CHƯƠNG 1 Tác giả đã trình bày những nội dung tổng quát của một đề tài nghiên cứu như lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài. Bên cạnh đó, tác giả cũng sơ lược các nghiên cứu liên quan từ đó tác giả chọn đề tài nghiên cứu “Tác động thái độ và môi trường đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên khối ngành kinh tế”. Từ đó đưa ra phương pháp nghiên cứu nhằm giảm quyết vấn đề đặt ra. Cuối cùng đưa ra ý nghĩa thực tiễn của đề tài mà tác giả muốn truyền tải.
123doc 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Các khái niệm liên quan 2. Kinh doanh (Business) Theo Israel Kirzner (1973) kinh doanh bắt nguồn từ việc phát hiện ra sự khác biệt có lợi nhuận, khoảng trống, sự không phù hợp của kiến thức mà những người khác không biết. Shane Greenstein (2003) đưa ra định nghĩa chung về kinh doanh, đó là “một hoạt động liên quan đến việc khám phá, đánh giá và khai thác các cơ hội để giới thiệu hàng hoá và dịch vụ mới, cách tổ chức, thị trường, quy trình và nguyên vật liệu thông qua tổ chức.
Những nỗ lực mà trước đây đã không tồn tại”. Và cho dù đứng trên quan điểm nào tác giả cũng nhận thấy rằng kinh doanh bao gồm tất cả các hành vi có mục đích, nhằm đạt được lợi nhuận cho chủ thể, chính là doanh nhân. Doanh nhân (Businessman) Theo Wikipedia tiếng việt, doanh nhân là người giải quyết các vấn đề cho người khác để kiếm lợi nhuận. Mitton (1989) mô tả doanh nhân là những người có những đặc điểm tâm lý nhất định như cam kết công việc của họ, nhu cầu kiểm soát hoàn toàn và thích sự không chắc chắn và thách thức.
Như vậy, tùy vào mục đích nghiên cứu như nghề nghiệp, công việc hay tính cách mà doanh nhân sẽ có khái niệm tương ứng. Trong nội dung nghiên cứu này, doanh nhân được xem xét trên khía cạnh những chủ thể thực hiện hành vi kinh doanh nhằm tạo ra lợi nhuận. Khởi nghiệp (Startup) Theo Wikipedia tiếng việt, khởi nghiệp là thuật ngữ chỉ về những công ty đang trong giai đoạn bắt đầu kinh doanh nói chung (Startup company), nó thường được dùng với nghĩa hẹp chỉ các công ty công nghệ trong giai đoạn lập nghiệp. 123doc 8 Khởi nghiệp là một tổ chức được thiết kế nhằm cung cấp sản phẩm và dịch vụ trong những điều kiện không chắc chắn nhất.
Ý định khởi nghiệp kinh doanh Bird (1988) đã nói rằng ý định khởi nghiệp kinh doanh có thể được đề cập đến một trạng thái của một cá thể, điều khiển và hướng dẫn chúng hướng tới sự phát triển và thực hiện các khái niệm kinh doanh mới. Theo quan điểm của sự lựa chọn nghề nghiệp, quyết định của một cá nhân để trở thành một doanh nhân được giả định là phụ thuộc vào các quyết định trước đó và ý định thường là dự đoán tốt nhất của các hành vi kinh doanh (Ajzen, 1991). Ý định khởi nghiệp là sự cam kết thành lập và làm chủ doanh nghiệp mới (Krueger, 1993). Vesalainen and Pihkala (1999) chỉ ra ý định có thể được định nghĩa là "trạng thái tâm trí hướng sự chú ý của một người vào một vật thể cụ thể hoặc một con đường để đạt được một cái gì đó”.
