Luận án về tác động của tính cách giáo dục và kinh nghiệm đến ý định khởi nghiệp xã hội

Luận án phân tích tác động của tính cách giáo dục và kinh nghiệm đến ý định khởi sự kinh doanh xã hội, cung cấp cái nhìn sâu sắc về khởi nghiệp.

Trường đại học

Trường Đại Học

Chuyên ngành

Khởi Nghiệp Xã Hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án
259
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1. Nền tảng nghiên cứu

1.2. Các nhóm nghiên cứu trong chủ đề khởi sự kinh doanh xã hội

1.3. Danh mục và các chủ đề trong ý định khởi sự kinh doanh xã hội

Tóm tắt

I. Tác động của tính cách đến ý định khởi nghiệp xã hội

Nghiên cứu chỉ ra rằng tính cách đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành ý định khởi nghiệp xã hội. Các đặc điểm như sự chủ động, sáng tạo, và đồng cảm được xác định là những yếu tố chính thúc đẩy cá nhân hướng tới việc khởi nghiệp xã hội. Theo nghiên cứu của Hockerts (2017), những người có tính cách doanh nhân thường có xu hướng nhận thức tốt hơn về cơ hội và khả năng thành công trong việc khởi nghiệp xã hội. Điều này cho thấy rằng tính cách không chỉ ảnh hưởng đến quyết định khởi nghiệp mà còn đến cách thức mà cá nhân tiếp cận và giải quyết các vấn đề xã hội. Một nghiên cứu thực nghiệm cho thấy rằng những người có sự đồng cảm cao hơn có khả năng cao hơn trong việc hình thành ý định khởi nghiệp xã hội. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của tính cách trong việc phát triển các doanh nhân xã hội, những người không chỉ tìm kiếm lợi nhuận mà còn mong muốn tạo ra giá trị xã hội.

1.1. Các đặc điểm tính cách của doanh nhân xã hội

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng tính cách của doanh nhân xã hội thường bao gồm sự kết hợp giữa các đặc điểm tính cách truyền thống và các đặc điểm xã hội. Sự chủ động và sáng tạo là những yếu tố không thể thiếu trong việc khởi nghiệp, trong khi sự đồng cảm và nghĩa vụ đạo đức lại là những yếu tố quan trọng trong việc tạo ra giá trị xã hội. Theo Mair và Noboa (2006), những người có tính cách phù hợp với các giá trị xã hội thường có khả năng cao hơn trong việc khởi nghiệp xã hội. Điều này cho thấy rằng việc phát triển các chương trình giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao tính cách doanh nhân có thể góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy ý định khởi nghiệp xã hội.

II. Tác động của kinh nghiệm đến ý định khởi nghiệp xã hội

Nghiên cứu cho thấy rằng kinh nghiệm làm việc với các tổ chức xã hội có tác động mạnh mẽ đến ý định khởi nghiệp xã hội. Những cá nhân đã có kinh nghiệm thực tiễn trong các tổ chức xã hội thường có sự tự tin cao hơn về khả năng của bản thân trong việc khởi nghiệp. Theo lý thuyết nhận thức xã hội, kinh nghiệm không chỉ giúp cá nhân phát triển kỹ năng mà còn tạo ra những kỳ vọng tích cực về kết quả của việc khởi nghiệp. Nghiên cứu thực nghiệm cho thấy rằng kinh nghiệm làm việc với các tổ chức xã hội có thể trung gian hóa mối quan hệ giữa giáo dục và ý định khởi nghiệp xã hội. Điều này cho thấy rằng việc tham gia vào các hoạt động xã hội có thể giúp cá nhân hình thành những kỹ năng và kiến thức cần thiết để khởi nghiệp thành công.

2.1. Kinh nghiệm và sự tự tin trong khởi nghiệp

Sự tự tin là một yếu tố quan trọng trong việc hình thành ý định khởi nghiệp xã hội. Nghiên cứu cho thấy rằng những cá nhân có kinh nghiệm làm việc với các tổ chức xã hội thường cảm thấy tự tin hơn về khả năng của bản thân. Họ có xu hướng tin rằng họ có thể tạo ra sự khác biệt và giải quyết các vấn đề xã hội. Điều này được hỗ trợ bởi các nghiên cứu cho thấy rằng kinh nghiệm thực tiễn giúp cá nhân phát triển các kỹ năng cần thiết và tạo ra những kỳ vọng tích cực về kết quả. Sự tự tin này không chỉ thúc đẩy ý định khởi nghiệp xã hội mà còn giúp cá nhân vượt qua những thách thức trong quá trình khởi nghiệp.

