Chương 1: Tổng quan về SGDHH Chương 2: Thƣ̣c trạng SGDHH tại Việt Nam Chương 3: Giải pháp phát triển cho SGDHH tại Việt Nam Nhân dịp này, em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn tới các thầy cô giáo trƣờng Đại học Ngoại thƣơng đã hết lòng dạy bảo và giúp đỡ chúng em trong suốt bốn năm học vừa qua. Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS .TS Phạm Duy Liên – ngƣời đã tận tình hƣớng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này. Mặc dù đã nỗ lực cố gắng để hoàn thành khoá luận một cách tốt nhất song do năng lực và khả năng tiếp cận thƣ̣c tế hạn chế nên trong quá trình nghiên cứu và viết khoá luận, em không tránh khỏi những thiếu sót. Do đó, em mong nhận đƣợc sự đóng góp ý kiến của thầy cô giáo và các bạn sinh viên để khoá luận đƣợc hoàn thiện và có ý nghĩa thực tiễn hơn.
3 Thực trạng và giải pháp phát triển SGDHH tại Việt Nam Lê Thị Bí ch An CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ SGDHH. Sơ lƣợc quá trình hình thành và phát triển của SGDHH. SGDHH là một loại thị trƣờng đặc biệt đƣợc hình thành và phát triển đã từ lâu ở những nƣớc có nền kinh tế thị trƣờng. SGDHH là một trong nhƣ̃ng tổ chƣ́c giao dị ch mua bán cổ truyền nhất trong thƣơng mại , trong tiếng Anh SGDHH có nhiều tên gọi khác nhau nhƣ : Commodity Exchange, Commodity Future Market, Corn Exchange,… SGDHH xuất hiện ở châu Âu từ thế kỷ 11 đến thể kỷ 14 và nó đƣợc phát hiện ở Nhật Bản vào thế kỷ 17, SGDHH hiện đại bắt nguồn ở Chicago, Mỹ giƣ̃a thế kỷ 19.
Trên thế giới hiện nay có trên 40 quốc gia có SGDHH hiện đại đƣợc nối mạng giao dịch toàn cầu , chủ yếu tập trung ở các nƣớc phát triển có tiềm lực kinh tế mạnh hoặc có các hàng hóa mũi nhọn nhƣ : Mỹ, Anh, Pháp, Nhật, Nga, Trung Quốc , Nam Phi ,… Trong khối ASEAN thì có Philipin , Indonesia, Malaysia, Singapore cũng đã có SGDHH. Ngoài ra , nhiều nƣớc đã tổ chƣ́c đƣợc các SGDHH hoạt động trong phạm vi trong nƣớc. Nhƣ vậy có thể thấy rằng ban đầu SGDHH là thị trƣờng hàng hóa tập trung đầu tiên ra đời để phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ nông sản của nông dân , giúp họ tránh đƣợc những rủi ro cho hàng hóa nông sản. Dần dần, các cơ sở giao dị ch đã vƣợt xa khỏi giới hạ n ban đầu trở thành một trong nhƣ̃ng công cụ đầu tƣ hƣ̃u hiệu nhất trong ngành tài chí nh.
Yếu tố này của Sở giao dị ch đến các giai đoạn sau trở thành tiền đề để thiết lập nên những Sàn giao dịch khác , hình thành nên một ch uỗi các sở trên thế giới. Có thể kể đến các Sở giao dịch nổi tiếng trên thế giới nhƣ : Brazilian Mercantile and Futures Exchange – BMF (Brazil); CME Group - CME (Chicago, US); New York Mercantile Exchange – NYMEX (New York, US); NYSE Euronext (Europe); London Metal Exchange – LME (London, UK); Risk Management Exchange – RMX (Hannover, Deutschland); Australian Securities Exchange – ASX (Sydney, 4 Thực trạng và giải pháp phát triển SGDHH tại Việt Nam Lê Thị Bí ch An Australia); Tokyo Commodity Exchange – TOCOM (Tokyo,Japan); Singapore Commodity Exchange – SICOM (Singapore); Dalian Commodity Exchange - DCE (Dalian,China);… SGDHH ngày nay đã phát huy đƣợc những thế mạnh trong nền kinh tế của các nƣớc phát triển và đang phát triển. Sƣ̣ thay đổi giá của các hàng hóa giao dị ch tại SGDHH chuyển biến tƣ̀ng giây một và gây ảnh hƣởng không chỉ đối với nền kinh tế của một quốc gia đơn lẻ mà cả với nền kinh tế của khu vực và toàn cầu. Khái niệm và đặc điểm của SGDHH.
