phần mở đầu, 4 chƣơng, cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan các công trình và hƣớng nghiên cứu của luận án Chƣơng 2: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về phát triển hệ thống hỗ trợ khởi nghiệp Chƣơng 3: Thực trạng phát triển hệ thống hỗ trợ khởi nghiệp tại Việt Nam Chƣơng 4: Phƣơng hƣớng và giải pháp phát triển hệ thống hỗ trợ khởi nghiệp tại Việt Nam 5 Chƣơng 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH VÀ HƢỚNG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN TỚI PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG HỖ TRỢ KHỞI NGHIỆP 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố ở nước ngoài 1. Các công trình nghiên cứu về khởi nghiệp và hệ thống hỗ trợ khởi nghiệp Hye-Sun Kim, Yunho Lee và Hyoung-Ro Kim (2014) chỉ ra, những ngƣời muốn thành lập doanh nghiệp phải có kiến thức, công nghệ và kỹ năng khởi nghiệp liên quan và phải có khả năng giải quyết vấn đề tạo việc làm đi kèm với việc làm.
Theo đó, các DNKN mạo hiểm về công nghệ áp dụng các kết quả nghiên cứu từ các doanh nghiệp, trƣờng đại học, viện nghiên cứu,. vào các DNKN và có thể cung cấp các sản phẩm mới thông qua đổi mới công nghệ, có thể tạo ra thị trƣờng mới và có thể tạo sức sống cho các nền kinh tế khu vực. Song-Kyoo Kim (2015) đã tìm hiểu HTHTKN ở Hàn Quốc và giải quyết những thách thức mà Startup Alliance Korea- một tổ chức phi lợi nhuận nhằm xây dựng HTHTKN tại Hàn Quốc phải đối mặt. Nghiên cứu này mời sinh viên xem xét và đánh giá ƣu và nhƣợc điểm trong việc xây dựng HTHTKN cho các DNKN có trụ sở tại Hàn Quốc; đồng thời cung cấp một bản tóm tắt đầy đủ về tình trạng hệ thống hỗ trợ khởi nghiệp với một số thành phố đƣợc đƣa vào Thung lũng Silicon để hiểu các đặc điểm của HTHTKN ở Hàn Quốc.
Srishti Gupta, Robert Pienta, Acar Tamersoy, Duen Horng Chau và Rahul C. Basole (2015), đặt ra câu hỏi: Ai có thể phát hiện ra Google, Facebook hoặc Twitter tiếp theo? Ai có thể khám phá ra những DNKN tỷ đô tiếp theo? Đo lƣờng thành công của nhà đầu tƣ là một nhiệm vụ đầy thách thức, vì các chiến lƣợc đầu tƣ có thể rất khác nhau. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một phƣơng pháp mới để xác định các nhà đầu tƣ thành công bằng cách phân tích cách mạng lƣới cộng tác của nhà đầu tƣ thay đổi theo thời gian. Kết quả nghiên cứu chỉ ra cách xác định các nhà khởi nghiệp ít tên tuổi vẫn có thể 6 thành công.
Kwak, Hyejin, Rhee, Mooweon (2018) đã cung cấp một hàm ý về định hƣớng tƣơng lai của HSTKN của Hàn Quốc cho các nhà hoạch định chính sách và những ngƣời tham gia khởi nghiệp để tạo ra một hệ thống hỗ trợ tốt hơn. Do đó, nghiên cứu chọn Seoul, Hàn Quốc và Thành Đô, Trung Quốc để so sánh HSTKN và thực hiện nghiên cứu định tính bằng cách phỏng vấn những ngƣời đƣợc chọn làm việc trong vƣờn ƣơm khởi nghiệp và bắt đầu kinh doanh trong ngành công nghệ thông tin do chƣơng trình hỗ trợ khởi nghiệp. Nghiên cứu phân loại kết quả theo các phần xã hội, kinh tế và hành chính; sàng lọc những ngƣời đƣợc phỏng vấn từ Hàn Quốc và Trung Quốc có ý kiến giống nhau đối với từng câu hỏi hay không. Pustovrh Aleš, Jaklič Marko, Bole Domen, Zupan Blaž (2019) phân tích các HSTKN trong khu vực ở Nam Âu và các biện pháp chính sách đƣợc thực hiện trong từng hệ sinh thái.
