Chương 1 – Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu gồm: Lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, trình bày sơ lược về phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu, cấu trúc của đề tài nghiên cứu. Chương 2 – Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu gồm: Trình bày các cơ sở lý thuyết, các khái niệm có liên quan đến đề tài nghiên cứu, các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên, tổng hợp các nghiên cứu liên quan trong và ngoài nước, đưa ra các giả thuyết nghiên cứu và đề xuất mô hình nghiên cứu của tác giả. Chương 3 – Phương pháp nghiên cứu gồm: Thiết kế nghiên cứu, xây dựng thang đo, đánh giá sơ bộ thang đo, giới thiệu thang đo chính thức trong nghiên cứu định lượng, trình bày phương pháp nghiên cứu, chọn mẫu, thu thập và xử lý dữ liệu. Chương 4 – Kết quả nghiên cứu gồm: Phân tích và trình bày kết quả nghiên cứu thông qua công cụ phân tích độ tin cậy Cronbach’s Alpha, nhân tố khám phá EFA, hồi quy, t – test và ANOVA.
6 Chương 5 – Kết luận và hàm ý gồm: Tóm tắt những kết quả chính của nghiên cứu, đưa ra hàm ý cho nhà quản trị cũng những hạn chế của đề tài để định hướng cho những nghiên cứu tiếp theo. Tài liệu tham khảo và phụ lục 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Giới thiệu Chương 2 sẽ trình bày các cơ sở lý thuyết, các khái niệm có liên quan đến đề tài nghiên cứu, các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên, tổng hợp các nghiên cứu liên quan trong và ngoài nước. Sau đó đưa ra các giả thuyết nghiên cứu và đề xuất mô hình nghiên cứu của tác giả.
Một số khái niệm liên quan đến khởi nghiệp 2. Người khởi nghiệp (Doanh nhân) Doanh nhân được xem là một nhân tố quan trọng trong việc thúc đẩy hợp tác, tạo cơ hội việc làm và tạo ra sự giàu có về kinh tế và xã hội trong nền kinh tế của một quốc gia (Wong và cộng sự, 2005). Doanh nhân đóng một vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế bằng cách ấp ủ các đổi mới công nghệ, tăng hiệu quả kinh tế và tạo việc làm mới (Shane và Venkataraman 2000). Mitton (1989) mô tả các doanh nhân là những người có một số đặc điểm tâm lý nhất định như cam kết với công việc, nhu cầu kiểm soát toàn bộ và thích sự không chắc chắn và thách thức.
Các doanh nhân là những người tiếp nhận rủi ro vừa phải và các rủi ro được tính toán để tránh những tình huống không chắc chắn (Koh, 1996; Thomas và Mueller, 2000). Theo (Krueger và cộng sự, 2000), doanh nhân là những người sáng tạo, đột phá, có tầm nhìn, người nhận ra một cơ hội mới, có khuynh hướng hành động và bắt đầu một việc gì đó. Doanh nhân là những người xác định các cơ hội, vì họ có nhiều khả năng hơn trong việc nhận ra các mẫu và quan sát các mối liên hệ giữa các thay đổi, xu hướng và tần suất xuất hiện không liên quan ở cái nhìn đầu tiên (Baron, 2006). 8 Doanh nhân là một phần quan trọng của sự chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường (Dana, 2000, 2005; Ramadani và cộng sự, 2013; Robinson và cộng sự, 2001).
Theo nghĩa thông thường, doanh nhân được coi là chủ sở hữu của doanh nghiệp thương mại hoặc công nghiệp. Những người này bắt đầu tạo ra tổ chức công nghiệp hoặc thương mại trên cơ sở lợi nhuận hoặc thua lỗ. Các học giả khác nhau bao gồm McClelland và Schumpeter đã giải thích nhiều hơn cho định nghĩa doanh nhân chung này. Nói chung, các doanh nhân phát triển và thịnh vượng dần dần bằng cách bắt đầu kinh doanh nhỏ.
