Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Đánh giá những yếu tố ảnh hưởng tới ý định khởi nghiệp của sinh viên Việt Nam: Nghiên cứu trường hợp sinh viên khối ngành kỹ thuật" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Đoàn Thị Thu Trang tại Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lê Hiếu Học và TS. Phạm Thị Kim Ngọc, bảo vệ năm 2018 (chuyên ngành Kinh tế học, mã số 9310101).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong bối cảnh chuyển dịch kinh tế toàn cầu sang nền kinh tế tri thức và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo được xác định là động lực gia tăng năng lực cạnh tranh và tạo việc làm. Theo số liệu của GEM (Global Entrepreneurship Monitor), khoảng 400 triệu doanh nhân tại 54 quốc gia khảo sát đã tạo ra hàng triệu việc làm hàng năm; tại Hoa Kỳ, các doanh nghiệp khởi nghiệp đóng góp 95% lượng của cải và 34 triệu việc làm từ năm 1980 đến cuối thập niên. Tại Việt Nam, nền kinh tế đối mặt với tình trạng tốc độ tăng trưởng có xu hướng giảm, thiếu bền vững và tỷ lệ thất nghiệp ở nhóm lao động có trình độ đại học trở lên gia tăng. Dù Việt Nam có khoảng 3.000 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo (theo Echelon), tỷ lệ khởi nghiệp chung theo Báo cáo GEM 2015/2016 chỉ đạt khoảng 15 trên 100 người trưởng thành, và tỷ lệ khởi nghiệp thực sự có hàm lượng sáng tạo dựa trên công nghệ còn thấp hơn nhiều.
Để thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo, điểm cốt lõi là nâng cao ý định khởi nghiệp cá nhân, bởi khởi nghiệp thuộc nhóm hành vi có kế hoạch và ý định là tiền tố dự báo chính xác nhất. Sinh viên khối ngành kỹ thuật là lực lượng nòng cốt tạo ra các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo nhờ kiến thức chuyên môn công nghệ, khả năng tiếp thu kiến thức kinh doanh và tư duy đổi mới. Tuy nhiên, các nghiên cứu về ý định khởi nghiệp tại Việt Nam trước đó chủ yếu tập trung vào sinh viên ngành kinh tế - quản trị kinh doanh hoặc khảo sát chung, chưa phân định rõ giữa khởi nghiệp thông thường và khởi nghiệp sáng tạo công nghệ, đồng thời chưa đi sâu lượng hóa các yếu tố nhận thức cá nhân ở sinh viên khối kỹ thuật trên quy mô toàn quốc.
Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Luận án xác định 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Xác định, đánh giá và xem xét mức độ tác động của các yếu tố nhận thức cá nhân đến ý định khởi nghiệp của sinh viên khối ngành kỹ thuật tại Việt Nam.
- So sánh sự khác biệt về mức độ tác động của các yếu tố nhận thức tới ý định khởi nghiệp và mức độ sẵn sàng khởi nghiệp giữa các nhóm sinh viên khối kỹ thuật khác nhau về đặc điểm nhân khẩu học, kiến thức và kinh nghiệm khởi nghiệp.
- Đề xuất các gợi ý chính sách đối với cơ quan quản lý Nhà nước, các trường đại học và bản thân sinh viên khối ngành kỹ thuật nhằm nâng cao ý định khởi nghiệp sáng tạo.
Để đạt được mục tiêu, luận án giải quyết 4 câu hỏi nghiên cứu:
- Tình hình khởi nghiệp sáng tạo và phát triển phong trào khởi nghiệp sáng tạo của sinh viên các trường đại học nói chung và các trường đại học kỹ thuật nói riêng trong giai đoạn hiện nay diễn ra như thế nào?
- Những nhân tố nào thuộc về nhận thức cá nhân đối với hoạt động khởi nghiệp ảnh hưởng tới ý định khởi nghiệp của sinh viên ngành kỹ thuật và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố ra sao?
