Chương 1 sẽ bắt đầu với nền tảng nghiên cứu, những mục tiêu, các câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu, điểm mới, ý nghĩa và cuối cùng là kết cấu của luận án.1 Nền tảng nghiên cứu Kinh doanh xã hội đang giữ một vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ cung cấp các giải pháp cho những vấn đề xã hội (Ellis, 2010; Dees, 2017). Kinh doanh xã hội được xem như hình thức kinh doanh có lợi cho toàn xã hội vì nó nhắm đến giải quyết các vấn đề xã hội mà chính phủ hay doanh nghiệp thương mại thông thường không giải quyết hoặc không đáp ứng được thông qua các giải pháp sáng tạo hướng đến việc tạo ra các giá trị xã hội hơn là các giá trị kinh tế (Alvord và cộng sự, 2004). Hình thức kinh doanh xã hội phổ biến nhất là các doanh nghiệp xã hội (DNXH). Theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam, DNXH được hiểu là những doanh nghiệp hoạt động không vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận mà hướng tới mục tiêu giải quyết các vấn đề xã hội và cam kết tái đầu tư 51% lợi nhuận hàng năm vào các mục tiêu xã hội đã cam kết ban đầu.
Mặc dù nguồn lực vẫn còn hạn chế nhưng có thể thấy được trong những năm qua kinh doanh xã hội đã góp phần chia sẻ trách nhiệm và các gánh nặng với Nhà nước, đồng thời đã khắc phục được sự vận hành bởi động cơ lợi nhuận trong cơ chế thị trường hiện nay (Pham và cộng sự, 2016). Với việc luật hóa DNXH trong Luật Doanh nghiệp 2014 đã tạo nên tiền đề quan trọng cho việc hình thành môi trường pháp lý và những chính sách phù hợp khuyến khích cho sự phát triển của DNXH. Có thể nói Luật Doanh nghiệp sửa đổi ban hành tháng 11/2014 đã đi vào lịch sử, mở ra một chương mới cho cộng đồng doanh nghiệp Việt khi lần đầu tiên khai sinh khái niệm DNXH chính thức trong hệ thống pháp lý. 2 Tháng 8/2018 kỷ niệm 10 năm phát triển DNXH Việt Nam và châu Á.
Theo thống kê của Trung tâm Hỗ trợ Sáng kiến Phục vụ Cộng đồng (CSIP - Centre for Social Initiatives Promotion) - đơn vị đi đầu trong việc hỗ trợ giúp đỡ khởi sự các DNXH tại Việt Nam, số lượng doanh nghiệp hoạt động như DNXH hiện nay tại Việt Nam khoảng 200, trong đó gần 100 DNXH đã đăng ký chính thức. Mặc dù còn nhiều hạn chế nhưng tiềm năng và vai trò của các DNXH trong bối cảnh Việt Nam vẫn còn rất lớn. Những doanh nghiệp này giúp cải thiện cuộc sống cho hơn 600,000 người, đa số là người dân ở vùng sâu, những lao động khuyết tật, dân tộc thiểu số và tạo việc làm cho hơn 100,000 người ở nhiều lĩnh vực khác nhau (CSIP, 2018). Ngoài ra, tinh thần khởi sự kinh doanh xã hội cũng bắt đầu được lan rộng trong cộng đồng.
Các khái niệm về DNXH, khởi sự kinh doanh xã hội cũng bắt đầu nhận được nhiều sự quan tâm của giới trẻ, các doanh nhân thương mại, các nhà tài trợ…nhưng có một thực tế là số lượng DNXH tại Việt Nam vẫn còn ít mặc dù tiềm năng của loại hình này là rất lớn và các nhà hoạch định chính sách vẫn đang tìm cách để làm tăng số lượng DNXH và doanh nhân xã hội. Về mặt học thuật, tác giả thực hiện tìm kiếm cụm từ social entrepreneurship trong trường chủ đề (tiêu đề /tóm tắt/ từ khóa) trên các cơ sở dữ liệu uy tín. Kết quả tìm kiếm ban đầu có 1,670 ấn phẩm. Trong số này, có 392 ấn phẩm bị loại trùng lắp nội dung hoặc chúng không liên quan đến khởi sự kinh doanh xã hội.
