Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khởi nghiệp đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội tại Việt Nam. Theo thống kê được tác giả trích dẫn, khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ tư nhân đóng góp khoảng 42% - 43% GDP và thu hút xấp xỉ 85% lực lượng lao động của cả nước (Minh Hương, 2021). Nhằm thúc đẩy nguồn nhân lực trẻ tham gia hoạt động đổi mới sáng tạo, Thủ tướng Chính phủ và Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đã phê duyệt Kế hoạch triển khai Đề án "Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp đến năm 2025" (Minh Hùng, 2022). Sinh viên khối ngành kinh tế được đánh giá là lực lượng nòng cốt với nền tảng kiến thức chuyên môn kinh doanh chuyên sâu.

Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh (HUB) là cơ sở đào tạo khối ngành kinh tế và nằm trong nhóm 50 cơ sở giáo dục đại học có công bố quốc tế tốt nhất Việt Nam (DTU Research Informeta Group, 2020). Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu ý định khởi nghiệp tại các trường đại học trên địa bàn TP.HCM, nhưng chưa có đề tài nào khảo sát thực nghiệm chuyên biệt trên nhóm sinh viên năm 3 và năm 4 tại HUB với cơ sở dữ liệu cập nhật năm 2023. Do đó, tác giả Mai Thị Kim Anh đã lựa chọn đề tài "Các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh".

Mục tiêu nghiên cứu:

  • Mục tiêu tổng quan: Phân tích các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Xác định các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM.
    2. Đo lường mức độ tác động của những yếu tố này đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM.
    3. Đề xuất các hàm ý quản trị nhằm thúc đẩy và nâng cao tinh thần khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM.

Câu hỏi nghiên cứu:

  1. Thứ nhất, những yếu tố nào tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM?
  2. Thứ hai, mức độ ảnh hưởng của những yếu tố đó đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM trong bối cảnh hiện nay như thế nào?
  3. Thứ ba, những hàm ý quản trị nào được đề xuất sau khi phân tích các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên.
  • Đối tượng khảo sát: Sinh viên năm 3 và năm 4 đang theo học tại Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM.
  • Phạm vi không gian: Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập và xử lý số liệu từ tháng 02/2023 đến tháng 03/2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và mô hình nghiên cứu

Khóa luận xây dựng mô hình nghiên cứu dựa trên hai nền tảng lý thuyết chính:

  1. Lý thuyết Hành vi hoạch định (Theory of Planned Behavior - TPB) của Ajzen (1991): Giải thích ý định hành vi thông qua 3 thành phần: Thái độ cá nhân, Chuẩn chủ quan và Nhận thức kiểm soát hành vi.
  2. Lý thuyết Sự kiện khởi nghiệp (The Entrepreneurial Event - SEE) của Shapero và Sokol (1982): Chỉ ra rằng ý định hình thành qua Cảm nhận sự khao khát, Cảm nhận tính khả thi kết hợp các Yếu tố hoàn cảnh cá nhân (yếu tố kéo, yếu tố đẩy, yếu tố trung gian).

Mô hình nghiên cứu đề xuất gồm 6 biến độc lập và 1 biến phụ thuộc với 6 giả thuyết nghiên cứu ($H_1$ đến $H_6$):

  • $H_1$: Thái độ có tác động cùng chiều đến ý định khởi nghiệp của sinh viên.
  • $H_2$: Chuẩn chủ quan có tác động cùng chiều đến ý định khởi nghiệp của sinh viên.
  • $H_3$: Tính cách có tác động cùng chiều đến ý định khởi nghiệp của sinh viên.
  • $H_4$: Nguồn vốn có tác động cùng chiều đến ý định khởi nghiệp của sinh viên.
  • $H_5$: Giáo dục khởi nghiệp có tác động cùng chiều đến ý định khởi nghiệp của sinh viên.
  • $H_6$: Vai trò của Nhà trường có tác động cùng chiều đến ý định khởi nghiệp của sinh viên.

Phương pháp nghiên cứu và quy trình thực hiện

Đề tài thực hiện kết hợp phương pháp định tính và định lượng qua quy trình 14 bước:

  • Nghiên cứu định tính: Thực hiện thông qua phỏng vấn sâu 02 chuyên gia (giảng viên am hiểu lĩnh vực khởi nghiệp) và thảo luận nhóm tập trung với 08 sinh viên (gồm 06 sinh viên năm 4 ngành Quản trị kinh doanh từng làm dự án khởi nghiệp và 02 cựu sinh viên khởi nghiệp thành công). Kết quả định tính giúp điều chỉnh ngữ nghĩa của 8 biến quan sát trong thang đo sơ bộ để hoàn thiện bảng câu hỏi khảo sát chính thức.
  • Nghiên cứu định lượng: Khảo sát trực tuyến sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện (phi xác suất). Thang đo Likert 5 mức độ (từ 1: Hoàn toàn không đồng ý đến 5: Hoàn toàn đồng ý) được áp dụng để đo lường 29 biến quan sát.
  • Công cụ và kỹ thuật phân tích: Dữ liệu thu thập được mã hóa và làm sạch trên phần mềm SPSS 20.0, thực hiện thống kê mô tả, kiểm định độ tin cậy thang đo qua hệ số Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích tương quan Pearson, phân tích hồi quy tuyến tính bội và kiểm định sự khác biệt (Independent Samples T-Test, One-Way ANOVA).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu

