Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài Chương này trình bày các lý do, câu hỏi, mục tiêu, đối tượng cũng như phạm vi, phương pháp nghiên cứu của đề tài và cấu trúc bài nghiên cứu. - Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu trước đây Nêu các khái niệm, các lý thuyết có liên quan đến bài nghiên cứu. Đồng thời, nêu các kết quả thực nghiệm của những bài nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến vấn đề khởi nghiệp, từ đó rút ra nhận xét, so sánh, đề xuất mô hình và giả thuyết cho đề tài nghiên cứu. - Chương 3: Phương pháp nghiên cứu 6 0 0 Trình bày các phương pháp luận, bao gồm các bước quy trình nghiên cứu.
thiết kế bảng câu hỏi, thu thập dữ liệu, xây dựng thang đo cho các biến số. - Chương 4: Kết quả nghiên cứu Trình bày phân tích dữ liệu và kết quả phân tích dữ liệu, thảo luận kết quả nghiên cứu. - Chương 5: Kết luận, giải pháp và kiến nghị Tóm tắt kết quả nghiên cứu, đóng góp của đề tài, ý nghĩa thực tiễn của đề tài và đề xuất một số giải pháp áp dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn, hạn chế của đề tài và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.
Lý thuyết hành động hợp lý 2. Các giá trị 7 0 0 Bao gồm các yếu tố như nhân khẩu học, năng lực cá nhân, đặc điểm tính cách, các yếu tố xã hội, môi trường và văn hóa. Nhóm yếu tố nhân khẩu học (Demographic factors) Yếu tố nhân khẩu học bao gồm tuổi, giới tính, tôn giáo, quốc tịch, truyền thống kinh doanh của gia đình. Bài nghiên cứu sẽ đi sâu vào ảnh hưởng của yếu tố giới tính tới ý định khởi nghiệp.
Giới tính là mối quan hệ tương quan giữa nam với nữ trong một bối cảnh cụ thể, nói lên vai trò, trách nhiệm, quyền lợi xã hội của nam với nữ. Do được quy định bởi bản chất xã hội, nên hoàn cảnh xã hội khác nhau, bối cảnh khác nhau dẫn đến mối quan hệ giới tính khác nhau. Sự kiểm soát hành vi giải thích ý định khởi nghiệp của nữ yếu hơn của nam; vì phụ nữ khởi nghiệp mong muốn cân bằng các giá trị xã hội hơn nam (dành thời gian nhiều hơn cho gia đình, con cái…) nên phụ nữ trong khởi nghiệp ít thành tựu hơn nam. Như vậy, có sự mâu thuẫn rõ ràng trong kết quả của các nghiên cứu về giới tính ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp.
Nghiên cứu này đề xuất nên xem xét vai trò của giới tính hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên nam và nữ Việt Nam cần được nghiên cứu thêm. Nhóm yếu tố năng lực cá nhân (Personal Characteristics) Yếu tố năng lực cá nhân bao gồm trình độ chuyên môn, kỹ thuật, năng lực kinh doanh, năng lực quản lý, kiến thức kỹ năng, kinh nghiệm. Kinh nghiệm của những người khởi nghiệp có thể tích lũy từ nhiều nguồn khác nhau, nhưng có một điểm chung là xuất phát từ trải nghiệm cá nhân của chính họ. Họ có thể tích lũy kinh nghiệm từ những bài học kinh doanh trong cuộc sống, hoặc trải nghiệm kinh doanh của mình.
