Luận án TS: Tỷ giá hối đoái thực đa phương (REER) và ứng dụng điều hành kinh tế vĩ mô Việt Nam

Tìm hiểu REER (tỷ giá thực tế có hiệu lực) và ứng dụng quan trọng trong điều hành kinh tế vĩ mô Việt Nam. Phân tích chi tiết vai trò chính sách tỷ giá hối đoái

Trường đại học

Viện Chiến lược Phát triển

Chuyên ngành

Kinh tế phát triển

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

174
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về tỷ giá hối đoái thực đa phương REER

Tỷ giá hối đoái thực đa phương (REER) là chỉ số phản ánh giá trị tương đối của đồng nội tệ so với rổ tiền tệ của các đối tác thương mại chính. Khác với tỷ giá danh nghĩa, REER tính đến sự khác biệt về mức giá cả giữa các quốc gia. Chỉ số này được xây dựng dựa trên trọng số thương mại của từng đối tác. Khi REER tăng, đồng nội tệ thực tế mạnh lên so với rổ tiền tệ, làm hàng xuất khẩu đắt hơn và hàng nhập khẩu rẻ hơn. Ngược lại, khi REER giảm, hàng xuất khẩu trở nên cạnh tranh hơn trên thị trường quốc tế. REER là công cụ quan trọng để đánh giá sức cạnh tranh thực của nền kinh tế. Các tổ chức quốc tế như IMF, World Bank thường xuyên công bố chỉ số REER cho các quốc gia. Tại Việt Nam, REER được sử dụng rộng rãi trong phân tích chính sách tiền tệ và thương mại. Việc theo dõi biến động REER giúp nhà hoạch định chính sách đưa ra quyết định phù hợp.

1.1. Khái niệm và phương pháp tính REER

REER được định nghĩa là tỷ giá danh nghĩa đa phương hiệu chỉnh theo mức giá tương đối giữa các quốc gia. Phương pháp tính REER phổ biến nhất sử dụng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) làm thước đo mức giá. Công thức tính REER bao gồm tích số của tỷ giá song phương nhân với tỷ lệ giá cả, sau đó lấy trung bình có trọng số theo tỷ trọng thương mại. Các trọng số phản ánh tầm quan trọng của từng đối tác thương mại trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu. REER có thể được tính theo phương pháp chuỗi Laspeyres hoặc Paasche. Giá trị REER bằng 100 thể hiện trạng thái cân bằng, lớn hơn 100 cho thấy đồng nội tệ bị định giá cao.

1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến biến động REER

Biến động REER chịu tác động của nhiều yếu tố kinh tế vĩ mô khác nhau. Thứ nhất, chênh lệch lạm phát giữa Việt Nam và các đối tác thương mại là nguyên nhân chính khiến REER biến động. Thứ hai, chính sách tiền tệ và lãi suất ảnh hưởng trực tiếp đến dòng vốn quốc tế, từ đó tác động lên tỷ giá thực. Thứ ba, cán cân thương mại và cán cân thanh toán quốc tế phản ánh cung cầu ngoại tệ trên thị trường. Thứ tư, biến động tỷ giá danh nghĩa trên thị trường tự do cũng tác động đáng kể. Cuối cùng, các yếu tố bất ổn kinh tế toàn cầu như khủng hoảng tài chính, đại dịch cũng gây ra biến động mạnh REER.

II. Vai trò của REER trong nền kinh tế Việt Nam

REER đóng vai trò trung tâm trong đánh giá sức cạnh tranh quốc tế của nền kinh tế Việt Nam. Khi REER duy trì ở mức hợp lý, hàng xuất khẩu Việt Nam giữ được lợi thế cạnh tranh trên thị trường toàn cầu. Chỉ số này tác động trực tiếp đến cán cân thương mại, dòng vốn đầu tư nước ngoài và tốc độ tăng trưởng kinh tế. REER ảnh hưởng đến quyết định sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Khi đồng nội tệ bị định giá cao, doanh nghiệp xuất khẩu chịu thiệt thòi do giá thành sản phẩm tăng tương đối so với đối thủ quốc tế. Ngược lại, nhập khẩu trở nên rẻ hơn, tạo áp lực cạnh tranh cho sản xuất trong nước. REER còn liên quan mật thiết đến lạm phát thông qua kênh giá hàng nhập khẩu. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sử dụng REER như một chỉ báo quan trọng trong điều hành chính sách tỷ giá. Việc duy trì REER ổn định giúp tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp.