Chương 1 thiết lập khung nghiên cứu tổng thể, trình bày tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp quốc gia. Chương này xác định rõ mục tiêu tổng quan, 3 mục tiêu cụ thể, 3 câu hỏi nghiên cứu, đối tượng khảo sát (sinh viên năm 3, năm 4 HUB), phạm vi không gian, thời gian (tháng 02/2023 - 03/2023), đóng góp về mặt học thuật, thực tiễn và kết cấu 5 chương của khóa luận.

Chương 2: Tổng quan cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu của đề tài

Chương 2 hệ thống hóa các định nghĩa về khởi nghiệp, ý định khởi nghiệp, doanh nhân khởi nghiệp và vai trò của khởi nghiệp đối với kinh tế. Tác giả phân tích chuyên sâu hai lý thuyết nền tảng TPB (Ajzen, 1991) và SEE (Shapero & Sokol, 1982), đồng thời lược khảo 10 công trình nghiên cứu thực nghiệm liên quan (4 nghiên cứu quốc tế: Liñán và cộng sự, 2011; Haris và cộng sự, 2016; Miranda và cộng sự, 2017; Fragoso và cộng sự, 2020; cùng 6 nghiên cứu trong nước: Hoàng Thị Thương, 2014; Võ Văn Hiền & Lê Hoàng Vân Trang, 2021; Phạm Quang Tín và cộng sự, 2021; Nguyễn Văn Định và cộng sự, 2022; Huỳnh Nhựt Nghĩa và cộng sự, 2021; Trương Hoàng Diệp Hương và cộng sự, 2022).

Nhóm nghiên cứu Tác giả & Năm Biến độc lập chính trong mô hình
Nước ngoài Liñán và cộng sự (2011) Giáo dục khởi nghiệp, Thái độ cá nhân, Quy chuẩn xã hội, Nhận thức tính khả thi
Haris và cộng sự (2016) Tiếp cận tài chính, Cơ hội nghề nghiệp, Cảm nhận tính khả thi, Lời khuyên gia đình/bạn bè, Môi trường giáo dục khởi nghiệp
Miranda và cộng sự (2017) Thái độ, Nhận thức kiểm soát hành vi, Chuẩn chủ quan
Fragoso và cộng sự (2020) Đặc điểm tính cách, Năng lực bản thân, Thái độ, Đào tạo và giáo dục khởi nghiệp, Sự công nhận của xã hội
Trong nước Hoàng Thị Thương (2014) Chuẩn mực xã hội, Cảm nhận sự khát khao, Cảm nhận tính khả thi, Môi trường giáo dục đại học, Điều kiện thị trường và tài chính, Tính cách cá nhân
Võ Văn Hiền & Lê Hoàng Vân Trang (2021) Đặc điểm tính cách, Giáo dục khởi nghiệp, Kinh nghiệm, Nhận thức kiểm soát hành vi, Chuẩn chủ quan
Phạm Quang Tín và cộng sự (2021) Hỗ trợ từ gia đình, Nhận thức, Thái độ, Chương trình đào tạo, Vai trò của trường đại học
Nguyễn Văn Định và cộng sự (2022) Đặc điểm tính cách, Thái độ, Môi trường giáo dục, Nhận thức kiểm soát hành vi, Nguồn vốn
Huỳnh Nhựt Nghĩa và cộng sự (2021) Hỗ trợ từ gia đình/bạn bè, Năng lực sinh viên, Hệ sinh thái khởi nghiệp, Động lực, Nhận thức, Thái độ
Trương Hoàng Diệp Hương và cộng sự (2022) Thái độ khởi nghiệp, Chuẩn chủ quan, Giáo dục khởi nghiệp

Từ việc phân tích khoảng trống nghiên cứu, tác giả đề xuất tách biệt yếu tố học thuật ("Giáo dục khởi nghiệp") và yếu tố hỗ trợ thực tế ("Vai trò của Nhà trường"), thiết lập mô hình 6 biến độc lập tác động đến ý định khởi nghiệp.

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 chi tiết hóa quy trình nghiên cứu 14 bước, thiết kế bảng câu hỏi gồm 3 phần (sàng lọc, nhân khẩu học, 29 biến quan sát). Quy mô mẫu khảo sát được tính toán theo tiêu chuẩn của Hair và cộng sự (2009) cho phân tích EFA ($29 \times 5 = 145$ quan sát tối thiểu, tốt nhất là $29 \times 10 = 290$) và tiêu chuẩn hồi quy của Nguyễn Đình Thọ (2014) ($N \ge 50 + 8p = 50 + 8 \times 6 = 98$). Dữ liệu thực tế thu về đạt 324 phiếu hợp lệ trên tổng số 330 phiếu phát ra.