- Các đặc điểm nhân khẩu học, kiến thức và kinh nghiệm khởi nghiệp khác nhau có tạo ra sự khác biệt về mức độ tác động của các nhân tố nhận thức cá nhân đến ý định khởi nghiệp và mức độ sẵn sàng khởi nghiệp của sinh viên đại học ngành kỹ thuật hay không?
- Có những giải pháp nào đối với cơ quan quản lý Nhà nước, các trường đại học và bản thân sinh viên khối ngành kỹ thuật để nuôi dưỡng và hiện thực hóa ý định khởi nghiệp sáng tạo của sinh viên?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Ý định khởi nghiệp và các yếu tố mang tính nhận thức cá nhân tác động tới ý định khởi nghiệp của sinh viên khối ngành kỹ thuật Việt Nam.
- Đối tượng khảo sát: Sinh viên chính quy hai năm cuối (năm 3, năm 4 hoặc năm 5) thuộc khối ngành kỹ thuật, do đây là giai đoạn sinh viên định hình rõ nét nhất định hướng nghề nghiệp sau tốt nghiệp.
- Phạm vi không gian: Khảo sát tại 8 trường đại học đào tạo chuyên ngành kỹ thuật trên phạm vi toàn quốc, gồm 4 trường ở phía Bắc và 4 trường ở phía Nam.
- Phạm vi thời gian: Luận án thực hiện trong giai đoạn từ tháng 6/2014 đến tháng 6/2018; công tác điều tra thu thập dữ liệu sơ cấp tập trung chủ yếu trong năm 2016.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về ý định khởi nghiệp qua 4 hướng tiếp cận chính:
| Hướng tiếp cận | Cơ sở lý luận & Tác giả tiêu biểu | Nội dung chính |
|---|---|---|
| Tiếp cận đặc điểm tính cách cá nhân (Trait approach) | McClelland (1961), Schumpeter (1934), Robinson (1991), Schneider (1987 - mô hình ASA), Mô hình 5 nhân tố tính cách (FFM). | Tìm kiếm các nét tính cách đặc trưng (nhu cầu thành đạt, chấp nhận rủi ro, sự tự chủ, tính sáng tạo, kiên định). Giới học thuật sau đó chỉ ra hướng tiếp cận này chỉ giải thích được khoảng 10% ý định khởi nghiệp. |
| Tiếp cận xã hội học - nhân khẩu học (Demographic-sociological approach) | Reynolds (1997), Drennan và cộng sự, Altinay (1999), Goyane. | Xem xét tác động của độ tuổi, giới tính, tôn giáo, truyền thống kinh doanh gia đình, nền tảng văn hóa và môi trường kinh tế - chính trị. Thường đóng vai trò bổ trợ. |
| Tiếp cận hành vi (Behavioral approach) | Ajzen (1991 - Lý thuyết hành vi có kế hoạch TPB), Fishbein & Ajzen (1975 - Lý thuyết hành động hợp lý TRA). | Coi khởi nghiệp là hành vi có kế hoạch. Đo lường ý định thông qua 3 tiền tố nhận thức: Thái độ đối với hành vi, Chuẩn chủ quan, và Nhận thức kiểm soát hành vi. |
| Tiếp cận tổng hợp (Integrated approach) | Bird (1988), Learned (1992), Weber và cộng sự (2009), Fayolle & Gailly (2004), Zhang & Yang (2006), Schillo và cộng sự. | Kết hợp các biến nhận thức bên trong với các biến bối cảnh, môi trường bên ngoài, chính sách và chương trình đào tạo khởi nghiệp. |
Tại Việt Nam, các nghiên cứu thực nghiệm tiêu biểu được tác giả điểm lại gồm:
- Bùi Duy và cộng sự: Ứng dụng mô hình E-Scan của Driessen & Zwart khảo sát sinh viên Trường Đại học Bách khoa ĐHQG-HCM, xác định các yếu tố tính cách và tiềm năng khởi nghiệp.
