp; (2) Các nghiên cứu về ý định khởi nghiệp; (3) Các nghiên cứu về tác động trực tiếp của giáo dục khởi nghiệp đến ý định khởi nghiệp định hướng bền vững; (4) Các nghiên cứu về tác động gián tiếp của giáo dục khởi nghiệp đến ý định khởi nghiệp định hướng bền vững; (5) Khoảng trống và những vấn đề của nghiên cứu. Nghiên cứu về giáo dục khởi nghiệp Giáo dục khởi nghiệp có mục đích gia tăng các hành vi của cá nhân nhằm sử dụng hiệu quả các nguồn lực sẵn có của đất nước, qua đó giáo dục khởi nghiệp có ảnh hưởng đến nhận thức của cá nhân đối với các cơ hội khởi nghiệp tiềm năng (Ozdemir, 2008). Trong nhiều năm qua, giáo dục khởi nghiệp được coi là một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng, thông qua giáo dục khởi nghiệp, cá nhân đóng góp công sức thúc đẩy tăng trưởng kinh tế quốc gia (Neck và Greene, 2011).
Sự phổ biến của các nghiên cứu về giáo dục khởi nghiệp dựa trên mức độ quan tâm ngày càng tăng lên của các học giả đối với chủ đề này. Các nghiên cứu về giáo dục khởi nghiệp có hướng tiếp cận khác nhau. Trong khoảng từ năm 1984 đến năm 2011, khoảng 100 bài báo được xuất bản trên 5 tạp chí hàng đầu về khởi nghiệp trên thế giới (Journal of Business Venturing, Entrepreneurship Theory & Practice, Journal of Small Business Management, Entrepreneurship & Regional Development and International Small Business Journal) và hai tạp chí có ảnh hưởng lớn về giáo dục (Academy of Management Learning & Education and Journal of Management Education) tiếp cận giáo dục khởi nghiệp theo hướng khởi nghiệp. Từ năm 2004 đến năm 2012, các nghiên cứu tập trung về tác động của giáo dục khởi nghiệp với ý định khởi nghiệp của sinh viên sau đại học (Hasan và cộng sự, 2013).
Tiếp theo, giai đoạn từ 2006 – 2012, trên thế giới có khoảng 220 nghiên cứu được xuất bản về ý định khởi nghiệp của sinh viên (Fayolle & Linnan, 2013). Đặc biệt, riêng trên Web of Science và Scopus, tính đến năm 2014 có khoảng 1773 nghiên cứu được đăng trên về giáo dục khởi nghiệp (Fellnhofera & K, 2019). Song song với sự đồ sộ về khối lượng các tài liệu nghiên cứu các khía cạnh của giáo dục khởi nghiệp, nhiều hướng nghiên cứu khác nhau đã được khai thác về đề tài 15 luan an này. Một phân tích tổng hợp đã được thực hiện về mối quan hệ giữa giáo dục khởi nghiệp và ý định kinh doanh của cá nhân (Bae và cộng sự, 2014).
Một số nghiên cứu tập trung đánh giá tác động của giáo dục khởi nghiệp đối với nhận thức học viên (Lorz và cộng sự, 2013; Mwasalwiba, 2010) hoặc đánh giá năng lực của giảng viên để dạy kiến thức về giáo dục khởi nghiệp (Albornoz, 2008). Các học giả đã kiểm tra định hướng xã hội trong lĩnh vực giáo dục khởi nghiệp (Mars & Garrison, 2009) hoặc tác động của giáo dục khởi nghiệp đến việc quản lý các doanh nghiệp nhỏ (Gorman và cộng sự, 1997). Một số ít tài liệu thực hiện theo hướng tổng quan và phân loại các nghiên cứu về giáo dục khởi nghiệp, qua đó các nghiên cứu định tính này đã phân tích những đóng góp của nhiều học giả về giáo dục khởi nghiệp qua các giai đoạn. Giáo dục khởi nghiệp được đưa vào giảng dạy tại nhiều trường học (Kuncoro và Rusdianto, 2016).
