mở đầu bằng việc trình bày tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài luận án, từ đó nêu ra câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu cùng phương pháp nghiên cứu được giới thiệu tiếp theo. Ý nghĩa, đóng góp của công trình nghiên cứu cũng được trình bày trong phần này nhằm cung cấp một góc nhìn tổng quát về đề tài nghiên cứu. Cuối chương là phần trình bày bố cục của luận án.1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài luận án 1.1 Bối cảnh thực tiễn Doanh nhân xã hội và kinh doanh xã hội đã tồn tại trong nhiều thế kỷ, nhưng thuật ngữ kinh doanh xã hội bắt đầu được đề cập từ vài thập kỷ gần đây (Gupta và cộng sự, 2020; Zaremohzzabieh và cộng sự, 2019).
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) định nghĩa: “Doanh nghiệp xã hội (DNXH) là những tổ chức hoạt động dưới nhiều hình thức pháp lý khác nhau vận dụng tinh thần doanh nhân nhằm theo đuổi cùng lúc cả hai mục tiêu xã hội và kinh tế. DNXH thường cung cấp các dịch vụ xã hội và việc làm cho các nhóm yếu thế ở cả thành thị và nông thôn. Ngoài ra, DNXH còn cung cấp các dịch vụ cộng đồng, trên các lĩnh vực giáo dục, văn hóa, môi trường”. Loại hình doanh nghiệp này đã cung cấp các mô hình sáng tạo nhằm giải quyết tích cực các vấn đề của xã hội, lấp đầy khoảng trống của các chương trình phúc lợi xã hội quốc gia (Gupta và cộng sự, 2020).
Không giống như các doanh nghiệp thương mại và các tổ chức phi lợi nhuận, KSKD xã hội chú trọng vào những mục tiêu xã hội bằng việc áp dụng các mô hình kinh doanh định hướng lợi nhuận (Baglioni và cộng sự, 2018). Do những lợi ích kinh tế và xã hội của KSKD xã hội, những nhà hoạch định chính sách và cộng đồng học thuật đang cố gắng tìm cách thúc đẩy hiện tượng này (Brieger & De Clercq, 2019; Tiwari và cộng sự, 2017a). Tại Việt Nam, DNXH cũng đã xuất hiện từ rất sớm. Một số DNXH tiên phong đã bắt đầu xuất hiện từ năm 1990 như Trường Hoa Sữa, Nhà hàng KOTO tại Hà Nội, Mai Handicrafts tại TP.
Theo báo cáo chính thức do Trung tâm Khởi nghiệp luan an 2 và Sáng tạo Xã hội (CSIE) và Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) công bố thì số lượng DNXH đã đăng ký chính thức với chính phủ là 80 (Nguyễn Đình Cung, 2019). Tuy nhiên, số lượng DNXH theo Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) ước tính dựa trên các đặc điểm của DNXH với ba loại hình: doanh nghiệp vừa và nhỏ, hợp tác xã và các tổ chức phi chính phủ thì số DNXH ở Việt Nam vào khoảng 19. Bên cạnh đó, báo cáo GEM 2015 về KSKD xã hội cho thấy trong số 58 nền kinh tế tham gia khảo sát, Việt Nam có 1,1% người trưởng thành bắt đầu khởi nghiệp và tham gia vào các hoạt động xã hội. Tỷ lệ này thấp hơn mức trung bình là 3,2% của thế giới.
Thậm chí nếu xét chi tiết hơn, tỷ lệ người trưởng thành KSKD các DNXH ở Việt Nam rất thấp, chỉ đạt 0,45% so với mức 1,1% ở các hoạt động xã hội và 13,7% ở các hoạt động kinh doanh thông thường (Bosma và cộng sự, 2016). Các số liệu trên chứng tỏ rằng các DNXH ở Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn phát triển ban đầu, cho dù tiềm năng loại hình kinh doanh đặc biệt này vẫn còn rất lớn. Tốc độ tăng trưởng chậm của DNXH thực sự là một vấn đề cho các quốc gia, bởi vì có thể họ đã bỏ qua một phương thức mới để hỗ trợ nhiều hơn cho công dân của mình (Bikse và cộng sự, 2015). Chính vai trò xúc tác quá trình giải quyết các lỗ hổng trong phát triển xã hội, kinh tế và chính trị, các DNXH giúp thúc đẩy sự phát triển kinh tế và xã hội (Tiwari và cộng sự, 2017a).
