MỞ ĐẦU 1. Lý do hình thành đề tài Khởi nghiệp từ lâu đã luôn đóng vai trò quan trọng trong nên kinh tế, khi có sự xuất hiện của một doanh nghiệp mới đồng nghĩa với việc sẽ có nhiều việc làm được tạo ra, dẫn tới tỷ lệ thất nghiệp giảm, điều này góp phần thúc đây sự phát triển kinh tế. Ở Việt Nam ngày càng có nhiều người quan tâm đến khởi nghiệp, đặc biệt là giới trẻ và sinh viên. Khởi nghiệp là một quá trình lâu dài và day thử thách, không phải ai khởi nghiệp cũng sẽ thành công và đem lại nhiều đóng góp cho xã hội.
Sự thành công của doanh nhân chịu tác động của nhiều yếu tổ như: kiến thức, khả nang, tính cách, thái độ, kinh nghiệm, môi trường kinh doanh. Đối với sinh viên, sự thử thách này còn khó khăn hơn bởi kiến thức và kinh nghiệm của phần lớn các bạn là chưa nhiều. Nhưng vì lực lượng sinh viên là nguồn lực quan trọng cho khởi nghiệp (Wang và Wong, 2004), nên xã hội cần phải quan tâm và tận dụng hiệu quả nguồn lực phong phú này. Vì vậy, nhiều tô chức và doanh nghiệp Việt Nam đang cô gắng tao mọi điều kiện dé hỗ trợ cho sinh viên từ khâu ý tưởng đến khâu thực hiện khởi nghiệp, trong đó có thé kế đến ITP (Khu công nghệ Phần mềm ĐHQG TP.
Hiện nay, ITP đang triển khai dự án hỗ trợ khởi nghiệp cho cộng đồng nói chung và sinh viên nói riêng với nhiều tiện ich, tư vẫn và huấn luyện khởi nghiệp, nhằm tạo ra một hệ sinh thái khởi nghiệp khép kin cùng với mong muốn phát triển mạnh cộng đồng khởi nghiệp và sáng tạo trong sinh viên ngành công nghệ, đặc biệt là sinh viên CNTT và truyền thông tại Việt Nam. Tuy nhiên, do các nghiên cứu về khởi nghiệp trong nước không nhiều, đặc biệt là rất ít nghiên cứu về khởi nghiệp của sinh viên (chỉ có “Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tô tính cách cá nhân đến tiêm năng khởi nghiệp của sinh viên” của Bùi và ctg, 2011); nên việc thu thập thông tin và đưa ra các giải pháp hỗ trợ sinh viên khởi nghiệp hiệu quả còn nhiều hạn chế. Vì vậy, dé ITP và các tổ chức liên quan có thé hỗ trợ và xây dựng các dịch vụ nên tảng cần thiết trong việc tạo ra môi trường khởi nghiệp công nghệ, ĐHQG có thể thiết kế chương trình dao tao, quản trị cho sinh 2 viên, theo định hướng thúc đây ý định khởi nghiệp cho sinh viên ngành CNTT nói riêng, sinh viên ĐHQG TP.HCM nói chung thì cần có những nghiên cứu cụ thé về ý định khởi nghiệp của sinh viên và các yếu t6 tác động lên ý định khởi nghiệp đó. Chính vì vậy, dé tài “Các yêu tổ ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên công nghệ thông tin” được xây dựng nhằm cung cấp phần nào thông tin cho những mục đích nói trên.
Mục tiêu đề tài Xác định các yếu tô tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên CNTT. Xác định mức độ tác động của các yếu tố này đến ý định khởi nghiệp của sinh viên CNTT. Phân tích và đánh giá sự khác biệt giữa sinh viên các trường đại học trong và ngoài ĐHQG TP.HCM đối với van dé nghiên cứu. Phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Sinh viên CNTT trong và ngoài ĐHQG TP.