Nhiều nhà nghiên cứu phân biệt doanh nhân với thương nhân, trong khi nhiều người khác xác định rằng các hoạt động của các doanh nhân và thương nhân đều giống nhau. Trong nghiên cứu này, doanh nhân đề cập đến một người chịu trách nhiệm về việc thành lập, quản lý và phát triển doanh nghiệp. Khởi nghiệp Khởi nghiệp đã được xác định rõ là hành vi quản lý, khai thác đáng tin cậy các cơ hội để tạo ra kết quả vượt ra ngoài khả năng của chính mình (Kristiansen và Indarti, 2004). Khởi nghiệp không phải là một sự kiện, mà là một quá trình có thể mất nhiều năm để phát triển và thành hiện thực.
Tuy nhiên, không phải bất cứ ai cũng có tiềm năng để mở một doanh nghiệp riêng (Learned, 1992). Một người khởi nghiệp tiềm năng là người đón lấy cơ hội để thành lập công ty riêng mình ngay khi cơ hội xuất hiện (Shapero, 1982). Theo tổ chức Global Entrepreneurship Monitor thì một doanh nghiệp khi vừa thành lập sẽ trải qua 3 giai đoạn: Hình thành, phát triển ý tưởng đến thành lập doanh nghiệp và cuối cùng là duy trì và phát triển doanh nghiệp. Ý định khởi nghiệp Ý định khởi nghiệp có thể được định nghĩa là cam kết để bắt đầu một doanh nghiệp mới (Krueger 1993) và trong hầu hết các mô hình lựa chọn nghề nghiệp, nó được coi là tiền đề của hành vi khởi nghiệp.
9 Theo Thompson (2009) và Bird (1988) ý định khởi nghiệp có thể được gọi là việc thực hiện có chủ ý và niềm tin của một cá nhân đối với ý định của mình để bắt đầu một doanh nghiệp kinh doanh mới trong tương lai. Theo Molaei và cộng sự (2014), ý định khởi nghiệp là một trong những dự đoán lớn nhất về hành vi khởi nghiệp. Ý định khởi nghiệp là việc làm cho quá trình tổ chức các dự án trở nên ấn tượng hoặc nói cách khác là tự làm chủ (Tkachev và Kolvereid, 1999). Ý định khởi nghiệp sẽ là bước đầu tiên trong sự phát triển kinh doanh và đôi khi là quá trình lâu dài của sự sáng tạo liều lĩnh và mạo hiểm (Lee & Wong, 2004).
Ý định khởi nghiệp để khởi động, sau đó sẽ là tiền đề cần thiết để thực hiện các hành vi kinh doanh (Fayolle và cộng sự, 2006; Kolvereid, 1996b). Ý định khởi nghiệp được coi là yếu tố dự đoán hành vi khởi nghiệp tốt nhất (Ajzen, 1991, 2001; Fishbein & Ajzen, 1975). Souitaris và cộng sự (2007) cho rằng ý định khởi nghiệp có nghĩa là một cá nhân muốn bắt đầu một số hoạt động kinh doanh. Ý định khởi nghiệp đóng vai trò phát triển các hoạt động khởi nghiệp kinh doanh và khả năng trở thành một doanh nhân thực sự (Mohd Rosli và cộng sự, 2013).
Theo Bird (1988), ý định khởi nghiệp hướng tới tư duy chiến lược và các quyết định, và hoạt động như một màn hình cảm ứng để xem xét các mối quan hệ, tài nguyên và sự trao đổi. Tinh thần khởi nghiệp Tinh thần khởi nghiệp được định nghĩa là việc sở hữu doanh nghiệp nhỏ độc lập hoặc phát triển những nhà quản lý tìm kiếm cơ hội trong doanh nghiệp (Colton, 1990). Tinh thần khởi nghiệp có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của một quốc gia (Stel và cộng sự, 2005). Tinh thần khởi nghiệp được định nghĩa bởi Low và MacMillan (1988, trang 141) là “tạo ra doanh nghiệp mới”.