2.1. Tác động của REER đến xuất nhập khẩu

2.2. Mối quan hệ giữa REER và lạm phát

III. Ứng dụng REER trong điều hành chính sách kinh tế vĩ mô

REER được ứng dụng rộng rãi trong công tác điều hành kinh tế vĩ mô tại Việt Nam. Ngân hàng Nhà nước sử dụng REER làm chỉ báo tham chiếu để điều chỉnh tỷ giá trung tâm hàng ngày. Khi REER có xu hướng tăng mạnh, cơ quan điều hành có thể can thiệp để ngăn chặn mất sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu. REER cũng được sử dụng trong đánh giá tác động của các hiệp định thương mại tự do đến cán cân thương mại. Bộ Kế hoạch và Đầu tư sử dụng REER để phân tích xu hướng dòng vốn FDI và dự báo tăng trưởng kinh tế. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, REER giúp đánh giá mức độ hấp dẫn của môi trường đầu tư. Chỉ số này còn phục vụ công tác dự báo và xây dựng kịch bản kinh tế vĩ mô. Các chuyên gia phân tích sử dụng REER để so sánh sức cạnh tranh giữa Việt Nam và các nước trong khu vực. Việc ứng dụng REER đòi hỏi dữ liệu tin cậy và phương pháp tính toán phù hợp với đặc thù kinh tế Việt Nam.

3.1. Sử dụng REER trong điều hành tỷ giá

3.2. REER trong đánh giá sức cạnh tranh quốc tế

IV. Kết luận và khuyến nghị chính sách ứng dụng REER

Nghiên cứu về vai trò và ứng dụng REER trong điều hành kinh tế vĩ mô tại Việt Nam cho thấy tầm quan trọng thiết yếu của chỉ số này. REER không chỉ là công cụ đo lường sức cạnh tranh quốc tế mà còn là chỉ báo quan trọng cho hoạch định chính sách. Kết quả nghiên cứu khẳng định REER có tác động đáng kể đến cán cân thương mại, lạm phát và dòng vốn đầu tư nước ngoài. Việc duy trì REER ở mức hợp lý là điều kiện tiên quyết để đảm bảo tăng trưởng bền vững. Tuy nhiên, REER cũng có những hạn chế nhất định như độ trễ trong tính toán và không phản ánh đầy đủ các yếu tố phi giá cả. Do đó, cần kết hợp REER với các chỉ báo khác trong khuôn khổ điều hành chính sách. Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện phương pháp tính REER phù hợp với đặc thù kinh tế. Nâng cao năng lực phân tích và dự báo dựa trên REER là nhiệm vụ quan trọng của các cơ quan quản lý nhà nước.

4.1. Hạn chế và thách thức khi sử dụng REER

4.2. Khuyến nghị hoàn thiện ứng dụng REER

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Tỷ giá hối đoái thực đa phương reer vai trò và ứng dụng trong công tác điều hành kinh tế vĩ mô tại việt nam 2

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I rút ra các hạn chế chủ yếu của các nghiên cứu, những điểm có thể kế thừa và những vấn đề cần đi sâu nghiên cứu trong Luận án. Tỷ giá hối đoái thực đa phương và phương pháp ước lượng 1. Tổng quan nghiên cứu ngoài nước Cơ sở lý thuyết và phương pháp tính tỷ giá đa phương được đưa ra bởi các tổ chức tài chính quốc tế quốc tế như Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), sau đó được công nhận, thống nhất rộng rãi và mở rộng phát triển trong các nghiên cứu ứng dụng thực nghiệm. Theo IMF, về lý thuyết, tỷ giá hối đoái phản ánh mức giá tương đối giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ.

Khi một quốc gia tham gia vào hoạt động thương mại và thực hiện các giao dịch khác với một số quốc gia khác, đặc biệt là nền kinh tế có độ mở cao thì cần xây dựng một chỉ số chung phản ánh giá trị chung của đồng tiền được tính dựa trên các tỷ giá song phương và mức độ thương mại giữa nước này so với một rổ tiền tệ của các nước đối tác thương mại, đó là tỷ giá hối đoái đa phương (hay còn được gọi là tỷ giá hối luan van, khoa luan 21 of 66. tai lieu, document22 of 66. 11 đoái hiệu quả hay hữu hiệu). OECD (2010) cho rằng tỷ giá hối đoái đa phương danh nghĩa (NEER) được tính dựa trên cơ sở này là tỷ giá giữa đồng nội tệ của một nước với một rổ đồng tiền của các nước khác lấy quyền số là tỷ trọng thương mại hoặc thanh toán quốc tế.

Tỷ giá hối đoái thực đa phương (REER) được tính dựa trên NEER sau khi loại bỏ yếu tố lạm phát. Dựa trên cơ sở lý thuyết này, các nghiên cứu đã tiếp tục phát triển và mở rộng trong ứng dụng tính toán REER. Ray Barrell và cộng sự (2005) cho rằng trong bối cảnh các nền kinh tế mở cửa, cạnh tranh và phải tính đến ảnh hưởng của thị trường thứ 3, việc tính REER có thể trở nên khó khăn hơn khi thiếu dữ liệu để tính trọng số của mỗi quốc gia. Trong một số nghiên cứu trước đây, khi số liệu về trọng số thương mại của nước chủ nhà không được thống kê đầy đủ hoặc thiếu, các nghiên cứu thường lấy tỷ trọng thương mại hiện hành thay thế.