- Hoàng Thị Thương (2014): Khảo sát 211 sinh viên Trường Đại học Lao động - Xã hội, kết hợp mô hình TPB và các biến môi trường giáo dục, điều kiện tài chính, tính cách cá nhân.
- Nguyễn Thu Thủy: Luận án tiến sĩ khảo sát gần 700 sinh viên tại Hà Nội về các nhân tố ảnh hưởng đến tiềm năng khởi sự kinh doanh ở cả khối ngành kinh tế và kỹ thuật.
- Phan Anh Tú & Nguyễn Thanh Sơn (2015): Sử dụng hồi quy Logistic khảo sát 180 sinh viên kinh tế đã tốt nghiệp tại TP. Cần Thơ, xác định 6 yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp.
- Phan Anh Tú & Giảng Thị Cẩm Tiên (2015): Ứng dụng mô hình TPB mở rộng trên mẫu 233 sinh viên kinh tế Trường Đại học Cần Thơ.
- Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự (2016): Khảo sát 400 sinh viên ngành Quản trị kinh doanh tại TP. Cần Thơ.
- Nguyễn Quốc Nam (2017): Khảo sát 300 học sinh, sinh viên tại tỉnh Kiên Giang.
- Nguyễn Quang & Cao Cường (2016): Khảo sát 361 sinh viên Trường Đại học Kinh tế - Luật (ĐHQG-HCM), mở rộng mô hình TPB với biến hỗ trợ của bối cảnh.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Hầu hết các nghiên cứu tại Việt Nam trước đó tập trung vào sinh viên khối kinh tế, đánh giá khởi sự kinh doanh chung mà chưa đi sâu vào đối tượng sinh viên khối kỹ thuật gắn với loại hình khởi nghiệp sáng tạo công nghệ. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách xây dựng mô hình nghiên cứu mở rộng từ TPB, bổ sung các biến nhận thức đặc thù (giá trị mong đợi, niềm tin chuẩn mực, cảm nhận may mắn) và các biến điều khiển (đào tạo khởi nghiệp, nhân khẩu học), đồng thời kiểm định thực nghiệm trên cỡ mẫu lớn tại 8 trường đại học kỹ thuật ở cả hai miền Bắc và Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Khung phân tích của luận án được xây dựng dựa trên nền tảng Lý thuyết hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behavior - TPB) của Ajzen (1991). Mô hình nghiên cứu đề xuất kế thừa 3 nhóm biến nhận thức trung gian chính của TPB và bổ sung các biến tiền tố cùng biến điều khiển:
- Giá trị mong đợi của cá nhân tác động tới Thái độ đối với việc khởi nghiệp.
- Niềm tin về chuẩn mực xã hội tác động tới Chuẩn chủ quan.
- Cảm nhận về năng lực bản thân tác động tới Nhận thức kiểm soát hành vi.
- Biến độc lập bổ sung: Cảm nhận về may mắn.
- Các biến trung gian (Thái độ đối với việc khởi nghiệp, Chuẩn chủ quan, Nhận thức kiểm soát hành vi, Cảm nhận về may mắn) tác động trực tiếp tới biến phụ thuộc: Ý định khởi nghiệp.
- Biến điều khiển và biến phân nhóm: Chương trình đào tạo khởi nghiệp (đã tham gia / chưa tham gia), giới tính, vùng miền, trường đại học và chuyên ngành đào tạo.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:
- Nghiên cứu định tính:
- Nghiên cứu tại bàn (desk research): Thu thập, phân tích tài liệu thứ cấp, văn bản pháp luật, báo cáo thống kê từ Bộ Giáo dục và Đào tạo, các trường đại học, tổ chức quốc tế (GEM, Echelon, World Bank) nhằm xây dựng cơ sở lý luận và phân tích thực trạng.