Các kết quả nghiên cứu tiền nhiệm đưa ra kết luận về sự gia tăng về ý định khởi nghiệp của sinh viên sau khi tham gia chương trình giáo dục khởi nghiệp. Trong đó, giáo dục khởi nghiệp đa phần được cung cấp tại các trường đại học và bắt đầu xuất hiện tại các trường tiểu học và trung học cơ sở trong những năm gần đây (Fayolle và cộng sự, 2014). Theo đánh giá của một số nghiên cứu, nếu tỷ lệ giáo dục khởi nghiệp tại các quốc gia như Phần Lan, Columbia, Chile là 40%, thì tỷ lệ này ở Thổ Nhĩ kỳ chỉ là 6% (Serida và cộng sự, 2010) và sau 8 năm, tỷ lệ giáo dục khởi nghiệp đã tăng lên 16% vào năm 2016 tại Thổ Nhĩ Kỹ. Sự gia tăng của tỉ lệ giáo dục khởi nghiệp đã góp phần khẳng định nỗ lực của các chính phủ trong việc thúc đẩy giáo dục khởi nghiệp đồng thời chỉ ra sự khác biệt của giáo dục khởi nghiệp tại các quốc gia.
Sau nhiều phân tích, các nhà nghiên cứu đã lý giải nguyên nhân của sự chênh lệch này: nếu Thổ Nhĩ Kỳ đưa giáo dục khởi nghiệp vào giảng dạy ở bậc đại học thì Mỹ và các nước châu Âu đưa giáo dục khởi nghiệp vào trường học từ trình độ học vấn tiểu học (Yelkikalan và cộng sự, 2010). Kết luận đã khẳng định hành động và tầm nhìn của chính phủ trong việc nâng cao chất lượng giáo dục khởi nghiệp tại các nước trên thế giới. Đây cũng bài học quan trọng cho Việt Nam đối với giáo dục khởi nghiệp. Đồng thời, dựa trên các nghiên cứu tiền nhiệm, các học giả cũng đưa ra bài học cho nhà lãnh đạo: nhà lãnh đạo cần có sự quan tâm nhiều hơn đến quá trình đổi mới và sự giao lưu tri thức, đồng thời việc gia tăng ý định khởi nghiệp của cá nhân sẽ thúc đẩy sự quan tâm của truyền thông đại chúng về lĩnh vực giáo dục khởi nghiệp tại trường học (Boldureanu và cộng sự, 2020).
Nhiều nghiên cứu đã tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục khởi nghiệp trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Nghiên cứu của (Karimi và cộng sự, 2010) phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của giáo dục khởi nghiệp tại các trung tâm giáo dục khoa học ứng dụng về nông nghiệp của Iran. Kết quả của nghiên cứu cho thấy ý 16 luan an định khởi nghiệp có tác động tích cực đến nhận thức của sinh viên về giáo dục khởi nghiệp (Smit, 2004). Việc tạo dựng một môi trường học tập hiệu quả và xây dựng hệ thống quy định hợp lý là điều kiện tiên quyết để nâng cao năng lực khởi nghiệp của sinh viên (Pages và Markley, 2004).
Tương tự, trong nghiên cứu của (Zamani và Mohammadi, 2018), tác giả cũng đã nhấn mạnh việc phát triển giáo dục khởi nghiệp có thể giải quyết tình trạng thất nghiệp toàn thời gian của hầu hết sinh viên ngành nông nghiệp, giảm tệ nạn xã hội xuất phát từ sự thất nghiệp của thanh thiếu niên. Có thể thấy, nghiên cứu về giáo dục khởi nghiệp đã được nhiều học giả quan tâm trên thế giới. Các nghiên cứu tiền nhiệm về giáo dục khởi nghiệp cho thấy tồn tại ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp của giáo dục khởi nghiệp đối với ý định khởi nghiệp của cá nhân nói chung và sinh viên nói riêng. Các nghiên cứu về ý định khởi nghiệp Trong những năm qua, một số nghiên cứu đã kiểm định và đánh giá cơ hội khởi nghiệp và thành lập doanh nghiệp từ ý định khởi nghiệp của nhà khởi nghiệp (Gregoire và cộng sự, 2011).