III. Mối quan hệ giữa tính cách kinh nghiệm và ý định khởi nghiệp xã hội

Mối quan hệ giữa tính cách, kinh nghiệmý định khởi nghiệp xã hội là một chủ đề quan trọng trong nghiên cứu. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng tính cáchkinh nghiệm không chỉ ảnh hưởng độc lập đến ý định khởi nghiệp xã hội mà còn tương tác với nhau. Những cá nhân có tính cách phù hợp thường tìm kiếm và tận dụng kinh nghiệm từ các tổ chức xã hội để phát triển kỹ năng và kiến thức. Điều này cho thấy rằng việc phát triển tính cách doanh nhân có thể giúp cá nhân tận dụng tốt hơn kinh nghiệm của họ trong việc khởi nghiệp xã hội. Nghiên cứu cũng nhấn mạnh rằng các chương trình giáo dục nên tập trung vào việc phát triển cả tính cáchkinh nghiệm để thúc đẩy ý định khởi nghiệp xã hội.

3.1. Tích hợp tính cách và kinh nghiệm trong giáo dục khởi nghiệp

Việc tích hợp tính cáchkinh nghiệm trong các chương trình giáo dục khởi nghiệp có thể tạo ra những tác động tích cực đến ý định khởi nghiệp xã hội. Các chương trình này nên bao gồm các hoạt động thực tiễn, giúp học viên có cơ hội trải nghiệm và phát triển tính cách doanh nhân. Nghiên cứu cho thấy rằng những người tham gia vào các hoạt động thực tiễn có xu hướng phát triển sự tự tin và khả năng giải quyết vấn đề tốt hơn. Điều này không chỉ giúp họ hình thành ý định khởi nghiệp xã hội mà còn chuẩn bị cho họ đối mặt với những thách thức trong quá trình khởi nghiệp.

25/01/2025
Luận án tác động của tính cách giáo dục và kinh nghiệm đến ý định khởi sự kinh doanh xã hội

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 sẽ bắt đầu với nền tảng nghiên cứu, những mục tiêu, các câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu, điểm mới, ý nghĩa và cuối cùng là kết cấu của luận án.1 Nền tảng nghiên cứu Kinh doanh xã hội đang giữ một vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ cung cấp các giải pháp cho những vấn đề xã hội (Ellis, 2010; Dees, 2017). Kinh doanh xã hội được xem như hình thức kinh doanh có lợi cho toàn xã hội vì nó nhắm đến giải quyết các vấn đề xã hội mà chính phủ hay doanh nghiệp thương mại thông thường không giải quyết hoặc không đáp ứng được thông qua các giải pháp sáng tạo hướng đến việc tạo ra các giá trị xã hội hơn là các giá trị kinh tế (Alvord và cộng sự, 2004). Hình thức kinh doanh xã hội phổ biến nhất là các doanh nghiệp xã hội (DNXH). Theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam, DNXH được hiểu là những doanh nghiệp hoạt động không vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận mà hướng tới mục tiêu giải quyết các vấn đề xã hội và cam kết tái đầu tư 51% lợi nhuận hàng năm vào các mục tiêu xã hội đã cam kết ban đầu.

Mặc dù nguồn lực vẫn còn hạn chế nhưng có thể thấy được trong những năm qua kinh doanh xã hội đã góp phần chia sẻ trách nhiệm và các gánh nặng với Nhà nước, đồng thời đã khắc phục được sự vận hành bởi động cơ lợi nhuận trong cơ chế thị trường hiện nay (Pham và cộng sự, 2016). Với việc luật hóa DNXH trong Luật Doanh nghiệp 2014 đã tạo nên tiền đề quan trọng cho việc hình thành môi trường pháp lý và những chính sách phù hợp khuyến khích cho sự phát triển của DNXH. Có thể nói Luật Doanh nghiệp sửa đổi ban hành tháng 11/2014 đã đi vào lịch sử, mở ra một chương mới cho cộng đồng doanh nghiệp Việt khi lần đầu tiên khai sinh khái niệm DNXH chính thức trong hệ thống pháp lý. 2 Tháng 8/2018 kỷ niệm 10 năm phát triển DNXH Việt Nam và châu Á.