- Phỏng vấn sâu và phương pháp Delphi 2 vòng: Thực hiện phỏng vấn sâu với các chuyên gia về khởi nghiệp, cán bộ quản lý giáo dục và các nhóm sinh viên kỹ thuật (đã và chưa tham gia khởi nghiệp) để điều chỉnh thang đo, thiết lập bảng câu hỏi và giải thích các phát hiện định lượng.
- Nghiên cứu định lượng:
- Công cụ và quy trình xử lý dữ liệu: Dữ liệu được xử lý qua phần mềm SPSS và AMOS. Quy trình gồm: Thống kê mô tả; Đánh giá độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha; Phân tích nhân tố khám phá (EFA); Phân tích nhân tố khẳng định (CFA) để kiểm định mô hình đo lường; Phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu; Phân tích Bootstrap để kiểm định tính vững của mô hình; Phân tích đa nhóm (Multi-group analysis) để so sánh tác động của biến điều khiển; Phân tích phương sai (ANOVA) và kiểm định sâu Post-hoc để so sánh sự khác biệt theo trường và ngành.
Dữ liệu và phương pháp chọn mẫu
- Quy mô mẫu: Dựa trên nguyên tắc Comrey & Lee (1992) (cỡ mẫu > 1.000 đạt mức rất tốt), tác giả xác định cỡ mẫu kỳ vọng là 1.700. Với ước lượng tỷ lệ hồi đáp 70%, tổng số phiếu khảo sát phát ra là 2.500 phiếu tại 8 trường đại học kỹ thuật đại diện hai miền Bắc - Nam (bao gồm Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Bách khoa - ĐHQG-HCM, Đại học Công nghiệp Hà Nội, Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM...).
- Khảo sát sơ bộ: Tiến hành thử nghiệm thang đo tại 1 trường đại học trọng điểm kỹ thuật trước khi triển khai điều tra chính thức diện rộng.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp
Chương 1 tổng thuật chi tiết các lý thuyết và công trình nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước liên quan đến ý định khởi nghiệp. Tác giả phân loại 4 nhóm tiếp cận chính (đặc điểm tính cách, nhân khẩu học - xã hội học, hành vi có kế hoạch, và mô hình tích hợp). Chương này phân tích rõ các ưu điểm và hạn chế của từng cách tiếp cận, chứng minh tính ưu việt của mô hình TPB trong việc giải thích hành vi khởi nghiệp. Đồng thời, chương điểm lại các nghiên cứu tiêu biểu tại Việt Nam (Bùi Duy, Hoàng Thị Thương, Nguyễn Thu Thủy, Phan Anh Tú, Nguyễn Quốc Nghi, Nguyễn Quang...), chỉ ra khoảng trống về mặt lý luận và thực tiễn khi thiếu vắng nghiên cứu chuyên biệt về sinh viên khối kỹ thuật gắn với khởi nghiệp sáng tạo công nghệ.
Chương 2: Cơ sở lý luận về ý định khởi nghiệp và các yếu tố tác động tới ý định khởi nghiệp
Chương 2 làm rõ các khái niệm nền tảng: khởi nghiệp, các hình thức và lĩnh vực khởi nghiệp, quá trình phát triển hoạt động khởi nghiệp (từ nhận thức, ý định đến hành động). Luận án phân biệt rõ khởi nghiệp thông thường và khởi nghiệp sáng tạo (dựa trên công nghệ và mô hình kinh doanh mới). Chương này đi sâu vào cơ chế hình thành ý định khởi nghiệp theo Lý thuyết hành vi có kế hoạch (Ajzen, 1991), mô hình sự kiện khởi sự kinh doanh của Shapero & Sokol (1982), mô hình tiềm năng khởi nghiệp của Krueger & Brazeal (1994), mô hình của Linan (2004). Tác giả thiết lập cơ sở lý thuyết cho việc mở rộng mô hình TPB thông qua việc lồng ghép các yếu tố nhận thức bên trong (giá trị mong đợi, năng lực bản thân, cảm nhận may mắn) và các yếu tố môi trường xã hội.