Khái niệm về SGDHH. Tại kỳ họp quốc hội Mỹ thứ 106 năm 2000, SGDHH đƣợc nêu trong Quy đị nh về hoạt động mu a bán hàng hóa tƣơng lai. SGDHH đƣợc hiểu là th ị trƣờng nơi nhiều loại mặt hàng và các hàng hóa phái sinh đƣ ợc mua bán. Hầu hết các SGDHH tiến hành các giao dị ch trên khắp thế giới với sản phẩm chủ yếu là các nông sản và nh ững nguyên vật liệu thô khác (nhƣ: lúa mì, đƣờng, bông sợi, ca cao, cà phê và các sản phẩm từ sữa, thịt lợn, dầu, kim loại.
Những hợp đồng giao dị ch bao g ồm hợp đồng giao ngay , hợp đồng tƣơng lai , và hợp đồng quyền chọn. Ngoài ra còn có những h ợp đồng phức tạp hơn bao gồm cả nhƣ̃ng quy đị nh về t ỉ giá, phí môi trƣ ờng, điều khoản hoán đ ổi và chi phí vận chuyển. Trao đổi hàng hóa tƣơng lai một mặt hàng nào đó nghĩa là việc thỏa thuận thời gian giao nhận một món hàng nào đó. Một nông dân trồng ngô có thể bán hợp đồng kỳ hạn mua ngô của mình cho một bên nào đó từ khi ngô còn chƣa thu hoạch và đảm bảo giá bán khi đó sẽ không thay đổi nhƣ khi ký hợp đồng.
Việc mua bán hợp đồng kỳ hạn giúp ngƣời nông dân tránh khỏi nguy cơ mất giá hàng hóa còn bên mua hàng tránh đƣợc việc giá tăng. Các nhà đầu tƣ sẽ mua các hợp đồng kỳ hạn rồi bán lại cho bên mua hàng để thu lợi nhuận chênh lệch. 5 Thực trạng và giải pháp phát triển SGDHH tại Việt Nam Lê Thị Bí ch An Kỳ hạn của một mặt hàng làm nổi rõ hai yếu tố cơ bản. Trƣớc tiên, giá trị thực của mặt hàng đó phải tồn tại.
Thứ hai, bên mua hàng phải dự đoán đƣợc hàng hóa đó sẽ tăng giá theo thời gian. Khi có khả năng này, bên mua hàng sẽ ký hợp đồng với bên bán để mua hàng với mức giá không chỉ đủ để đem lại lợi nhuận cho họ tại thời điểm đó mà còn giúp tạo ra nhiều lãi hơn khi giá trị món hàng đó tăng lên theo thời gian. Hình thức đầu tƣ vào kỳ hạn của hàng hóa là hoạt động kinh doanh sôi động nhất trên thị trƣờng hiện nay. Mặc dù cũng tiềm ẩn một số nguy cơ rủi ro nhƣng thị trƣờng này ít biến động hơn những thị trƣờng khác.
Ngoại trừ trong trƣờng h ợp thiên tai hay những biến động quá lớn, còn hầu hết trong các trƣờng hợp giá trị thực của hàng hóa có thể dự đoán đƣợc. Còn theo Luật về SGDHH của Nhật năm 2005, SGDHH cũng đƣợc đề cập tới là một tổ chƣ́c chỉ đ ạo những doanh nghiệp kinh doanh mua bán hàng hóa, giúp mở cửa thị trƣờng cần thiết cho vi ệc tiến hành những trao đổi hàng hóa hay xác đị nh nh ững chỉ số hàng hóa cũng nhƣ việc kiểm định chất lƣợng những mặt hàng trong danh sách , đảm bảo việc giao hàng và thanh toán. Giao dịch mua bán hàng hóa trên thị trƣờng có th ể phân chia thành 2 loại căn cứ vào đối tƣợng, đó là : + Các giao dịch mua bán hàng hóa hiện hữu. + Các giao dịch mua bán hàng hóa mà ngƣời bán sẽ sản xuất hoặc mua hàng hóa sau khi quan hệ mua bán đƣợc thiết lập (mua bán hàng hóa tƣơng lai hay còn đƣợc gọi là mua khống - bán khống).