Thậm chí, KSKD xã hội được nhìn nhận như yếu tố then chốt cho một quốc gia phát triển bền vững (Lacap và cộng sự, 2018). Do đó, sự phát triển của DNXH được coi là cơ hội để tăng trưởng, đặc biệt là ở các nước mới nổi (Kabbaj và cộng sự, 2016). Có thể nhận thấy rằng sự phát triển các DNXH ở Việt Nam không phải là một lựa chọn mà là một điều cần thiết để đạt được sự phát triển bền vững về con người và kinh tế. Đây cũng là một câu hỏi nhận được nhiều sự quan tâm và cần làm rõ đối với cộng đồng cũng như các nhà hoạch định chính sách là làm thế nào để nâng cao chất lượng và số lượng DNXH ở Việt Nam? Krueger (2003) cho rằng một hình thức kinh doanh sẽ phát triển khi mà chất lượng cũng như số lượng các nhà doanh nhân của hình thức đó tăng lên.
Như vậy, ý định KSKD được xem như chỉ báo tin cậy cho hành vi khởi nghiệp (Liguori và cộng sự, 2020). Chính vì vậy, về mặt thực tiễn, cần có luan an 3 nghiên cứu làm rõ ý định KSKD xã hội, nhằm giải thích các nhân tố tác động đến quá trình hình thành ý định này, vì nó đóng vai trò quan trọng trong việc hiểu lý do tại sao một người nào đó chọn trở thành doanh nhân xã hội. Do vậy, để có các phương án hỗ trợ phù hợp trong việc thúc đẩy sự ra đời những doanh nghiệp xã hội, cần phải nghiên cứu và phân tích về các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tư duy của các cá nhân. Mặc dù hầu hết các nghiên cứu trong bối cảnh quốc tế tập trung vào các phân tích cấp độ cá nhân, tuy nhiên, phần lớn đều tập trung xem xét các tiền đề và điều kiện tiên quyết cần thiết để khuyến khích các hoạt động kinh doanh xã hội gắn với từng khu vực, quốc gia cụ thể (Anh và cộng sự, 2021; Brieger & De Clercq, 2019).
Cho đến nay vẫn còn rất ít các nghiên cứu được thực hiện trong bối cảnh của các quốc gia mới nổi (Tiwari & Bhat, 2020). Các kết quả nghiên cứu trước đây có thể chưa phù hợp khi áp dụng vào đặc thù KSKD xã hội ở Việt Nam. Với những lập luận trên, luận án tập trung vào Việt Nam như một trường hợp nghiên cứu, để chứng minh ứng dụng thực tế của KSKD xã hội ở một quốc gia mới nổi.2 Bối cảnh lý thuyết KSKD xã hội, vừa là một lĩnh vực mới nổi vừa là động lực để tạo ra sự thay đổi xã hội sâu sắc, liên quan đến nhiều lĩnh vực khác như kinh doanh (Müller, 2012), xã hội học (Goss và cộng sự, 2011; Maurer, 2012), quản trị công (Hosu, 2012; Short và cộng sự, 2009) và công tác xã hội (Berzin, 2012; Germak & Singh, 2009; Savaya và cộng sự, 2008). Kể từ khi trở thành một trong các chủ đề được quan tâm từ phía các nhà chuyên môn lẫn cộng đồng học thuật, những nghiên cứu KSKD xã hội đã tăng lên rõ rệt (Rey-Martí và cộng sự, 2016).