Tuy nhiên, Hinkle và cộng sự (1999) cho rằng việc sử dụng trọng số thương mại hiện hành có thể làm giảm vấn đề của việc thay đổi về cấu trúc thương mại nên được sử dụng cho nghiên cứu chính sách. Tổng quan nghiên cứu cho thấy có 2 phương pháp tính trung bình trọng số, bao gồm phương pháp tính theo tổng và tích. Luci Ellis (2001) mô tả 2 phương pháp tính trung bình trọng số trong ước lượng tỷ giá đa phương, theo đó phương pháp tính trung bình tổng được mô tả như sau: 𝑁 𝑒𝑡 = ∑ 𝑒𝑛 𝑤𝑛 𝑛=1 Trong đó: 𝑒𝑡 là tỷ giá hối đoái đa phương ở thời điểm t, 𝑤𝑛 là tỷ trọng thương mại của các đối tác thương mại, 𝑒𝑛 là tỷ giá hối đoái song phương giữa nước chủ nhà và các đối tác thương mại, luan van, khoa luan 22 of 66. tai lieu, document23 of 66.

12 N là số đối tác thương mại. Trong phương pháp tính trung bình trọng số theo tích, tỷ giá hối đoái đa phương được tính như sau: 𝑁 𝑒𝑡 = ∏ 𝑒𝑛 𝑤𝑛 𝑛=1 Theo Luci Ellis (2001) và Ibrahim (2012) phương pháp tính bình quân trọng số theo tổng mặc dù đã khá quen thuộc nhưng có một số lý do về thống kê và lý thuyết cho thấy phương pháp tính theo tổng còn một số bất cập và hạn chế. Luci Ellis (2001) cho rằng tỷ lệ phần trăm thay đổi của các chỉ số khi tính theo phương pháp trung bình tổng có thể sẽ chênh lệch về mức độ phụ thuộc vào việc các tỷ giá hối đoái song phương được biểu thị theo đơn vị nội tệ trên đơn vị ngoại tệ, hoặc ngược lại. Đồng thời, chỉ số tỷ giá hối đoái dựa vào phương pháp tổng cũng có thể sẽ bị sai lệch lớn khi chu kỳ gốc bị thay đổi.

Trong khi đó, với phương pháp tính trung bình tích, tất cả những điều này sẽ được giải quyết khi phương pháp này thực hiện tính phần trăm thay đổi của các chỉ số một cách đối xứng (Rosensweig (1987). Ngoài ra, logarit của trung bình tích chính là trung bình cộng của giá trị log các tỷ giá song phương. Tính năng hữu ích này của phương pháp tích làm đơn giản hóa nhiều mô hình kinh tế lượng thông qua việc biểu diễn tuyến tính trong logarit. Những ưu điểm của phương pháp tính bình quân gia quyền trong ước lượng tỷ giá thực song phương bằng phương pháp tích đã khiến phương pháp này được ưa chuộng sử dụng hơn trong các nghiên cứu thực nghiệm và ở các NHTW trên thế giới.

Phương pháp này cũng được Luận án áp dụng trong phần tính tỷ giá thực đa phương ở Chương III của Luận án nhờ các đặc điểm ưu việt ở trên. Bên cạnh đó, ngoài yếu tố CPI, các nhà nghiên cứu còn sử dụng nhiều chỉ số khác để đại diện cho mức giá cả ở một quốc gia bao gồm: (i) Chỉ số giá cả của riêng hàng hóa thương mại; (ii) Tỷ lệ giữa chỉ số giá hàng hóa xuất khẩu luan van, khoa luan 23 of 66. tai lieu, document24 of 66. 13 và chỉ số giá hàng hóa nhập khẩu (được biết với tên gọi là điều kiện thương mại (Clark và MacDonald, 1998; Zhang, 2002; Jongwanich, 2009); (iii) Chỉ số giá nhân công lao động; (iv) Tỷ lệ giữa chỉ số giá cả của hàng hóa thương mại và hàng hóa không tham gia thương mại; (v) Chỉ số giảm phát GDP hay chỉ số giá bán buôn (Lim, 2000).