Kiến thức giáo dục nền tảng đóng vai trò quan trọng trong việc định hình những ý định ban đầu về khởi nghiệp, kiến thức bao gồm trong các lĩnh vực như marketing, tài chính, chính trị, quản trị… Những kiến thức này có thể được cung cấp và đạo tạo trong trường lớp, tài liệu, kiến thức online… Các kỹ năng bao gồm kỹ năng cứng và kỹ năng mềm. 8 0 0 Hiện nay, các trường đại học đều đã chú trọng hơn trong việc đào tạo kỹ năng mềm cho sinh viên thông qua các hoạt động ngoại khóa, kết hợp thực hành các kỹ năng mềm trong các môn học. Kỹ năng giao tiếp, xây dựng các mối quan hệ là nền tảng cho khởi nghiệp thành công, các mối quan hệ là những nguồn hỗ trợ hiệu quả cho những doanh nhân tiềm năng. Đồng thời, giáo dục khởi nghiệp đã trở thành một nhân tố quan trọng trong nỗ lực của nhiều nước nhằm tác động đến tư duy của con người, khiến họ có tinh thần khởi nghiệp hơn.
Hình thức giáo dục này không nhằm dạy một kỹ năng cụ thể liên quan đến khởi nghiệp mà hướng đến việc giới thiệu quan niệm về khởi nghiệp, tầm quan trọng của nó trong xã hội, và một vài năng lực quan trọng của một người kinh doanh ví dụ như tiên phong thực hiện. Đặc biệt, việc tham gia các chương trình đào tạo khởi nghiệp nói riêng sẽ đóng góp rất lớn trong việc hình thành và phát triển ý định khởi nghiệp cho sinh viên. Nhiều bài nghiên cứu đã khẳng định mối quan hệ giữa học vấn và khởi nghiệp, Kwong, Evans & Brooksbank (2006) khẳng định cá nhân có bằng tốt nghiệp đại học thường tham gia vào những giai đoạn đầu của hoạt động khởi nghiệp hơn so với những người không có bằng cấp và trở thành chủ của các công ty có mức tăng trưởng cao. Nhóm yếu tố đặc điểm tính cách (Personality traits) Theo Meredith và các cộng sự đã tóm tắt 5 đặc điểm tính cách cá nhân mà mỗi nhà khởi nghiệp doanh nghiệp đều có, bao gồm: sự tự tin, sự năng động nhạy bén, có hoài bão, sự tự chủ cao, và sự sẵn sàng chấp nhận rủi ro.
Sự sẵn sàng và chấp nhận rủi ro là quan niệm và thái độ của mỗi người trước những rủi ro và mạo hiểm trong cuộc sống, có người ưa thích rủi ro, có người ghét rủi ro và có người trung lập với rủi ro. Chính vì vậy, thái độ của mỗi người với rủi ro ảnh hưởng đến ý định và quyết định hành động của mình. Nhiều người tránh rủi ro bằng cách chọn cho mình một công việc với mức lương ổn định, luôn nghĩ rằng khởi nghiệp đi liền với rủi ro. Chi phí thất bại với rủi ro được cân nhắc cẩn thận.
Lý thuyết hành vi có kế hoạch 2. Nhóm các yếu tố xã hội (Social factors) Xã hội là yếu tố ảnh hưởng lớn đến ý định khởi nghiệp, bao gồm các yếu tố: vai trò, tầm ảnh hưởng của nhà khởi nghiệp kinh doanh trong xã hội; hỗ trợ từ phía xã 9 0 0 hội; hỗ trợ từ phía gia đình. Nhiều người nhận định khởi nghiệp là một lựa chọn nghề nghiệp đúng đắn hoặc đáng ngưỡng mộ, trong khi đó số khác rất xem trọng khởi nghiệp, điều này đến từ thực tế những người khởi nghiệp thành công có địa vị khá cao và được tôn trọng.Ngược lại, một bộ phận xã hội xem khởi nghiệp nói chung và những người chọn con đường khởi nghiệp nói riêng là không khôn ngoan vì chứa đựng quá nhiều sự không chắc chắn. Ngày nay nhiều nước đã có những giải thưởng riêng nhằm vinh danh những nhà khởi nghiệp hoặc tạo nên các chiến dịch về khởi nghiệp.