Trong bối cảnh KSKD xã hội, ý định khởi sự đề cập ý định khởi nghiệp có ý thức để giảm bớt các vấn đề xã hội bằng các phương tiện kinh doanh và được coi là yếu tố dự báo chính về hành vi KSKD xã hội (Hockerts, 2017). Trước đó, Liñán và Fayolle (2015) còn tuyên bố rằng ý định KSKD xã hội chắc chắn là chủ đề hứa hẹn nhất và cần được khám phá thêm. Sự xuất hiện ngày càng nhiều các công bố khoa học đã cho thấy sự quan tâm của giới học thuật về lĩnh vực KSKD xã hội (Luc, 2020a; Tiwari & Bhat, 2020; Zaremohzzabieh và cộng sự, 2019; Y. Zhang và cộng sự, 2021).
luan an 4 Carsrud và Brännback (2011) đã lập luận rằng để hiểu các ý định khởi sự phát triển như thế nào, cần tìm ra được các lý thuyết phản ánh các động lực trong quá trình ra quyết định của các cá nhân. Ý định KSKD xã hội thường được xem xét dưới góc độ hành vi tâm lý và là quá trình nhận thức, lên kế hoạch (Grégoire và cộng sự, 2011; Krueger, 2017). Cách tiếp cận này có lợi thế khi sử dụng các lý thuyết từ các ngành khác như tâm lý học và khoa học hành vi khác để hiểu động lực, tâm trí và hành vi của doanh nhân xã hội (Carsrud & Brännback, 2011; Zaremohzzabieh và cộng sự, 2019). Các lý thuyết được khẳng định trong lĩnh vực kinh doanh truyền thống đã được ứng dụng vào KSKD xã hội như: lý thuyết hành vi hoạch định (TPB) của Ajzen (1991) tiếp cận từ góc độ hành vi xã hội hợp lý do Ernst (2011) tiên phong; mô hình tiềm năng khởi nghiệp (EPM) của Krueger và Brazeal (1994) do Mair và Noboa (2005) giới thiệu; mô hình của sự kiện khởi nghiệp (SEE) của Shapero và Sokol (1982) cũng do chính Mair và Noboa (2006) đề nghị và được xem như mô hình dành riêng cho lĩnh vực KSKD xã hội.
Gần đây, Tran và Von Korflesch (2016) ứng dụng lý thuyết nghề nghiệp nhận thức xã hội (SCCT) (Lent và cộng sự, 1994) để giải thích ý định kinh doanh xã hội dựa trên nhận thức năng lực và kỳ vọng kết quả của hành vi. Nhìn chung, trong lĩnh vực KSKD xã hội, lý thuyết TPB và SEE đang là các lý thuyết nền được ứng dụng nhiều nhất (Zaremohzzabieh và cộng sự, 2019). Tuy nhiên, hai lý thuyết này đều có sự hạn chế khi quá tập trung vào sự nhận thức cá nhân mà chưa xét đến sự tương tác của cá nhân trong bối cảnh nhận thức xã hội (Stirzaker và cộng sự, 2021). Lý thuyết TPB giả định cách tiếp cận theo chủ nghĩa hành vi trong đó môi trường của một người gây ra ý định và hành vi, bỏ qua các quá trình và nhận thức cá nhân như tính cách và kỳ vọng kết quả (Bandura, 1986; Miles, 2012).
Còn với lý thuyết SEE được sử dụng thông qua Mair và Noboa (2006) thì các yếu tố dẫn dắt cảm xúc và đạo đức được ưu tiên hơn các ảnh hưởng theo ngữ cảnh và tình huống. Do đó, hai lý thuyết này bỏ qua tầm quan trọng của sự tương tác với môi trường xã hội của cá nhân trong việc định hình hành vi KSKD xã hội (Stirzaker và cộng sự, 2021). Trong khi đó lý thuyết SCCT xem sự tương tác giữa các yếu tố cá nhân và bối luan an 5 cảnh là những yếu tố quyết định quan trọng đối với các quá trình tạo động lực thúc đẩy hành vi lựa chọn nghề nghiệp (trở thành một doanh nhân xã hội) (Lent và cộng sự, 1994). Do đó, lý thuyết SCCT có thể là sự bổ sung cần thiết nhằm phát triển một lý thuyết toàn diện hơn về KSKD xã hội.