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 12/2014 đến tháng 5/2015. Ý nghĩa của đề tài Đối với ITP và các tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp: Nghiên cứu giúp nhận diện được thực trạng về nhu cầu khởi nghiệp của các bạn sinh viên CNTT, nhận biết được các nhân tô nào cần được tác động dé nâng cao ý định khởi nghiệp, từ đó ITP và các tổ chức liên quan có thể hỗ trợ và xây dựng các dịch vụ nên tảng cần thiết để tạo ra môi trường khởi nghiệp phù hợp nhất cho các bạn sinh viền. Đối với ĐHQG TP.HCM: Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo cho các nhà quản trị của các trường Đại học thành viên của ĐHQG TP.HCM thiết kế chương trình đảo tạo, quản trị cho sinh viên, theo định hướng thúc đây ý định khởi nghiệp cho sinh viên ngành CNTT nói riêng, sinh viên ĐHQG TP. 3 — Đối với sinh viên: Nghiên cứu chỉ ra những nhân tố có tác động đến ý định khởi nghiệp của bản thân sinh viên, từ đó có thể giúp sinh viên chủ động hơn trong việc thu thập thông tin, tích lũy kiến thức và tìm kiếm những nguồn hỗ trợ.
Phương pháp nghiền cứu 1.1 Lựa chọn phương pháp nghiên cứu — Két hợp nghiên cứu tai bàn và nghiên cứu khảo sát. — — Nghiên cứu tại ban: Thu thập và xử lý dữ liệu thứ cấp phục vụ cho mục tiêu dé tài. — Nghiên cứu khảo sát: Sử dụng phương pháp định tính và định lượng để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên CNTT trong và ngoài ĐHQG TPHCM. Nguồn dữ liệu và phương pháp thu thập — _ Dữ liệu thứ cấp: Đề tài sử dụng các nguồn tài liệu chính sau: e “The Theory of Planned Behaviour” của Icek Ajzen đăng trên Organizational Behavior and Human Decision Processes nam 1991.
e “Entrepreneurial Intentions of Young Educated Public in Turkey” cua Gulruh Gurbuz va Sinem Aykol dang trén Journal of Global Strategic Management nam 2008. e Cac bài báo khoa học liên quan đến khởi nghiệp. — — Dữ liệu sơ cấp e Khao sát định tính: Phỏng van các chuyên gia dé thu thập thông tin về van dé khởi nghiệp. e Khao sát định lượng: thu thập ý kiến cá nhân thông qua các bảng khảo sát về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên CNTT trong và ngoài DHQG TP.
Công cu phân tích dit liệu: Sử dụng phần mềm SPSS 21 dé phân tích dữ liệu. 4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYÉT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Cac khái niệm liên quan 2. Khởi nghiệp Theo từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học do Hoàng Phê chủ biên xuất bản năm 2006, khởi nghiệp là “bắt đầu sự nghiệp”.
Phạm (2010) cũng có dé cập đến ý nghĩa của cụm từ này trong bài nghiên cứu của mình. Theo đó, về mặt ngữ nghĩa có thé hiểu khởi nghiệp theo 2 cách: thứ nhất đó là quá trình của một cá nhân bat đầu bước vào giai đoạn đầu của sự nghiệp băng việc gia nhập lực lượng lao động của một công ty; thứ hai đó là quá trình một cá nhân bắt đầu hành động thực hiện sự nghiệp của mình bằng việc mở một doanh nghiệp riêng để đáp ứng một nhu cầu đã xác định của thị trường. Bài nghiên cứu này chỉ để cập đến khởi nghiệp theo ngữ nghĩa thứ hai, nghĩa là khởi nghiệp là việc bắt đầu sự nghiệp của mình bang việc thành lập doanh nghiệp riêng. Theo sự tổng hợp của Bùi và ctg (2011), quá trình khởi nghiệp là tạo dựng một tô chức kinh doanh và người khởi nghiệp là người sáng lập nên doanh nghiệp đó.