Quyết định trở thành một doanh nhân là một quá trình tự nguyện và có ý thức (Krueger và cộng sự, 2000). Hay sự khẳng định của cá nhân về dự định làm chủ doanh nghiệp mới và xây dựng kế hoạch hành động tại một thời điểm nhất định trong tương lai (Thompson, 2009), động lực thiết lập kế hoạch hành động để tạo mới một doanh nghiệp (Fayolle, 2013) Ý định về kinh doanh có thể được định nghĩa là sự tham gia hoặc ý định tham gia của một cá nhân để bắt đầu khởi nghiệp kinh doanh (Drennan và cộng sự, 2005; Krueger và Carsrud, 1993; Souitaris và cộng sự, 2007). Do đó, ý định của các doanh nhân được xem là một quá trình tinh thần để theo dõi việc lập kế hoạch, thực hiện một kế hoạch kinh doanh (Boyd và Vozikis, 1994; Gupta và Bhawe, 2007). Ý định khởi nghiệp đã được chứng minh là yếu tố tiên đoán chính của tương lai cho hành vi khởi nghiệp (Katz, 1988; Reynolds, 1995; Krueger và cộng sự, 2000).
Do đó, điều tra những yếu tố xác định ý định khởi nghiệp là vấn đề quan trọng trong nghiên cứu kinh doanh. Mô hình hành vi kế hoạch (Theory of Planned Behaviour) Được phát triển từ lý thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action - TRA) (Ajzen & Fishbein, 1975), thuyết hành vi kế hoạch (Theory of Planned Behaviour - TPB) (Ajzen, 1991) giả định rằng một hành vi có thể được dự báo hoặc giải thích bởi các ý định để thực hiện hành vi đó. Các ý định được giả sử bao gồm các nhân tố động cơ ảnh hưởng đến hành vi, và được định nghĩa là mức độ nỗ lực mà mọi người cố gắng để thực hiện hành vi đó (Ajzen, 1991). Các nhân tố động cơ bao gồm thái độ, chuẩn chủ quan, kiểm soát hành vi cảm nhận được xem như ba biến độc lập của ý định.
Thái độ Chuẩn chủ quan Xu hướng hành vi Hành vi thật sự Kiểm soát hành vi cảm nhận Hình 2.1: Mô hình hành vi kế hoạch (Theory of Planned Behaviour) Nguồn: Ajzen (1991) 2. Thái độ (Attitude) Fishbein và Ajzen (1975) thái độ được định nghĩa là "một khuynh hướng học được để trả lời trong một cách nhất quán thuận lợi hoặc không thuận lợi đối với một đối tượng nhất định ”. Thái độ ít ổn định hơn so với đặc điểm tính cách và có thể được thay đổi theo thời gian và trong các tình huống của cá nhân (Robinson et al. Stephen P Robbins (2013) cho rằng thái độ là báo cáo đánh giá thuận lợi hoặc không thuận lợi về đối tượng, con người hoặc sự kiện.
Chúng phản ánh cách chúng ta cảm nhận về điều gì đó. 123doc 10 Thái độ có 3 thành phần đó là thành phần nhận thức, cảm xúc và hành vi dự định. - Thành phần nhận thức (cognitive component): thể hiện ý kiến hay thể hiện niềm tin của thái độ, gắn với đánh giá của cá nhân về những gì đã xảy ra trong kinh nghiệm. - Thành phần cảm xúc (affective component): thể hiện tình cảm hay cảm xúc của thái độ, thể hiện ở phản ứng sinh học và cảm nhận của cá nhân.
- Thành phần hành vi dự định (behavioral component): là một dự định để hành xử theo một cách nhất định hướng tới một người hoặc một vật nào đó. Là kết quả của nhận thức và cảm xúc. Fishbein và Ajzen (1975) thừa nhận rằng thái độ là một yếu tố dự báo đáng tin cậy của một hành vi trong tương lai. Shook và cộng sự (2003) cho rằng vai trò của các biến tâm lý, một trong số đó là thái độ, đã được thành lập bởi các mô hình từ Bird, Shapero và lý thuyết hành vi hoạch định của Ajzen.