Chương 3: Thực trạng hoạt động khởi nghiệp sáng tạo và ý định khởi nghiệp sáng tạo của sinh viên khối ngành kỹ thuật Việt Nam
Chương 3 trình bày bức tranh toàn cảnh về hoạt động khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam và thực trạng của sinh viên kỹ thuật. Các nội dung số liệu quan trọng được tổng hợp:
- Tình hình khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam: Tỷ lệ dự án đổi mới sáng tạo, số lượng bằng sáng chế cấp giai đoạn 1995–2014, số lượng thương vụ đầu tư mạo hiểm qua các năm.
- Thực trạng sinh viên khối kỹ thuật: Thống kê số lượng trường đại học chính quy đào tạo kỹ thuật (Bảng 3.2), cơ cấu lao động theo các khu vực kinh tế thời kỳ 2006–2016 (Bảng 3.4), tỷ lệ người/doanh nghiệp tại Việt Nam so với thế giới (Bảng 3.6).
- Ý định và tiềm năng khởi nghiệp sáng tạo của sinh viên kỹ thuật: Phân tích kinh nghiệm quốc tế từ Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) và Đại học Stanford; đối chiếu với thực trạng Việt Nam khi phần lớn nhà sáng lập khởi nghiệp công nghệ xuất thân từ các trường kỹ thuật. Đánh giá các mô hình hỗ trợ khởi nghiệp tại các trường đại học (như tại ĐHBK Hà Nội) và những hạn chế căn bản về kỹ năng kinh doanh, bảo hộ sở hữu trí tuệ của sinh viên kỹ thuật.
Chương 4: Mô hình và phương pháp nghiên cứu đánh giá các yếu tố ảnh hưởng tới ý định khởi nghiệp của sinh viên khối ngành kỹ thuật Việt Nam
Chương 4 thiết lập khung mô hình nghiên cứu gồm 7 giả thuyết chính (H1 đến H7) về mối quan hệ trực tiếp và gián tiếp giữa các biến nhận thức với ý định khởi nghiệp, cùng 2 giả thuyết phân nhóm (H8, H9) liên quan đến vai trò điều tiết của đào tạo khởi nghiệp và đặc điểm nhân khẩu học. Chương này mô tả chi tiết:
- Quy trình nghiên cứu 2 giai đoạn (sơ bộ định tính và chính thức định lượng).
- Thiết kế bảng câu hỏi với thang đo Likert 5 điểm, chu trình chuẩn hóa thang đo qua kỹ thuật phỏng vấn chuyên gia Delphi 2 vòng.
- Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp thuận tiện tại 8 trường đại học kỹ thuật hai miền Nam - Bắc, cỡ mẫu phát ra 2.500 phiếu.
Chương 5: Kết quả nghiên cứu đánh giá các yếu tố ảnh hưởng tới ý định khởi nghiệp của sinh viên khối ngành kỹ thuật Việt Nam
Chương 5 trình bày toàn bộ kết quả phân tích dữ liệu thực nghiệm:
- Thống kê mô tả mẫu: Phân loại mẫu khảo sát theo nơi ở, vùng miền gia đình (Hình 5.4), nghề nghiệp của bố mẹ (Hình 5.5), hoạt động làm thêm, nghiên cứu khoa học và đào tạo khởi nghiệp (Hình 5.6).
- Đánh giá sơ bộ thang đo: Kết quả Cronbach's Alpha và phân tích EFA cho 8 nhân tố (Bảng 5.1 đến 5.9), loại bỏ các biến quan sát không đạt yêu cầu hội tụ và phân biệt.
- Phân tích CFA: Kiểm định mô hình đo lường và mô hình tới hạn (Bảng 5.10, 5.11), các chỉ số độ phù hợp (CMIN/df, GFI, TLI, CFI, RMSEA) đều đạt chuẩn.