Khái niệm mua bán hàng hóa trong tƣơng lai đƣợc đề cập trong Luật Thƣơng mại năm 2005 với tên gọi là mua bán hàng hóa qua SGDHH. Mua bán hàng hóa qua SGDHH đƣợc hiểu là hoạt động thƣơng mại, theo đó các bên thỏa thuận việc thực hiện mua bán một lƣợng nhất định của một loại hàng hóa nhất định qua SGDHH theo những tiêu chuẩn của SGDHH với giá đƣợc thỏa thuận tại thời điểm giao kết hợp đồng và thời gian giao hàng đƣợc xác 6 Thực trạng và giải pháp phát triển SGDHH tại Việt Nam Lê Thị Bí ch An định tại thời điểm trong tƣơng lai1. Theo Nghị đị nh s ố: 158/2006/NĐ-CP Quy định chi tiết Luật Thƣơng mại về hoạt động mua bán hàng hoá qua SGDHH , thì SGDHH đƣợc định nghĩa là : “SGDHH là pháp nhân được thành lập và hoạt động dưới hình thức Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần theo quy định của Luật Doanh nghiệp và quy định của Nghị định này.” Nói tóm lại , SGDHH có thể hiểu là một một trung tâm của hoạt động mua bán hàng hóa tương lai có cơ sở vật chất kỹ thuật cần thiết để hoạt động, tiến hành giao dị ch mua bán hàng hóa , niêm yết các mức giá cụ thể hì nh thành trên thị trường giao dịch tại từng thời điểm. Đặc điểm của SGDHH.
SGDHH trong điều kiện của nền kinh tế hiện đại, đƣợc quan niệm là nơi diễn ra các hoạt động mua bán, trao đổi, chuyển nhƣợng các loại hàng hóa (trung và dài hạn), qua đó các chủ thể nắm giấy tờ mua bán sở hữu hàng hóa. Xét về bản chất thì SGDHH có những đặc điểm như sau: - Có cơ sở hạ tầng nhất định về mặt bằng, hạ tầng công nghệ thông tin để tập trung và phân phối các hàng hóa… - Có ngƣời môi giới chuyên nghiệp thoả mãn các tiêu chí định trƣớc. - Hàng hoá tham gia giao dịch đƣợc định chuẩn chất lƣợng (bắt buộc), thông thƣờng hàng hóa đƣợc mua bán là nhƣ̃ng mặt hàng có tí nh chất đồng loại. Có phẩm chất rõ ràng nhƣ : kim loại , ngũ cốc , cà phê, cao su… Thông thƣờng SGDHH kinh doanh một mặt hàng cá biệt , tƣ́c là chỉ giao dị ch một món hàng cụ th ể.
Nhƣng cũng có SGDHH tiến hành đồn g thời các giao dị ch đối với một số nhóm hàng (chẳng hạn vƣ̀a giao dị ch nông sản , vƣ̀a giao dị ch kim loại). - Hình thức giao kết phải thể hiện bằng hợp đồng. 1 Khoản 1, Điều 63, Luật Thƣơng mại, 2005. 7 Thực trạng và giải pháp phát triển SGDHH tại Việt Nam Lê Thị Bí ch An - Thanh toán bù trừ qua trung gian.
Thông thƣờng việc thanh toán sẽ đƣợc ủy thác qua một ngân hàng. - Có nhiều ngƣời bán và nhiều ngƣời mua. Thông qua SGDHH, ngƣời mua có thể tìm đƣợc sản phẩm mong muốn với số lƣợng lớn, chất lƣợng tốt, còn ngƣời bán có thể bán hàng hóa của mình với một mức giá hợp lý nhất. Ngoài ra, SGDHH cũng được coi là định chế tài chính trực tiếp: cả chủ thế cung và cầu đều tham gia thị trƣờng một cách trực tiếp hoặc thông qua thành viên kinh doanh.
Tại Sở giao dịch, hàng hóa giao dịch sẽ có những quy định nghiêm ngặt mà tất cả các thành viên đều phải tuân thủ. Qua đó làm thị trƣờng hoạt động minh bạch, công khai, chất lƣợng cao hơn.