Kết quả là, còn lại 1,278 ấn phẩm được chọn để phân tích các chủ đề trong khởi sự kinh doanh xã hội bằng phương pháp đồng trích dẫn. Đồng trích dẫn (co-citation) được định nghĩa là tần suất hai ấn phẩm được trích dẫn cùng nhau bởi các ấn phẩm khác (Small, 1973). Nói cách khác, đồng trích dẫn xảy ra khi hai tài liệu tham khảo, A và B, được trích dẫn bởi nghiên cứu C, cho thấy mối quan hệ đồng trích dẫn giữa hai tài liệu A và B. Hai tài liệu thường xuyên được trích dẫn cùng nhau (được trích dẫn bởi C, D và E), sức mạnh đồng trích dẫn của chúng càng cao và càng có nhiều khả năng chúng có liên quan với nhau (Ferreira, 2018).
Tác giả sử dụng phần mềm VOSViewer (van Eck và Waltman, 2009; Waltman, 2017) để phân tích đồng trích dẫn 1,278 ấn phẩm này. Kết quả phân tích đồng trích dẫn cho thấy các ấn phẩm về khởi sự kinh doanh xã hội 3 hình thành năm nhóm chủ đề (Hình 1. Các chủ đề này được đặt tên dựa trên nội dung những ấn phẩm có số lượng trích dẫn nhiều trong chủ đề đó (Bảng 1. KHỞI SỰ KINH DOANH XÃ HỘI Nhóm 1.
Sự phát triển Bricolage và Sự nhận thức Nhóm 5. Sự đổi mới xã khái niệm khởi các vấn đề liên cơ hội, động Bối cảnh trong hội trong khởi sự kinh doanh quan đến quản lực và ý định khởi sự kinh sự kinh doanh xã hội và lý trong kinh khởi sự kinh doanh xã hội xã hội DNXH doanh xã hội doanh xã hội (Nguồn: kết quả phân tích đồng trích dẫn của tác giả) Hình 1.1 Các nhóm nghiên cứu trong chủ đề khởi sự kinh doanh xã hội Bảng 1.1 Các nhóm nghiên cứu trong khởi sự kinh doanh xã hội từ phân tích đồng trích dẫn Nhóm Nghiên cứu tiêu biểu Nhóm 1. Sự phát triển khái Mair và Marti (2006), Austin và cộng sự (2006), niệm khởi sự kinh doanh xã Chell (2007), Sharir và Lerner (2006), Thompson hội và DNXH và cộng sự (2000), Nicholls (2006), Dees (1998). Datta và Gailey (2012), Granovetter (1985), Nhóm 2.
Bricolage và các vấn Doherty và cộng sự (2014), Desa (2012), Desa và đề liên quan đến quản lý trong Basu (2013), Haugh (2007), Pache và Santos kinh doanh xã hội (2013), Montgomery và cộng sự (2012). Sự nhận thức cơ hội, Shapero và Sokol (1982), Krueger và cộng sự động lực và ý định khởi sự (2000), Mair và Marti (2006), Liñán và Chen kinh doanh xã hội 4 Nhóm Nghiên cứu tiêu biểu (2009), Nga và Shamuganathan (2010), Hockerts (2017), Corner và Ho (2010). Sự đổi mới xã hội Chell và cộng sự (2010), Nicholls (2008), trong khởi sự kinh doanh xã Nicholls (2009), Perrini và cộng sự (2010), Shaw hội và de Bruin (2013), Smith và Stevens (2010). Bối cảnh trong khởi Lepoutre và cộng sự (2013), Zahra và cộng sự sự kinh doanh xã hội (2009), Bacq và cộng sự (2013), Stephan và cộng sự (2015), Estrin và cộng sự (2013), McMullen (2011).
(nguồn: tác giả tổng hợp) Nhóm nghiên cứu đầu tiên là sự phát triển khái niệm khởi sự kinh doanh xã hội và DNXH, tập trung vào xây dựng các khái niệm và các cách tiếp cận khác nhau về khởi sự kinh doanh xã hội và DNXH. Nhóm nghiên cứu thứ hai đề cập đến bricolage và các vấn đề liên quan đến quản lý trong khởi sự kinh doanh xã hội. Bricolage trong khởi sự kinh doanh xã hội bao gồm các hoạt động được thúc đẩy bởi việc theo đuổi các nguồn lực khan hiếm để tạo ra các giải pháp sáng tạo và có giá trị, tạo ra các giá trị xã hội (Bacq và cộng sự, 2015). Các khía cạnh khác nhau của bricolage được xem xét trong nhóm nghiên cứu này.