Kolvereid và Isaksen (2006) chỉ ra ý định trở thành một nhà doanh nghiệp mạnh mẽ hơn cho những người có thái độ tích cực đối với rủi ro hoặc độc lập. Thái độ với việc khởi nghiệp có thể được xem như tính tích cực hay động lực sẵn sàng tham gia hoạt động khởi nghiệp khi có cơ hội (Fishbein & Ajzen, 1975; Krueger & cộng sự, 2000). Thái độ tích cực với việc khởi nghiệp còn thể hiện ở mong muốn tự mở doanh nghiệp hơn là đi làm công (Tella & Issa, 2013). Cá nhân có thái độ tích cực với việc khởi nghiệp thường hứng thú với hoạt động kinh doanh, dễ dàng xem xét các cơ hội để thành lập doanh nghiệp và có thể xem mục tiêu trở thành doanh nhân là một mục tiêu quan trọng.
Nói cách khác, thái độ tích cực với việc khởi nghiệp được xem như một nhân tố thúc đẩy ý định khởi nghiệp hay làm tăng quyết tâm thực hiện hành động khởi nghiệp (Autio & cộng sự, 2001; Linan & Chen, 2009). Môi trường (Environment) Theo Wikipedia tiếng việt, môi trường là một tổ hợp các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh bên ngoài của một hệ thống hoặc một cá thể, sự vật nào đó. Chúng tác động lên hệ thống này, xác định xu hướng và tình trạng tồn tại của nó. Môi trường có thể coi là một tập hợp, trong đó hệ thống đang xem xét là một tập hợp con.
Nói chung, môi trường của một khách thể bao gồm các vật chất, điều kiện hoàn cảnh, các đối tượng khác hay các điều kiện nào đó mà chúng bao quanh khách thể này hay các hoạt động của khách thể diễn ra trong chúng. Chính sách của Nhà nước giữ vai trò quyết định trong việc tạo môi trường kích thích những ý định tích cực và thúc đẩy chúng trở thành hành động khởi nghiệp. Từ ý định đến hành động khởi nghiệp là quãng đường hoặc dài, hoặc ngắn, tùy thuộc vào hoàn cảnh kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia. Quá trình khởi nghiệp bắt nguồn từ những ý định được ấp ủ trong môi trường sống của gia đình, nhà trường và cộng đồng.
Nơi đây chứa đựng những tác nhân hình thành ý định khởi nghiệp tiêu cực hoặc tích cực. Ý định khởi nghiệp tiêu cực và tích cực luôn tồn tại đan xen trong một xã hội. Do vậy, hạn chế ý định khởi nghiệp tiêu cực và thúc đẩy ý định khởi nghiệp tích cực đòi hỏi sự nỗ lực phối hợp giữa gia đình, nhà trường và Nhà nước. Nhà nước giữ vai trò tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, minh bạch và đảm bảo tinh thần thượng tôn pháp luật của mỗi công dân.
Bên cạnh đó, cần tạo môi trường ươm tạo những ý tưởng khởi nghiệp tích cực từ trang bị kiến thức đến hỗ trợ các hoạt động như kết nối thị trường, hỗ trợ công nghệ, vốn, mặt bằng, đào tạo, thuế., cũng như định hướng vai trò của doanh nghiệp lớn, trường, viện, các tổ chức xã hội trong việc ươm tạo những ý tưởng khởi nghiệp. Việc tạo lập môi trường thúc đẩy khởi nghiệp sao cho việc gia nhập hoặc rời khỏi thị trường dễ dàng và ít gặp các rủi ro về pháp lý cần được xem là nguyên tắc xuyên suốt. 123doc 12 Nhà trường giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành tư duy và ý tưởng cho sinh viên thông qua đào tạo và môi trường đại học. Cần đào tạo kiến thức nhận biết căn bản về các mô hình kinh doanh cho sinh viên thông qua các phương pháp học tập trải nghiệm.
Nhà trường có thể thiết kế các chương trình tham quan, trải nghiệm tại các doanh nghiệp sản xuất để sinh viên có thể chia sẻ, có cái nhìn khái quát và áp dụng trên một mô hình ảo.