Định nghĩa này phản ánh nhận thức ngày càng 10 tăng rằng tinh thần khởi nghiệp là một "quy trình hoàn thiện dần dần hơn là trạng thái hiện hữu ”(Bygrave, 1989, trang 21). Lý thuyết sự kiện khởi nghiệp kinh doanh (The Entrepreneurial Event Theory - EET) Lý thuyết sự kiện khởi nghiệp kinh doanh (Shapero và Sokol 1982) được sử dụng để mô tả một quy trình khởi nghiệp, với ý định là trung tâm (Bird 1988). Lý thuyết này xem xét khởi nghiệp như một sự kiện có thể được giải thích bằng sự tương tác giữa sáng kiến, khả năng, quản lý, quyền tự chủ tương đối và sự chấp nhận rủi ro. Lý thuyết chỉ ra rằng ý định khởi nghiệp bắt nguồn từ nhận thức về tính khả thi và sự mong muốn, và chịu ảnh hưởng bởi bối cảnh văn hóa và xã hội.
Nhận thức về sự lựa chọn của cá nhân trong môi trường văn hóa và xã hội đã được Krueger và cộng sự chấp nhận theo kinh nghiệm. (2000), Peterman và Kennedy (2003), Wilson và cộng sự. Theo giả định, hành vi của con người có một quán tính có thể bị gián đoạn hoặc thay thế bởi một thứ gì đó, Shapero lập luận rằng tính mong muốn và tính khả thi dựa trên xác định độ tin cậy tương đối của các hành vi thay thế và ý định khởi nghiệp phát sinh một phần từ việc tiếp xúc với hoạt động kinh doanh (Shapero và Sokol 1982).1: Mô hình sự kiện khởi nghiệp kinh doanh Nguồn: Mô hình EEM của (Shapero và Sokol 1982) 2. Lý thuyết hành vi được lên kế hoạch (The Theory of Planned Behavior - TPB) Lý thuyết hành vi được lên kế hoạch được giới thiệu bởi Ajzen (1991) đại diện cho một lý thuyết chung về hành vi xã hội, được phát triển rộng hơn từ lý thuyết tâm lý xã hội.
TPB được xây dựng để dự đoán và giải thích hành vi của con người trong các ngữ cảnh cụ thể. TPB khẳng định thái độ và đặc điểm nhân cách chỉ có thể có tác động gián tiếp đến các hình thức hành vi cụ thể bằng cách ảnh hưởng đến các yếu tố gần gũi hơn với hành động được đề cập (Ajzen, 1991). Nó bao gồm 5 yếu tố cụ thể: thái độ đối với hành vi, các tiêu chuẩn chủ quan, kiểm soát hành vi nhận thức, ý định cư xử và hành vi. Nguyên lý cơ bản của lý thuyết này là ý định của một cá nhân để thực hiện một hành vi nhất định là yếu tố tiên đoán chính của hành vi đó.
Ý định đưa ra các chỉ dẫn về hành động. TPB đưa ra giả thuyết rằng các ý định hành vi được xác định bởi 3 tiền đề chính: thái độ đối với hành vi, các chỉ tiêu chủ quan và mức độ kiểm soát hành vi nhận thức. 12 Đầu tiên là thái độ đối với hành vi, đề cập đến mức độ mà một người có một đánh giá thuận lợi hoặc không thuận lợi về hành vi. Thứ hai đề cập đến các chỉ tiêu chủ quan, được định nghĩa là sự chấp thuận (hoặc không chấp thuận) của các cá nhân tham khảo quan trọng (hoặc nhóm) như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp có liên quan đến việc đưa ra một hành vi cụ thể (tức là áp lực xã hội được nhận thức để thực hiện hay không thực hiện hành vi).