Theo thống kê của Trung tâm Hỗ trợ Sáng kiến Phục vụ Cộng đồng (CSIP - Centre for Social Initiatives Promotion) - đơn vị đi đầu trong việc hỗ trợ giúp đỡ khởi sự các DNXH tại Việt Nam, số lượng doanh nghiệp hoạt động như DNXH hiện nay tại Việt Nam khoảng 200, trong đó gần 100 DNXH đã đăng ký chính thức. Mặc dù còn nhiều hạn chế nhưng tiềm năng và vai trò của các DNXH trong bối cảnh Việt Nam vẫn còn rất lớn. Những doanh nghiệp này giúp cải thiện cuộc sống cho hơn 600,000 người, đa số là người dân ở vùng sâu, những lao động khuyết tật, dân tộc thiểu số và tạo việc làm cho hơn 100,000 người ở nhiều lĩnh vực khác nhau (CSIP, 2018). Ngoài ra, tinh thần khởi sự kinh doanh xã hội cũng bắt đầu được lan rộng trong cộng đồng.

Các khái niệm về DNXH, khởi sự kinh doanh xã hội cũng bắt đầu nhận được nhiều sự quan tâm của giới trẻ, các doanh nhân thương mại, các nhà tài trợ…nhưng có một thực tế là số lượng DNXH tại Việt Nam vẫn còn ít mặc dù tiềm năng của loại hình này là rất lớn và các nhà hoạch định chính sách vẫn đang tìm cách để làm tăng số lượng DNXH và doanh nhân xã hội. Về mặt học thuật, tác giả thực hiện tìm kiếm cụm từ social entrepreneurship trong trường chủ đề (tiêu đề /tóm tắt/ từ khóa) trên các cơ sở dữ liệu uy tín. Kết quả tìm kiếm ban đầu có 1,670 ấn phẩm. Trong số này, có 392 ấn phẩm bị loại trùng lắp nội dung hoặc chúng không liên quan đến khởi sự kinh doanh xã hội.

Kết quả là, còn lại 1,278 ấn phẩm được chọn để phân tích các chủ đề trong khởi sự kinh doanh xã hội bằng phương pháp đồng trích dẫn. Đồng trích dẫn (co-citation) được định nghĩa là tần suất hai ấn phẩm được trích dẫn cùng nhau bởi các ấn phẩm khác (Small, 1973). Nói cách khác, đồng trích dẫn xảy ra khi hai tài liệu tham khảo, A và B, được trích dẫn bởi nghiên cứu C, cho thấy mối quan hệ đồng trích dẫn giữa hai tài liệu A và B. Hai tài liệu thường xuyên được trích dẫn cùng nhau (được trích dẫn bởi C, D và E), sức mạnh đồng trích dẫn của chúng càng cao và càng có nhiều khả năng chúng có liên quan với nhau (Ferreira, 2018).

Tác giả sử dụng phần mềm VOSViewer (van Eck và Waltman, 2009; Waltman, 2017) để phân tích đồng trích dẫn 1,278 ấn phẩm này. Kết quả phân tích đồng trích dẫn cho thấy các ấn phẩm về khởi sự kinh doanh xã hội 3 hình thành năm nhóm chủ đề (Hình 1. Các chủ đề này được đặt tên dựa trên nội dung những ấn phẩm có số lượng trích dẫn nhiều trong chủ đề đó (Bảng 1. KHỞI SỰ KINH DOANH XÃ HỘI Nhóm 1.

Sự phát triển Bricolage và Sự nhận thức Nhóm 5. Sự đổi mới xã khái niệm khởi các vấn đề liên cơ hội, động Bối cảnh trong hội trong khởi sự kinh doanh quan đến quản lực và ý định khởi sự kinh sự kinh doanh xã hội và lý trong kinh khởi sự kinh doanh xã hội xã hội DNXH doanh xã hội doanh xã hội (Nguồn: kết quả phân tích đồng trích dẫn của tác giả) Hình 1.1 Các nhóm nghiên cứu trong chủ đề khởi sự kinh doanh xã hội Bảng 1.1 Các nhóm nghiên cứu trong khởi sự kinh doanh xã hội từ phân tích đồng trích dẫn Nhóm Nghiên cứu tiêu biểu Nhóm 1. Sự phát triển khái Mair và Marti (2006), Austin và cộng sự (2006), niệm khởi sự kinh doanh xã Chell (2007), Sharir và Lerner (2006), Thompson hội và DNXH và cộng sự (2000), Nicholls (2006), Dees (1998). Datta và Gailey (2012), Granovetter (1985), Nhóm 2.