- Kiểm định mô hình cấu trúc SEM: Kiểm định các giả thuyết H1–H7 (Bảng 5.12, 5.13). Kết quả chỉ ra các yếu tố "Thái độ đối với việc khởi nghiệp", "Nhận thức kiểm soát hành vi", "Chuẩn chủ quan" và "Cảm nhận về may mắn" đều có tác động có ý nghĩa thống kê tới ý định khởi nghiệp. "Giá trị mong đợi cá nhân" tác động mạnh đến "Thái độ"; "Niềm tin chuẩn mực xã hội" tác động đến "Chuẩn chủ quan"; "Cảm nhận năng lực bản thân" tác động đến "Nhận thức kiểm soát hành vi".
- Phân tích Bootstrap: Khẳng định tính vững và độ tin cậy cao của các ước lượng trong mô hình.
- Hệ số tác động: Tổng hợp hệ số tác động trực tiếp, gián tiếp và tổng hợp của từng yếu tố lên ý định khởi nghiệp (Bảng 5.16).
- Phân tích đa nhóm & ANOVA: Kiểm định sự khác biệt về mức độ tác động giữa nhóm sinh viên đã học và chưa học khởi nghiệp (Bảng 5.15), kiểm định ANOVA và Post-hoc so sánh sự khác biệt theo Trường (Bảng 5.27) và theo Chuyên ngành kỹ thuật (Bảng 5.28, 5.29).
Chương 6: Bàn luận và hàm ý nghiên cứu
Chương 6 tiến hành luận bàn sâu các kết quả tìm được, đối chiếu với các công trình nghiên cứu trước đây tại Việt Nam và quốc tế. Tác giả thảo luận về thứ tự mức độ tác động của các nhân tố, ý nghĩa của biến "Cảm nhận về may mắn" trong bối cảnh văn hóa Việt Nam, và tác động tích cực của các khóa đào tạo khởi nghiệp đối với việc nâng cao nhận thức kiểm soát hành vi của sinh viên kỹ thuật. Trên cơ sở đó, chương đưa ra hệ thống kiến nghị, giải pháp 3 bên (Nhà nước, Trường đại học, Sinh viên) và nêu rõ các hạn chế cùng hướng nghiên cứu tiếp theo.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Hoàn thiện khung lý thuyết mở rộng: Hệ thống hóa lý luận về ý định khởi nghiệp sáng tạo, kiểm định thành công mô hình mở rộng từ Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) bổ sung biến "Cảm nhận về may mắn", "Giá trị mong đợi cá nhân" và "Niềm tin chuẩn mực xã hội" cho đối tượng sinh viên kỹ thuật.
- Lượng hóa mức độ tác động đa tầng: Xác định rõ cơ chế tác động trực tiếp, gián tiếp và tổng hợp của các yếu tố nhận thức cá nhân lên ý định khởi nghiệp; chứng minh vai trò cầu nối của các biến thái độ, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi.
- Làm rõ vai trò điều tiết: Chứng minh sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về ý định khởi nghiệp và mức độ sẵn sàng khởi nghiệp giữa các nhóm sinh viên có đặc điểm nhân khẩu học khác nhau và giữa nhóm sinh viên đã được đào tạo khởi nghiệp so với nhóm chưa được đào tạo.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Bộ dữ liệu thực nghiệm quy mô lớn: Cung cấp bức tranh thực nghiệm toàn diện về ý định khởi nghiệp của sinh viên khối ngành kỹ thuật tại 8 trường đại học kỹ thuật trọng điểm đại diện hai miền Bắc – Nam.
- Hệ thống giải pháp và kiến nghị 3 cấp độ:
- Đối với cơ quan quản lý Nhà nước: Hoàn thiện cơ chế chính sách thực thi Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, Đề án 844, Đề án hỗ trợ HSSV khởi nghiệp; xây dựng quỹ đầu tư mạo hiểm công - tư; hoàn thiện khung pháp lý về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học từ trường đại học.