Ngoài ra, các vấn đề liên quan đến quản trị trong DNXH cũng được xem xét như chiến lược, sự hợp tác, huy động nguồn lực, công nghệ, quản lý tài chính, định hướng thị trường. Nhóm nghiên cứu thứ ba bao gồm các nghiên cứu về nhận thức cơ hội và ý định khởi sự kinh doanh xã hội, giải thích quá trình xác định cơ hội và hình thành ý định khởi sự kinh doanh xã hội. Ngoài ra, các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự kinh doanh xã hội cũng là hướng nghiên cứu chính trong nhóm nghiên cứu này. Nhóm nghiên cứu thứ tư giải thích cách thức DNXH tác động đến xã hội để tạo ra đổi mới xã hội, thay đổi xã hội và giá trị xã hội.
Nhóm nghiên cứu cuối cùng đề cập đến vai trò của các yếu tố thuộc về bối cảnh, thể chế, thảo luận về các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến khởi sự kinh doanh xã hội. 5 Từ lược khảo về khởi sự kinh doanh xã hội đã thực hiện ở trên, có thể thấy nhóm nghiên cứu về sự nhận thức cơ hội, động lực và ý định khởi sự kinh doanh xã hội (nhóm 3) là chủ đề nhận được nhiều sự quan tâm từ giới học thuật minh chứng thông qua số lượng lớn các nghiên cứu trong nhóm này. Tuy nhiên, hiện nay có một vấn đề đang được báo động là mức độ kinh doanh xã hội vẫn rất thấp ở các nước trên thế giới đặc biệt là các nước đang phát triển như Việt Nam mặc dù tiềm năng của hình thức kinh doanh này tại Việt Nam vẫn là rất lớn. Krueger (2003) giải thích rằng kinh doanh chỉ có thể phát triển nếu chất lượng và số lượng doanh nhân tăng lên.
Chính vì vậy tăng số lượng DNXH là mong muốn cấp bách để phát triển kinh doanh xã hội tại Việt Nam. Ý định kinh doanh là một trong những chỉ báo tốt nhất cho hành vi kinh doanh (Ajzen và Fishbein, 1980). Do đó, để có thể có chiến lược phát triển kinh doanh xã hội, thì việc nghiên cứu ý định khởi sự kinh doanh xã hội là vô cùng cần thiết. Hiện nay, tại Việt Nam đang có sự gia tăng về số lượng của các tổ chức hỗ trợ phát triển DNXH với nhiều loại hình hỗ trợ khác nhau như cung cấp miễn phí các khóa học, đào tạo và dịch vụ tư vấn, gọi vốn.
Các tổ chức có nhiều kinh nghiệm trong khởi sự kinh doanh xã hội tại Việt Nam như Cộng đồng DNXH Việt Nam (SSEC), Seed Planters, Trung tâm Hỗ trợ Sáng kiến Phục vụ Cộng đồng (CSIP), HATCH! và Evergreen Labs. Ngoài ra, một số cơ sở ươm tạo DNXH cũng được chính phủ thành lập như trung tâm đổi mới Sài Gòn (SiHUB), Trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp cho thanh niên (sYs), BKHUP và Chương trình Quốc gia khởi nghiệp cũng góp phần phát triển khởi sự kinh doanh xã hội tại Việt Nam. Những đặc điểm này đã khiến Việt Nam trở thành một khu vực phù hợp để thực hiện nghiên cứu về ý định khởi sự kinh doanh xã hội. Về mặt học thuật, tác giả cũng thực hiện tìm kiếm những ấn phẩm bằng tiếng Anh trên các cơ sở dữ liệu uy tín với cụm từ social, entrep* and intent* để lược khảo các nghiên cứu về ý định khởi sự kinh doanh xã hội.
Tác giả đọc kỹ các tiêu đề, tóm tắt và từ để loại bỏ các bài báo trùng lặp và nghiên cứu không liên quan đến chủ đề nghiên cứu.