Tổng quan nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, một số nghiên cứu đã tính toán REER theo công thức được công bố từ các tổ chức quốc tế trên. Nguyễn Thị Thu Hằng (2011) đã tính toán hai chỉ số NEER và REER theo năm cho giai đoạn 2000-2010 theo 10 đối tác thương mại chính của Việt Nam; Nguyễn Trần Phúc và Nguyễn Đức Thọ (2009) đã ước lượng 2 chỉ số này cả theo số liệu năm giai đoạn 1992-2007 và số liệu tháng giai đoạn tháng 1/1995 đến tháng 12/2007 với rổ tiền tệ của 25 đối tác thương mại chính của Việt Nam với quyền số là tỷ trọng thương mại theo năm cho cả hai chuỗi số liệu năm và tháng. Các nghiên cứu trong nước cũng đã sử dụng tỷ trọng thương mại để tính trọng số đồng tiền, như nghiên cứu của Vũ Quốc Huy và cộng sự (2012) trong khuôn khổ tài trợ của Uỷ ban Kinh tế Quốc hội và Tổ chức UNDP (sau đây viết tắt là UBKTQH và UNDP (2012)) đã sử dụng tổng KNXNK hàng hóa của Việt Nam với 20 nước đối tác khác nhau. Nghiên cứu này đã lần đầu tiên tính toán được tỷ giá thực đa phương của Việt Nam, mức sai lệch tỷ giá và đánh giá tác động đến chỉ tiêu xuất khẩu trên cơ sở sử dụng các số liệu khá cập nhật, chi tiết hơn cả về tần suất thời gian và không gian so với các nghiên cứu trước đây, sử dụng mô hình kinh tế lượng để đánh giá ảnh hưởng của tỷ giá đối với các sản phẩm xuất khẩu theo danh mục quốc tế (195 mặt hàng theo mã SITC 3 chữ số và trên 90 mặt hàng theo mã HS 2 chữ số trên 4 thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam là Hoa Kỳ, Khu vực Eurozone (gồm 15 nước), Nhật Bản và Hàn Quốc.

Mặc dù có khác nhau về tần suất và thời gian sử dụng, các chỉ số NEER và REER do các nghiên luan van, khoa luan 24 of 66. tai lieu, document25 of 66. 14 cứu trong nước tính được phần nào đã cho thấy kết quả nhận định tương đối thống nhất ở một số giai đoạn: chẳng hạn như sự mất giá thực tế trong giai đoạn 2000-2013; sự lên giá thực giai đoạn 2004-2007 (Nguyễn Thị Thu Hằng và cộng sự (2010). Tuy nhiên, có thể do hạn chế về số liệu và tần suất số liệu trong các nghiên cứu hiện có, sự lựa chọn mô hình và biến số, kết quả từ một số nghiên cứu có thể cho thấy những đánh giá thiếu tin cậy chẳng hạn kết quả từ nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hằng (2011) và UBKTQH và UNDP (2012) đã kết luận đến cuối năm 2010 REER của Việt Nam vẫn cao hơn so với năm 2003 đến hơn 20%.

Nghiên cứu của UBKTQH và UNDP (2012)) đã có những khắc phục các hạn chế bằng cách tính lại các chỉ số với số liệu có tần suất cao hơn và phạm vi rộng hơn (theo tháng), lần đầu tiên đưa mức sai lệch tỷ giá để xem xét song nghiên cứu này lại chỉ xem xét đến việc đánh giá tác động của REER tới nhân tố xuất khẩu thông qua mô hình VECM, mà chưa xem xét đến các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô khác của nền kinh tế như tăng trưởng, nhập khẩu, lạm phát,.và quan trọng hơn chưa thực hiện xem xét đánh giá các tác động của sai lệch tỷ giá đến các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô. Kết quả của nghiên cứu đưa ra mức sai lệch lên đến 20% trong giai đoạn cuối năm 2010 cũng đã được nghiên cứu này cho rằng cần phải kiểm tra và xem xét, bao gồm cả các phân tích độ nhạy cảm của việc lựa chọn mô hình và các biến số. Mối quan hệ của tỷ giá hối đoái đối với một số chỉ số kinh tế vĩ mô 1. Tổng quan nghiên cứu ngoài nước Hầu hết các nghiên cứu ngoài nước khẳng định tỷ giá hối đoái là công cụ vĩ mô quan trọng để ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo mức lạm phát thấp và hệ thống tài chính ổn định, khuyến khích xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu và duy trì tăng trưởng kinh tế.

Theo nguyên lý lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm, tỷ giá thay đổi sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ của một luan van, khoa luan 25 of 66. tai lieu, document26 of 66. Chiến lược phát triển kinh tế hướng vào xuất khẩu đi kèm với hành động phá giá đồng nội tệ luôn là trọng tâm được nhiều nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách các nước lưu tâm. Các nghiên cứu kiểm chứng độ tin cậy của giả thuyết liệu đồng nội tệ định giá thấp có khả năng trở thành con đường phát triển thịnh vượng cho một quốc gia, bởi tỷ giá cho phép thay đổi sức cạnh tranh của các loại hàng hoá và dịch vụ do các nước sản xuất ra.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