- Đối với các trường đại học kỹ thuật: Đổi mới chương trình đào tạo theo hướng tích hợp kiến thức kinh doanh, quản trị và khởi nghiệp vào khối ngành kỹ thuật; thành lập các trung tâm ươm tạo doanh nghiệp (incubators), không gian sáng tạo (makerspaces); kết nối mạng lưới cố vấn (mentors) và cựu sinh viên doanh nhân; tổ chức các cuộc thi ý tưởng khởi nghiệp sáng tạo gắn với sản phẩm công nghệ thực tế.
- Đối với bản thân sinh viên kỹ thuật: Chủ động tích lũy kiến thức quản trị kinh doanh, trau dồi kỹ năng mềm và làm việc nhóm liên ngành; tích cực tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học, hoạt động ngoại khóa khởi nghiệp; nâng cao ý thức về sở hữu trí tuệ và biến các đề tài tốt nghiệp kỹ thuật thành dự án khởi sự kinh doanh tiềm năng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Dựa trên nội dung văn bản luận án, các hạn chế và định hướng nghiên cứu gồm:
- Hạn chế:
- Nghiên cứu tập trung vào ý định khởi nghiệp (giai đoạn tiền đề) mà chưa tiến hành nghiên cứu theo dõi dọc (longitudinal study) để kiểm chứng tỷ lệ chuyển hóa thực tế từ ý định sang hành vi thành lập doanh nghiệp trong thực tiễn sau khi sinh viên tốt nghiệp.
- Phương pháp lấy mẫu kết hợp thuận tiện tại 8 trường đại học kỹ thuật, dù quy mô lớn, vẫn có những giới hạn nhất định trong việc đại diện cho toàn bộ sinh viên kỹ thuật trên mọi vùng miền.
- Mô hình tập trung chủ yếu vào các yếu tố nhận thức cá nhân; các yếu tố vĩ mô về môi trường thể chế chỉ được xem xét dưới dạng biến bối cảnh bổ trợ.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Thực hiện các nghiên cứu theo dõi thời gian dài để đo lường khoảng cách từ ý định đến hành vi khởi nghiệp thực tế của cựu sinh viên kỹ thuật sau 1–3 năm tốt nghiệp.
- Mở rộng mô hình nghiên cứu so sánh đối chiếu giữa sinh viên khối kỹ thuật và sinh viên các khối ngành khác (kinh tế, y dược, nông nghiệp) trên cùng một khung phân tích đa biến.
- Đánh giá sâu hơn tác động của các hình thức hỗ trợ cụ thể (không gian ươm tạo, vườn ươm, quỹ đầu tư thiên thần) trong khuôn viên đại học đến sự thành công của doanh nghiệp khởi nguồn (spin-off).
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao cho nhiều nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Kinh tế, Quản lý: Giá trị tham khảo nổi bật nằm ở Chương 4 và Chương 5 với quy trình nghiên cứu chuẩn hóa từ định tính (Delphi 2 vòng) đến định lượng phức hợp (EFA, CFA, SEM, Bootstrap, ANOVA, phân tích đa nhóm bằng phần mềm AMOS). Thang đo các nhân tố nhận thức mở rộng từ TPB có thể kế thừa cho các nghiên cứu hành vi kinh tế tiếp theo.
- Các nhà hoạch định chính sách giáo dục và quản lý khoa học công nghệ (Bộ GD&ĐT, Bộ KH&CN): Tham khảo các số liệu thực trạng tại Chương 3 và hệ thống kiến nghị tại Chương 6 để cụ thể hóa các chương trình hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong trường đại học.
- Ban giám hiệu và cán bộ quản lý đào tạo các trường đại học kỹ thuật: Cung cấp cơ sở khoa học để thiết kế, điều chỉnh chương trình đào tạo khởi nghiệp và phát triển các mô hình ươm tạo công nghệ phù hợp với đặc thù sinh viên kỹ thuật.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao tác giả lựa chọn đối tượng khảo sát là sinh viên hai năm cuối khối ngành kỹ thuật?