Nghiên cứu cho thấy rằng các HSTKN khác nhau có mức độ các biện pháp hỗ trợ và các mức độ thành công khác nhau trong việc tạo, phát triển và giữ chân các DNKN địa phƣơng và thu hút các DNKN từ các vùng. Các nhà hoạch định chính sách có thể giúp tạo ra hệ sinh thái và tạo ra môi trƣờng kinh doanh đối với DNKN trong nƣớc và thu hút các DNKN nƣớc ngoài. Carina Alves, João Cunha, João Araújo (2020), cho rằng các DNKN phần mềm đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy đổi mới, tăng trƣởng kinh tế và tạo việc làm trong một khu vực. Các DNKN có khả năng tăng tỷ lệ phát triển nếu họ đƣợc nhúng vào một hệ sinh thái khởi nghiệp.
Trong những năm gần đây, các DNKN phần mềm đã trở thành tâm điểm nghiên cứu chuyên sâu của cộng đồng kỹ sƣ phần mềm. Các tác giả đã thực hiện một nghiên cứu để tổng hợp tài liệu về yêu cầu kỹ thuật trong các DNKN. Kết quả thực nghiệm chỉ ra các tác nhân của HSTKN đƣợc nghiên cứu tƣơng tác để hỗ trợ sự đồng phát triển của các DNKN. Stratos Baloutsos, Angeliki Karagiannaki, Katerina Pramatari (2020), giới thiệu lý thuyết hoạt động nhƣ một khung lý thuyết để hình thành khái niệm và nghiên cứu HSTKN.
Sử dụng lý thuyết hoạt động, bài báo nghiên cứu các yếu tố ảnh hƣởng đến sự thành công và khả năng tồn tại của hệ sinh 7 thái đổi mới đƣợc hình thành giữa các DNKN hợp tác với một doanh nghiệp đã có tên tuổi trong bối cảnh của một chƣơng trình đổi mới mở. Nghiên cứu này sử dụng cách tiếp cận nghiên cứu trƣờng hợp khám phá và đề xuất lý thuyết hoạt động làm nền tảng lý thuyết đƣợc sử dụng trong nghiên cứu hệ sinh thái đổi mới. Theo Sagar Lotan Chaudhari, Manish Sinha (2021), Ấn Độ đứng thứ ba trong HSTKN toàn cầu trên thế giới với hơn 50.000 DNKN và chứng kiến mức tăng trƣởng 15% mỗi năm. Là trung tâm của sự đổi mới và lao động có tay nghề cao, các DNKN của Ấn Độ đã thu hút đƣợc các khoản đầu tƣ từ khắp nơi trên thế giới.
Bài báo này nhằm mục đích khám phá các xu hƣớng đang thúc đẩy sự phát triển trong HSTKN Ấn Độ. Với 200 DNKN hàng đầu theo định giá đƣợc chọn làm mẫu để tìm ra các xu hƣớng chính trong HSTKN Ấn Độ. Các công trình nghiên cứu phát triển hệ thống hỗ trợ khởi nghiệp Elahe Yaribeigi, Seyed Jamal Hosseini, Farhad Lashgarara, Seyed Mehdi Mirdamadi, Maryam Omidi Najafabadi (2014), tinh thần kinh doanh trên thế giới, đặc biệt là ở các nƣớc phát triển phƣơng Tây, quan tâm nhiều trong những năm gần đây về khái niệm HTHTKN và tích hợp tách biệt các dịch vụ cơ sở hạ tầng cần thiết cho các doanh nhân, chính phủ kiến tạo, nhà sản xuất để sáng tạo. Hệ thống hỗ trợ khởi nghiệp này bao gồm: Các yếu tố kinh tế vĩ mô, văn hóa, xã hội và chính trị, sự sẵn sàng và khả năng ảnh hƣởng đến sự lựa chọn hoạt động của doanh nhân.
Do đó, tạo ra một môi trƣờng kinh doanh, do các yếu tố nhƣ văn hóa, chính sách, tài chính nguồn lực, vốn, nhân lực, thị trƣờng và các dịch vụ hỗ trợ có tầm quan trọng đặc biệt trong phát triển HTHTKN ở các nƣớc này. Pandya, Krupa Mehta (2019), nền kinh tế Ấn Độ đang chuyển từ nền kinh tế đang phát triển sang nền kinh tế đang phát triển nhanh nhất. Các DNKN ở Ấn Độ là nhân tố mới đóng góp vào sự tăng trƣởng. Ấn Độ là một quốc gia Nam Á đang phát triển với dân số đông nhất và lớn thứ 7 theo diện tích.
Đây là ngụ ý về một thị trƣờng tiềm năng lớn ở Ấn Độ và gây nhiều áp lực hơn cho việc làm ở nƣớc này. Trong thập kỷ hiện tại, Ấn Độ là thực hiện một sự thay đổi cần thiết đối với các chính sách hỗ trợ khởi nghiệp đối với sinh viên, điều này tạo ra sự cạnh tranh trong môi trƣờng buộc phải phát 8 triển để nâng cao chất lƣợng lao động của hệ sinh thái khởi nghiệp. World Bank (2019), khẳng định công nghệ là một trong những động lực chính của năng suất và tăng trƣởng kinh tế. Các nƣớc đang phát triển thƣờng gặp khó khăn trong việc phát triển công nghệ và tiếp thu công nghệ nƣớc ngoài.
Tuy nhiên, sự xuất hiện gần đây của các DNKN công nghệ cho thấy một cơ hội để vừa tạo ra công nghệ trong nƣớc vừa tiếp thu công nghệ nƣớc ngoài. Mục tiêu của báo cáo này là cung cấp hiện trạng của HSTKN ở Bờ Tây và Gaza, đồng thời đƣa ra khuyến nghị chính sách cho các bên liên quan khác. Báo cáo dựa trên khảo sát về DNKN và các bên liên quan hỗ trợ trong hệ sinh thái. Từ đó, khuyến nghị chính sách để giải quyết những khoảng trống này trên thông lệ quốc tế.
Albert và cộng sự (2020), phân tích tác động của các bên liên quan đến cá nhân ban đầu, đầu tƣ vốn mạo hiểm đầu tiên để đạt đƣợc thành công của các doanh nghiệp khởi nghiệp. Các tác giả đã chỉ ra kinh nghiệm của các giám đốc sáng lập và không phải là giám đốc sáng lập, các nhà đầu tƣ cá nhân khác sẽ giúp đỡ các doanh nghiệp khởi nghiệp. Trong khi đối với các giám đốc sáng lập và không phải là giám đốc sáng lập thì số DNKN đạt đƣợc thành công không nhiều bằng các nhà đầu tƣ cá nhân khác. Nghiên cứu này chỉ ra vai trò của huấn luyện viên và nhà đầu tƣ thiên thần trong sự phát triển của hệ thống khởi nghiệp sáng tạo.
Abrantes (2020), sự đổi mới của các DNKN đang là tâm điểm chú ý của phƣơng tiện truyền thông khi khởi nghiệp trong lĩnh vực công nghệ, tận dụng sự tiến bộ của các lĩnh vực liên ngành khác để đổi mới và việc hiện thực hóa các chiến lƣợc kinh doanh. Một thiết kế nghiên cứu đƣợc kết hợp từ cơ sở dữ liệu cho phép tạo ra một tập dữ liệu có sẵn để khảo sát trên 179 DNKN công nghệ và xác nhận thực nghiệm bằng cách phân tích dữ liệu với các nguồn thứ cấp bên ngoài. Kết quả cho thấy xu hƣớng của các DNKN có sự hỗ trợ về công nghệ sẽ đạt đƣợc hiệu quả cao hơn so với mô hình kinh doanh thuần túy. Demianenko và cộng sự (2021), xem xét những đặc thù của việc hình thành hệ thống hỗ trợ khởi nghiệp.
Các quan điểm lý thuyết hiện đại đƣa ra định nghĩa về HTHTKN trên cơ sở các khái niệm đã đƣợc nghiên cứu. Từ đó, 9 các tác giả đƣa ra định nghĩa về thuật ngữ "hệ thống hỗ trợ khởi nghiệp". Theo đó, phát triển HTHTKN chính là nhằm tạo ra các sản phẩm và dịch vụ sáng tạo của các DNKN, gồm các yếu tố cấu trúc của HTHTKN dưới sự thay đổi nội sinh và ngoại sinh trong môi trường hoạt động của doanh nghiệp. Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố trong nước 1.
Các công trình nghiên cứu về khởi nghiệp Lê Du Phong (2006), đã tập trung nghiên cứu vấn đề phát triển công nghệ của các DNVVN ở Việt Nam. Đây chính là loại hình doanh nghiệp chiếm số lƣợng 2 lớn trong tỷ trọng kinh tế của cả nƣớc.