Bricolage và các vấn Doherty và cộng sự (2014), Desa (2012), Desa và đề liên quan đến quản lý trong Basu (2013), Haugh (2007), Pache và Santos kinh doanh xã hội (2013), Montgomery và cộng sự (2012). Sự nhận thức cơ hội, Shapero và Sokol (1982), Krueger và cộng sự động lực và ý định khởi sự (2000), Mair và Marti (2006), Liñán và Chen kinh doanh xã hội 4 Nhóm Nghiên cứu tiêu biểu (2009), Nga và Shamuganathan (2010), Hockerts (2017), Corner và Ho (2010). Sự đổi mới xã hội Chell và cộng sự (2010), Nicholls (2008), trong khởi sự kinh doanh xã Nicholls (2009), Perrini và cộng sự (2010), Shaw hội và de Bruin (2013), Smith và Stevens (2010). Bối cảnh trong khởi Lepoutre và cộng sự (2013), Zahra và cộng sự sự kinh doanh xã hội (2009), Bacq và cộng sự (2013), Stephan và cộng sự (2015), Estrin và cộng sự (2013), McMullen (2011).

(nguồn: tác giả tổng hợp) Nhóm nghiên cứu đầu tiên là sự phát triển khái niệm khởi sự kinh doanh xã hội và DNXH, tập trung vào xây dựng các khái niệm và các cách tiếp cận khác nhau về khởi sự kinh doanh xã hội và DNXH. Nhóm nghiên cứu thứ hai đề cập đến bricolage và các vấn đề liên quan đến quản lý trong khởi sự kinh doanh xã hội. Bricolage trong khởi sự kinh doanh xã hội bao gồm các hoạt động được thúc đẩy bởi việc theo đuổi các nguồn lực khan hiếm để tạo ra các giải pháp sáng tạo và có giá trị, tạo ra các giá trị xã hội (Bacq và cộng sự, 2015). Các khía cạnh khác nhau của bricolage được xem xét trong nhóm nghiên cứu này.

Ngoài ra, các vấn đề liên quan đến quản trị trong DNXH cũng được xem xét như chiến lược, sự hợp tác, huy động nguồn lực, công nghệ, quản lý tài chính, định hướng thị trường. Nhóm nghiên cứu thứ ba bao gồm các nghiên cứu về nhận thức cơ hội và ý định khởi sự kinh doanh xã hội, giải thích quá trình xác định cơ hội và hình thành ý định khởi sự kinh doanh xã hội. Ngoài ra, các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự kinh doanh xã hội cũng là hướng nghiên cứu chính trong nhóm nghiên cứu này. Nhóm nghiên cứu thứ tư giải thích cách thức DNXH tác động đến xã hội để tạo ra đổi mới xã hội, thay đổi xã hội và giá trị xã hội.

Nhóm nghiên cứu cuối cùng đề cập đến vai trò của các yếu tố thuộc về bối cảnh, thể chế, thảo luận về các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến khởi sự kinh doanh xã hội. 5 Từ lược khảo về khởi sự kinh doanh xã hội đã thực hiện ở trên, có thể thấy nhóm nghiên cứu về sự nhận thức cơ hội, động lực và ý định khởi sự kinh doanh xã hội (nhóm 3) là chủ đề nhận được nhiều sự quan tâm từ giới học thuật minh chứng thông qua số lượng lớn các nghiên cứu trong nhóm này. Tuy nhiên, hiện nay có một vấn đề đang được báo động là mức độ kinh doanh xã hội vẫn rất thấp ở các nước trên thế giới đặc biệt là các nước đang phát triển như Việt Nam mặc dù tiềm năng của hình thức kinh doanh này tại Việt Nam vẫn là rất lớn. Krueger (2003) giải thích rằng kinh doanh chỉ có thể phát triển nếu chất lượng và số lượng doanh nhân tăng lên.

Chính vì vậy tăng số lượng DNXH là mong muốn cấp bách để phát triển kinh doanh xã hội tại Việt Nam. Ý định kinh doanh là một trong những chỉ báo tốt nhất cho hành vi kinh doanh (Ajzen và Fishbein, 1980). Do đó, để có thể có chiến lược phát triển kinh doanh xã hội, thì việc nghiên cứu ý định khởi sự kinh doanh xã hội là vô cùng cần thiết. Hiện nay, tại Việt Nam đang có sự gia tăng về số lượng của các tổ chức hỗ trợ phát triển DNXH với nhiều loại hình hỗ trợ khác nhau như cung cấp miễn phí các khóa học, đào tạo và dịch vụ tư vấn, gọi vốn.

Các tổ chức có nhiều kinh nghiệm trong khởi sự kinh doanh xã hội tại Việt Nam như Cộng đồng DNXH Việt Nam (SSEC), Seed Planters, Trung tâm Hỗ trợ Sáng kiến Phục vụ Cộng đồng (CSIP), HATCH! và Evergreen Labs. Ngoài ra, một số cơ sở ươm tạo DNXH cũng được chính phủ thành lập như trung tâm đổi mới Sài Gòn (SiHUB), Trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp cho thanh niên (sYs), BKHUP và Chương trình Quốc gia khởi nghiệp cũng góp phần phát triển khởi sự kinh doanh xã hội tại Việt Nam. Những đặc điểm này đã khiến Việt Nam trở thành một khu vực phù hợp để thực hiện nghiên cứu về ý định khởi sự kinh doanh xã hội. Về mặt học thuật, tác giả cũng thực hiện tìm kiếm những ấn phẩm bằng tiếng Anh trên các cơ sở dữ liệu uy tín với cụm từ social, entrep* and intent* để lược khảo các nghiên cứu về ý định khởi sự kinh doanh xã hội.

Tác giả đọc kỹ các tiêu đề, tóm tắt và từ để loại bỏ các bài báo trùng lặp và nghiên cứu không liên quan đến chủ đề nghiên cứu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tác Động Của Tính Cách Và Kinh Nghiệm Đến Ý Định Khởi Nghiệp Xã Hội

Bài viết này tập trung vào việc nghiên cứu tác động của tính cách giáo dục và kinh nghiệm đến ý định khởi nghiệp xã hội. Thông qua việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp xã hội, bài viết này cung cấp một cái nhìn sâu sắc về cách thức mà tính cách giáo dục và kinh nghiệm có thể ảnh hưởng đến quyết định khởi nghiệp của một người.

Bài viết này có thể giúp các nhà quản lý giáo dục và các chuyên gia phát triển kinh doanh hiểu rõ hơn về cách thức mà tính cách giáo dục và kinh nghiệm có thể ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp xã hội. Từ đó, họ có thể phát triển các chương trình giáo dục và đào tạo phù hợp để hỗ trợ các cá nhân có ý định khởi nghiệp xã hội.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về chủ đề này, bạn có thể tham khảo các bài viết sau:

Danh mục luận văn và luận án chuyên ngành giáo dục học tại Đại học Quốc gia TP.HCM - Cập nhật tháng 12 năm 2023 (có các thẻ "Giáo dục học", "Quản lý Giáo dục", "Đại học Quốc gia TP.HCM" tương đồng với bài viết gốc)

Nghiên cứu về văn hóa thẩm mỹ trong nhà trường quân đội hiện nay (có các thẻ "Giáo dục học", "Văn Hóa Học" tương đồng với bài viết gốc)

Nâng Cao Kỹ Năng Dạy Học Các Môn Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn cho Giảng Viên Ở Các Trường Sĩ Quan Quân Đội Nhân Dân Việt Nam (có các thẻ "Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn", "Giáo dục học" tương đồng với bài viết gốc)

Những bài viết này cung cấp một cái nhìn sâu sắc về cách thức mà giáo dục và kinh nghiệm có thể ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp xã hội, và có thể giúp các nhà quản lý giáo dục và các chuyên gia phát triển kinh doanh hiểu rõ hơn về cách thức mà tính cách giáo dục và kinh nghiệm có thể ảnh hưởng đến quyết định khởi nghiệp của một người.