Theo cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm được luận án trích dẫn, sinh viên hai năm cuối (năm 3, 4, 5) là nhóm đối tượng chuẩn bị tốt nghiệp và trực tiếp đối mặt với quyết định lựa chọn nghề nghiệp, do đó ý định khởi nghiệp được bộc lộ rõ ràng và đo lường chính xác nhất. Đồng thời, sinh viên kỹ thuật là lực lượng nòng cốt nắm giữ kiến thức khoa học công nghệ, có khả năng tạo ra sản phẩm sáng tạo đột phá nhưng lại dễ tiếp thu thêm kiến thức kinh tế hơn so với chiều ngược lại (sinh viên kinh tế học kỹ thuật).
2. Mô hình nghiên cứu của luận án có điểm gì khác biệt so với mô hình Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) gốc của Ajzen (1991)?
Mô hình nghiên cứu của luận án kế thừa 3 biến nhận thức trung gian của TPB (Thái độ đối với việc khởi nghiệp, Chuẩn chủ quan, Nhận thức kiểm soát hành vi), đồng thời bổ sung các biến tiền tố (Giá trị mong đợi cá nhân, Niềm tin chuẩn mực xã hội, Cảm nhận năng lực bản thân), thêm biến độc lập "Cảm nhận về may mắn", và đưa vào biến điều khiển "Chương trình đào tạo khởi nghiệp" cùng các yếu tố nhân khẩu học để phân tích đa nhóm.
3. Quy mô mẫu và phạm vi thu thập dữ liệu của luận án được thực hiện như thế nào?
Luận án tiến hành phát ra 2.500 phiếu khảo sát tại 8 trường đại học đào tạo chuyên ngành kỹ thuật trên cả hai miền Bắc và Nam (4 trường phía Bắc, 4 trường phía Nam). Quy mô mẫu dữ liệu hợp lệ được làm sạch và đưa vào phân tích chính thức đạt trên 1.000 sinh viên, thỏa mãn tiêu chuẩn đánh giá cỡ mẫu của Comrey & Lee (1992).
4. Kết quả kiểm định phân tích đa nhóm về chương trình đào tạo khởi nghiệp cho thấy điều gì?
Kết quả phân tích đa nhóm trên mô hình SEM chỉ ra rằng việc tham gia các chương trình đào tạo khởi nghiệp tạo ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê đối với nhận thức và ý định khởi nghiệp của sinh viên; cụ thể, sinh viên đã qua đào tạo khởi nghiệp có nhận thức kiểm soát hành vi và ý định khởi nghiệp cao hơn rõ rệt so với nhóm chưa từng tham gia.
5. Những kỹ thuật định lượng chính nào đã được sử dụng trong luận án?
Luận án sử dụng phần mềm SPSS và AMOS để thực hiện chuỗi kỹ thuật thống kê: Kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha, Phân tích nhân tố khám phá (EFA), Phân tích nhân tố khẳng định (CFA), Mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM), Phân tích lặp Bootstrap kiểm định độ vững mô hình, Phân tích đa nhóm (Multi-group), Phân tích phương sai một yếu tố (ANOVA) và Kiểm định sâu Post-hoc.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Đoàn Thị Thu Trang là công trình nghiên cứu hệ thống và quy mô về các yếu tố nhận thức cá nhân tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên khối ngành kỹ thuật tại Việt Nam. Bằng việc mở rộng mô hình Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) và áp dụng các phương pháp phân tích định lượng chặt chẽ (CFA, SEM, Bootstrap, ANOVA) trên mẫu khảo sát diện rộng tại 8 trường đại học kỹ thuật hai miền Bắc - Nam, luận án đã lượng hóa rõ nét các mối quan hệ tác động và vai trò của đào tạo khởi nghiệp. Các phát hiện thực nghiệm và hệ thống giải pháp đề xuất cung cấp cơ sở khoa học thiết thực cho các cơ quan quản lý Nhà nước và các cơ sở giáo dục đại học trong việc thúc đẩy phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia.