Chương 1 đã trình bày rõ về tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu, nêu ra các m c tiêu của đề tài và các câu hỏi để làm rõ vấn đề nghiên cứu. Đồng thời, tác giả trình bày phương pháp nghiên cứu (PPNC) là sự kết hợp giữa phương pháp đ nh tính và phương pháp đ nh lượng. Nêu bật được ý ngh a của đề tài về mặt lý thuyết và cả thực tiễn. Sau đó, tác giả trình bày sơ lược về kết cấu nội dung của 5 chương trong bài nghiên cứu.
TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 2. LÝ THUYẾT VỀ KHỞI NGHIỆP 2. Khái niệm về Khởi nghiệp Đ nh ngh a Khởi nghiệp theo từ điển Tiếng Việt được giải ngh a là bắt đầu sự nghiệp. MacMillan 1993 đ nh ngh a "khởi nghiệp là việc cá nhân chấp nhận mọi rủi ro để tạo lập doanh nghiệp mới hoặc mở cửa hàng kinh doanh vì m c đích lợi nhuận và làm giàu".
Còn theo Austin và cộng sự 2006 thì "khởi nghiệp là việc tận d ng cơ hội kinh doanh để làm giàu b ng cách khởi xướng các phương thức hoạt động sáng tạo trong điều kiện môi trường hạn chế về nguồn lực". Theo Shapero và Sokol (1982), "Khởi nghiệp là quá trình bắt đầu từ việc nhận ra cơ hội, từ đó phát triển các ý tưởng nh m tạo ra một doanh nghiệp mới. Tuy vậy, không phải ai cũng có thể nắm bắt được cơ hội để khởi nghiệp. Một người có năng lực khởi nghiệp phải có k vọng và nhận ra tính khả thi của ý tưởng khởi nghiệp".
Ngoài ra, còn có một quan điểm mở rộng thêm của khởi nghiệp là khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, nhấn mạnh đến yếu tố đổi mới sáng tạo khi tạo lập doanh nghiệp. Theo Gupta và Bhawe (2007), "các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo là một cộng đồng đặc biệt vì tính chất tạo ra những sản phẩm mới, phân khúc khách hàng mới, b ng những công nghệ mới và ý tưởng mới, chưa từng có, cách tiếp cận th trường mới". Từ các quan điểm trên cho thấy việc khởi nghiệp kinh doanh và khởi nghiệp đổi mới sáng tạo đều là một phần của khởi nghiệp, nói chung là đều đề cập đến việc khởi sự một doanh nghiệp mới. Khái niệm về Ý định khởi nghiệp Theo Krueger (2003), "ý đ nh là trạng thái nhận thức ngay trước khi thực hiện một hành vi", từ đó đ nh ngh a ý đ nh khởi nghiệp cũng được Krueger (2003) cho r ng là "sự nhận thức, mong muốn thành lập và làm chủ một doanh nghiệp mới".
Theo Bird (1988), "ý đ nh khởi nghiệp kinh doanh là trạng thái tâm lý cá nhân hướng đến việc hình thành, thiết lập hình thức hoạt động kinh doanh". Hay theo Gupta và 9 Bhawe 2007 , thì cho r ng "ý đ nh khởi nghiệp là một quá trình đ nh hướng việc lập kế hoạch và triển khai thực hiện một kế hoạch tạo lập doanh nghiệp". Còn theo Begley và Tan (2001) phát biểu r ng "những cá nhân có ý đ nh khởi nghiệp kinh doanh là những người chưa thực hiện hành vi nào để khởi nghiệp kinh doanh họ chưa tìm kiếm cơ hội, chưa huy động vốn hay làm bất cứ hoạt động xúc tiến cơ hội kinh doanh. nhưng họ khao khát và có niềm tin tích cực vào khả năng thành công khi khởi nghiệp kinh doanh".
Còn trong nghiên cứu của Schwarz và cộng sự 2009 , "ý đ nh khởi nghiệp của sinh viên xuất phát từ các ý tưởng của sinh viên và được đ nh hướng đúng đắn từ chương trình giáo d c và những người đào tạo". Từ các khái niệm nêu trên, tác giả tổng hợp và đúc kết được r ng ý đ nh khởi nghiệp của sinh viên là những ý tưởng và dự đ nh của sinh viên, thể hiện sự khao khát, mong muốn được tạo lập cho mình một doanh nghiệp trong tương lai. Khái niệm về Doanh nh n khởi nghiệp Bắt đầu từ khái niệm doanh nhân, theo từ điển Việt Nam thì doanh nhân được đ nh ngh a là ―Người làm nghề kinh doanh‖. Theo Ngọc Thúy 2022 , "doanh nhân là những người tham gia hoạt động trong l nh vực kinh doanh, cung cấp các sản phẩm/d ch v , m c đích chính của họ là tìm kiếm lợi nhuận".
Kết hợp khái niệm ―Doanh nhân‖ và ―Khởi nghiệp‖ ta được khái niệm về ―Doanh nhân khởi nghiệp‖. Trong từ điển, doanh nhân khởi nghiệp là người đứng ra sáng lập một doanh nghiệp mới để cung ứng một sản phẩm hay d ch v cho một th trường. Đỗ Minh Cương 2009 có đề cập về khái niệm doanh nhân khởi nghiệp là "những người chèo lái con thuyền doanh nghiệp mà điểm khác biệt của họ so với những người khác ở chỗ là họ dám chấp nhận mạo hiểm, rủi ro khi dấn thân vào con đường khởi nghiệp kinh doanh". Còn theo Bird 1988 giải thích "doanh nhân khởi nghiệp là người tạo dựng một công việc kinh doanh mới nên vai trò của họ là vô cùng quan trọng được xem như người đầu tàu, họ cũng là người luôn tìm đến sự thay đổi, thích ứng với nó và khai thác cơ hội để tìm ra các hướng đi đúng đắn cho con tàu kinh doanh của mình".
Theo Trần Hoàng Bảo Hân 2021 , "doanh nhân khởi nghiệp là những người biết 10 nắm bắt các cơ hội kinh doanh mà họ nhìn nhận được, họ còn là những người thích thách thức, chấp nhận sự rủi ro và mạo hiểm". Tóm lại, doanh nhân khởi nghiệp là người dám ngh dám làm, họ sẵn sàng bắt tay vào hiện thực hóa ý tưởng kinh doanh của mình mặc cho những rủi ro trong quá trình thực hiện, nh m m c tiêu chèo lái con tàu sự nghiệp kinh doanh của mình hướng đến bến bờ của sự phát triển trong tương lai. Vai trò của các hoạt động Khởi nghiệp Theo Shapero và Sokol (1982), "trong giai đoạn kinh tế toàn cầu phát triển như hiện nay, khởi nghiệp chính là chìa khóa quan trọng để tăng trưởng kinh tế. Khởi nghiệp còn đóng vai trò quan trọng đối với sự nghiệp phát triển kinh tế và tạo công ăn việc làm cho người lao động".
Còn theo Võ Văn Hiền và Lê Hoàng Vân Trang 2021), "xu hướng khởi nghiệp là một trong những động lực thúc đẩy sự phát triển các sản phẩm công nghệ sáng tạo đáp ứng yêu cầu của đời sống xã hội". Đồng thời, theo Trần Hoàng Bảo Hân 2021 , "khởi nghiệp cũng đóng một vai trò quan trọng góp phần giúp thúc đẩy tinh thần sáng tạo, phát huy nguồn lực của xã hội, phong trào này cũng được đẩy mạnh tại nhiều quốc gia Đông Nam , trong đó có Việt Nam. Với bối cảnh nền kinh tế hội nhập, người dân có điều kiện tiếp cận các cơ hội kinh doanh đa dạng và liên t c, khởi nghiệp được coi là một cách thức hiệu quả để xử lý các vấn đề xã hội và đồng thời tạo ra các giá tr mới cho nền kinh tế". NỀN TẢNG LÝ THUYẾT CỦA NGHIÊN CỨU 2.
Lý thuyết về ý định hành vi (Theory of Planned Behavior - TPB) "Lý thuyết về ý đ nh hành vi TPB được thực hiện nh m m c đích dự báo và làm sáng tỏ hành vi con người trong một bối cảnh c thể" (Ajzen, 1991). Có 3 yếu tố chính tác động đến ý đ nh hành vi là ―Thái độ cá nhân‖, ―Chuẩn chủ quan‖ và ―Nhận thức kiểm soát hành vi‖. Trong đó, "―Thái độ cá nhân‖ được đo lường b ng 11 niềm tin và giá tr mong đợi của cá nhân đó thông qua việc tự đánh giá xem hành vi sắp thực hiện có lợi hay không có lợi, dẫn đến việc bản thân có mong muốn và hứng thú để thực hiện hành vi đó hay không; Yếu tố ―Chuẩn chủ quan‖ có thể được đo lường thông qua mức độ ủng hộ hoặc phản đối của những người có ảnh hưởng đến cá nhân đó như gia đình, bạn bè, người thân, đồng nghiệp) đối với việc tiến hành thực hiện hành vi; Yếu tố thứ ba là ―Nhận thức kiểm soát hành vi‖, yếu tố này phản ánh mức độ dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện hành vi, việc thực hiện hành vi đó có b kiểm soát hay hạn chế không" (Ajzen, 1991). Mô hình nghiên cứu về hành vi ý đ nh - TPB.
(Nguồn: Ajzen, 1991) Từ lý thuyết ý đ nh hành vi TPB có thể suy rộng ra r ng để hình thành ý đ nh khởi nghiệp thì sinh viên phải trải qua một quá trình phân tích, suy xét, đánh giá nhiều yếu tố, khía cạnh có liên quan đến ý đ nh đó của mình. Bắt nguồn từ một niềm tin tích cực và tốt đẹp với việc khởi nghiệp, khát khao được làm giàu, sinh viên sẽ có thái độ hào hứng và thích thú với việc khởi nghiệp và khao khát trở thành doanh nhân khởi nghiệp thành công trong tương lai, cộng với những tác động từ mọi người xung quanh như gia đình, bạn bè, những tác động này sẽ gián tiếp truyền những niềm tin hay quan điểm của họ lên chủ thể tiếp nhận là sinh viên, cộng với niềm tin và khát khao, hứng thú được hình thành từ trước, sinh viên sẽ hình thành nên ý đ nh khởi nghiệp với mong đợi sẽ đạt được lợi ích cao nhất. Đồng thời, ngoài việc phải chiến thắng hai yếu tố tác động trên, sinh viên còn phải chiến thắng cả những ý chí thúc đẩy và nhận thức nội tại bên trong mình về khả năng thực hiện việc khởi nghiệp. Lý thuyết sự kiện khởi nghiệp (The Entrepreneurial Event - SEE) 12 Shapero và Sokol đã xây dựng Mô hình sự kiện khởi nghiệp SEE vào năm 1982.
Đây là một trong số những mô hình khá cổ điển, tuy nhiên lại thường xuyên được trích dẫn và áp d ng khá nhiều trong các nghiên cứu về khởi nghiệp sau này bởi sự hữu ích của nó. Trong mô hình này, Shapero và Sokol (1982) chỉ ra r ng "các ―Yếu tố hoàn cảnh cá nhân‖ được thể hiện qua ba khía cạnh, xét về thay đổi tích cực gồm các yếu tố kéo như có được nguồn hỗ trợ tài chính, tìm được đối tác chiến lược; xét về thay đổi tiêu cực gồm các yếu tố đẩy là b đuổi việc, bất mãn công việc hiện tại; và các yếu tố trung gian ví d như tốt nghiệp ra trường) và ―Thái độ đối với việc khởi nghiệp‖ (thể hiện b ng hai khía cạnh là ―Cảm nhận tính khả thi‖ và ―Cảm nhận sự khao khát‖) sẽ ảnh hưởng đến quyết đ nh lựa chọn để thành lập một doanh nghiệp của họ". ―Cảm nhận sự khát khao‖ và ―Cảm nhận tính khả thi‖ được hình thành từ môi trường văn hóa và xã hội nơi cá nhân có ý đ nh khởi nghiệp đang sinh sống.