Sự phát triển của ý định khởi nghiệp có thể tạo ra nhiều việc làm bán thời gian và việc làm toàn thời gian (Karimi và cộng sự, 2010). Hơn thế nữa, việc nâng cao ý định khởi nghiệp định hướng bền vững không chỉ hoàn thành mục tiêu kinh tế mà còn giúp đảm bảo yếu tố môi trường và xã hội (Muñoz và Dimov, 2015). Vì vậy, việc nghiên cứu về ý định khởi nghiệp, đặc biệt là ý định khởi nghiệp định hướng bền vững của các cá nhân là cần thiết trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa toàn cầu. Các nghiên cứu về ý định khởi nghiệp Nghiên cứu về ý định khởi nghiệp đã xuất hiện từ rất sớm.
Các nghiên cứu của (Shapero, 1975; Shapero và Sokol, 1982) đánh dấu thời điểm các học giả bắt đầu quan tâm nghiên cứu về ý định khởi nghiệp. Đến năm 1988, nghiên cứu của (Bird, 1988) trong lĩnh vực khởi nghiệp đã chỉ ra giá trị quan trọng của ý định khởi nghiệp. Đồng thời, nghiên cứu này đã thu hút sự chú ý của phần đông các học giả đối với chủ đề về ý định khởi nghiệp của cá nhân. Hiện nay, nhiều nghiên cứu trên thế giới bàn luận về ý định khởi nghiệp trong lĩnh vực khởi nghiệp.
Phần lớn nghiên cứu có kết luận: ý định khởi nghiệp là yếu tố dự đoán tốt nhất cho hành vi khởi nghiệp (Krueger và cộng sự, 2000) và các sự kiện bất ngờ (liên quan đến biến số từ cá nhân và ngoại cảnh) 17 luan an thường ảnh hưởng gián tiếp đến ý định khởi nghiệp thông qua trung gian là thái độ cá nhân và động lực để hành động (Peterman và Kennedy, 2003). Việc thúc đẩy ý định khởi nghiệp của cá nhân là cần thiết trong sự phát triển và tăng trưởng kinh tế của một quốc gia (Carree và Thurik, 2003; Wong và cộng sự, 2005). Ý định khởi nghiệp là yếu tố giúp gia tăng việc làm, là một giải pháp chống lại khủng hoảng thất nghiệp (Karimi và cộng sự, 2010). Một số nghiên cứu hướng đến việc tìm ra sự tác động từ các quốc gia đến ý định khởi nghiệp của cá nhân (Fayolle và cộng sự, 2018).
Kết quả nghiên cứu cho thấy các quốc gia có thu nhập cao hơn sẽ thúc đẩy ý định khởi nghiệp và quyền chủ động khởi nghiệp của cá nhân. Văn hóa và nhận thức văn hóa của quốc gia có ảnh hưởng (cả trực tiếp và gián tiếp) đến thái độ và hành vi của cá nhân trong quá trình hình thành và phát triển ý định khởi nghiệp (Moriano và cộng sự, 2012). Ngoài ra, ý định khởi nghiệp xuất hiện nhiều hơn tại các quốc gia có sự công bằng, bình đẳng, chủ nghĩa bình quân chiếm ưu thế (Engle và cộng sự, 2011). Các thể chế quốc gia có thể vừa hạn chế và vừa cho phép cá nhân có ý định khởi nghiệp (Welter và Smallbone, 2012) thông qua việc áp dụng các chính sách công (Zahra và Wright, 2011).
Bên cạnh đó, ý định khởi nghiệp chịu ảnh hưởng mạnh mẽ khi thu nhập quốc dân có chiều hướng gia tăng (Liñán và cộng sự, 2013). Tuy nhiên, đánh giá về các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp cũng được các học giả quan tâm. Nghiên cứu của (Trope và Liberman, 2010) phân tích quá trình hình thành ý định khởi nghiệp và hành vi khởi nghiệp tại nhiều lĩnh vực sẽ phụ thuộc vào thời điểm ý định và hành vi đó xảy ra ở tương lai gần hay xa.