Cac giai doan của khởi nghiệp Global Entrepreneurship Monitor (GEM) là một chương trình phi chính phủ do Babson College liên kết với ĐH London Business thành lập vào năm 1997. GEM thực hiện các nghiên cứu và cung cấp những thông tin sơ cấp chính xác về tinh than doanh nhân, những đo lường về thái độ, hoạt động và những đặc điểm của các cá nhân tham gia vào các giai đoạn khác nhau của sự khởi nghiệp trên khắp thế giới. Báo cáo đầu tiên của GEM vào năm 1999, được tiến hành khảo sát từ 10 nước thành viên của OECD, báo cáo lần thứ 15 vào năm 2013 số lượng nước được khảo sát và thống kê đã lên đến 100 nước. Theo GEM, quá trình khởi nghiệp được chia làm 3 giai đoạn: Giai đoạn hình thành ý tưởng khởi nghiệp; giai đoạn doanh nghiệp lúc khởi đầu gồm xây dựng thiết lập 5 hoạt động kinh doanh và thử thách kinh doanh trong khoảng thời gian khoảng 3.5 năm; giai đoạn doanh nghiệp hoạt động ôn định từ khoảng 3.
Ý định khởi nghiệp Các nhà tâm lý học xác nhận rằng sự đánh giá ý định là cách rõ ràng nhất dé dự đoán hành vi (ví dụ như Ajzen, 1991). Trong những tình huống khác nhau, ý định được xem là thiết bị dự báo hành vi hiệu quả nhất, ví dụ như những hoạt động tìm kiếm công việc và lựa chọn nghề nghiệp. Trong ngữ cảnh của khởi nghiệp, hành vi những nhà mạo hiểm mới tạo ra những giá trị mới chính là đầu ra của ý định khởi nghiệp (Bird, 1988). Vậy có thể nói: ý định khởi nghiệp (entrepreneurial intention) là sự sẵn sàng thực hiện những hoạt động kinh doanh hoặc nói cách khác là tự làm chủ (self employed).
Ngược lại với tự làm chủ là trở thành một cá nhân được trả lương (theo Tkachev va Kolvereid (1999), được dẫn lại trong nghiên cứu của Gurbuz và Aykol (2008)). Vườn wom doanh nghiệp (Business Incubator) Theo tong hợp cua Raheem va Akhuemonkhan (2014), khái niệm “vườn ươm” bat dau xuất hiện từ năm 1959 tại Hoa Ky, gan với sự kiện khai trương Trung tâm công nghiệp Batavia (Batavia Industrial Centre), New York. Sự ươm mam doanh nghiệp bat đầu hình thành ở Mỹ những năm 1960, sau đó phát triển ở Anh và Châu Au với nhiều hình thức liên quan như: trung tâm sáng tạo, công viên khoa học. Vườn ươm cung cấp cho các doanh nghiệp mới bat đầu một hệ thông các phương tiện: không gian, các dịch vụ chia sẻ, tư vấn kinh doanh và pháp lý, và đầu vào tài chính.
để tạo điều kiện cho họ sáng tao va hỗ trợ họ cho đến khi họ “tốt nghiệp”, có năng lực để “sống sót” trong môi trường cạnh tranh bên ngoài. Các gói dịch vụ được cung cấp bởi vườn ươm doanh nghiệp được thiết kế để nâng cao tỷ lệ thành công và tăng trưởng của các doanh nghiệp mới. Theo NBIA (National Business Incubators Association), ươm tạo doanh nghiệp là một quá trình hỗ trợ thúc day sự phát triển thành công các công ty mới thành lập va non trẻ băng cách cung cấp cho các doanh nhân một loạt các nguôn tài nguyên và dịch vụ mục tiêu. Các dịch vụ này thường được phát triển hoặc được sắp xếp bởi quản lý vườn ươm và được cung câp thông qua mạng lưới các địa chỉ liên lạc.
Mục 6 tiêu chính của một vườn ươm doanh nghiệp là tạo ra các công ty thành công mà khi rời khỏi chương trình có thé tồn tại và tự do đứng vững về mặt tài chính. Những người tốt nghiệp vườn ươm có tiềm năng để tạo ra công ăn việc làm, đem lại sức sống mới cho khu dân cư, thương mại hóa các công nghệ mới, củng có nên kinh tế địa phương và quốc gia.