Thái độ của xã hội đến khởi nghiệp ảnh hưởng đến nhận thức về khởi nghiệp và ý định khởi nghiệp, định hưởng thái độ của cá nhân đối với ý định khởi nghiệp. Nhóm các yếu tố văn hóa (Cultural factors) Văn hóa thể hiện sự tác động mạnh mẽ đến ý định khởi nghiệp, sự tồn tại của văn hóa khởi nghiệp là một minh chứng. Ví dụ điển hình nhất cho sự tác động của văn hóa, là trường hợp các quốc gia thu nhập cao ở Châu Âu. Mặc dù số liệu điều tra từ Global Entrepreneurship Monitor qua các năm 2007, 2008, 2009, 2010 cho thấy người dân có nhận định rất tốt về khởi nghiệp nhưng phần lớn lại không có ý định khởi nghiệp bởi một trong những lý do chính là không hề tồn tại văn hoá khởi nghiệp ở các quốc gia này (Bosma, Jones, Autio, & Levie, 2007; Bosma, Acs, Autio, Coduras, & Levie, 2008; Bosma & Levie, 2009; Kelly, Bosma, & Amóros, 2010).
Điều đó lý giải vì sao sinh viên ở đây thích đi làm công cho các doanh nghiệp hơn là tìm kiếm cơ hội khởi nghiệp. Các yếu tố văn hóa có thể được hiểu là chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa tập thể, văn hóa ở đây không chấp nhận sự bất ổn định. Nhóm các yếu tố môi trường (Environmental factors) Môi trường là một yếu tố khách quan tác động đến ý định của cá nhân, bao gồm: nguồn lực kinh tế, cơ hội việc làm, thể chế chính trị. Hệ sinh thái khởi nghiệp bao gồm thể chế chính trị - văn hóa – xã hội liên quan đến khởi nghiệp tác động mạnh mẽ tới mỗi cá nhân tồn tại trong môi trường đó, đến sự hình thành và nâng cao ý định khởi nghiệp.
Các cơ hội kinh doanh có xu hướng cao hơn ở các nước có thị trường tự do, ít rào cản, tình hình chính trị ổn định. Ngược lại, cơ chế chính sách bất ổn sẽ tác động tiêu cực đến ý định kinh doanh, khởi nghiệp của các cá nhân. CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY VỀ Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP 2. Các nghiên cứu trong nước + Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự: Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự Doanh nghiệp của sinh viên khối ngành Quản trị kinh doanh tại các trường Đại học/Cao đẳng ở Cần Thơ.
Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự doanh nghiệp của 400 sinh viên khối ngành quản trị kinh doanh tại các trường đại học, cao đẳng ở thành phố Cần Thơ. Nghiên cứu cho thấy rằng thái độ, sự đam mê, sự sẵn sàng kinh doanh, quy chuẩn chủ quan, giáo dục đã tác động ý nghiệp khởi nghiệp của sinh viên. Trong đó, yếu tố thái độ và sự đam mê có tác động mạnh nhất đến ý định khởi nghiệp của sinh viên ngành quản trị kinh doanh. + Phan Anh Tú và Trần Quốc Huy: Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên trường Đại học Công nghệ Cần Thơ.
Nghiên cứu khám phá có tác động nhân quả đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên trường Đại học Kỹ thuật Công nghệ Cần Thơ. Đó là đặc điểm tính cách, thái độ cá nhân, nhận thức và thái độ, giáo dục khởi nghiệp, nhận thức điều khiển hành vi, quy chuẩn và thái độ, quy chuẩn chủ quan, trong khi kiểm soát các biến gồm giới tính, tuổi, gia đình kinh doanh và kinh nghiệm làm việc trước. Các nghiên cứu liên quan trên thế giới + Maria-Ana Georgescu and Emilia Herman: The Impact of the Family Background on Students’ Entrepreneurial Intentions: An Empirical Analysis. Maria-Ana Georgescu và Emilia Herman: Tác động của bối cảnh gia đình đối với ý định kinh doanh của sinh viên: Phân tích thực nghiệm.