Thang đo chính thức gồm 29 biến quan sát:

  • Thái độ (TĐ): 5 biến quan sát (TĐ1 - TĐ5)
  • Chuẩn chủ quan (CCQ): 4 biến quan sát (CCQ1 - CCQ4)
  • Tính cách (TC): 5 biến quan sát (TC1 - TC5)
  • Nguồn vốn (NV): 4 biến quan sát (NV1 - NV4)
  • Giáo dục khởi nghiệp (GD): 3 biến quan sát (GD1 - GD3)
  • Vai trò của Nhà trường (NT): 4 biến quan sát (NT1 - NT4)
  • Ý định khởi nghiệp (YĐ - biến phụ thuộc): 4 biến quan sát (YĐ1 - YĐ4)

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Chương 4 thực hiện phân tích dữ liệu 324 mẫu bằng phần mềm SPSS 20.0:

  • Thống kê mô tả các biến định tính và định lượng trong mẫu khảo sát.
  • Đánh giá độ tin cậy thang đo thông qua hệ số Cronbach's Alpha.
  • Phân tích nhân tố khám phá EFA đối với 6 nhóm biến độc lập và 1 biến phụ thuộc.
  • Phân tích ma trận hệ số tương quan Pearson.
  • Phân tích hồi quy tuyến tính OLS, kiểm định sự phù hợp của mô hình ($R^2$, kiểm định ANOVA), kiểm tra các hiện tượng vi phạm giả định (đa cộng tuyến qua hệ số VIF, tự tương quan, phương sai phần dư thay đổi qua kiểm định hạng Spearman, biểu đồ Histogram và Scatter Plot).
  • Kiểm định các giả thuyết nghiên cứu và phân tích sự khác biệt ý định khởi nghiệp theo giới tính, năm học và ngành học.

Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị

Chương 5 đúc kết kết quả phân tích định lượng, chỉ ra 4 yếu tố tác động cùng chiều có ý nghĩa thống kê đến ý định khởi nghiệp của sinh viên HUB theo thứ tự giảm dần: Thái độ, Tính cách, Nguồn vốn, Vai trò của Nhà trường. Dựa trên kết quả thực nghiệm, tác giả xây dựng các nhóm hàm ý quản trị cụ thể cho Nhà trường và sinh viên, đồng thời trình bày các hạn chế của đề tài và hướng mở cho các nghiên cứu tiếp theo.


Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính

Phân tích hồi quy đa biến trên mẫu $N = 324$ sinh viên Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM cho thấy mô hình đạt độ phù hợp thống kê, không vi phạm các giả định hồi quy. Trong 6 giả thuyết ban đầu, có 4 yếu tố có tác động tích cực (cùng chiều) đến ý định khởi nghiệp với mức độ ảnh hưởng sắp xếp theo thứ tự giảm dần:

Thái độ > Tính cách > Nguồn vốn > Vai trò của Nhà trường

Hai yếu tố Chuẩn chủ quan và Giáo dục khởi nghiệp không đạt ý nghĩa thống kê trong mô hình hồi quy cuối cùng của mẫu nghiên cứu tại HUB.

Hệ thống hàm ý quản trị đề xuất

Dựa trên trọng số tác động của 4 yếu tố có ý nghĩa thống kê, tác giả đề xuất các nhóm giải pháp:

  • Đối với yếu tố Thái độ: Tăng cường các chương trình truyền cảm hứng kinh doanh, tổ chức các buổi giao lưu thực tế với cựu sinh viên khởi nghiệp thành công nhằm xây dựng niềm tin, sự hứng thú và nhận thức tích cực của sinh viên về việc tự làm chủ doanh nghiệp.
  • Đối với yếu tố Tính cách: Tạo dựng môi trường rèn luyện tính tự lập, kỹ năng giải quyết vấn đề, khả năng thích ứng linh hoạt và tinh thần chấp nhận thử thách thông qua các hoạt động ngoại khóa, kỹ năng mềm và dự án thực tế.
  • Đối với yếu tố Nguồn vốn: Thiết lập các quỹ hỗ trợ sinh viên khởi nghiệp, kết nối sinh viên với các nhà đầu tư thiên thần, tổ chức tín dụng và hướng dẫn kỹ năng lập kế hoạch tài chính, gọi vốn đầu tư từ người thân, bạn bè và xã hội.
  • Đối với yếu tố Vai trò của Nhà trường: Nâng cao hiệu quả hoạt động của vườn ươm khởi nghiệp, duy trì và mở rộng quy mô các câu lạc bộ khởi nghiệp, tổ chức các cuộc thi ý tưởng kinh doanh định kỳ và cung cấp các chính sách hỗ trợ cơ sở vật chất, pháp lý cho các dự án tiềm năng.

Đóng góp của đề tài

  • Đóng góp học thuật: Kiểm chứng thực nghiệm mô hình tích hợp TPB và SEE trong bối cảnh sinh viên đại học khối ngành kinh tế tại Việt Nam; phân tách độc lập giữa yếu tố lý thuyết học thuật ("Giáo dục khởi nghiệp") và yếu tố hỗ trợ thực tiễn ("Vai trò của Nhà trường"), bổ sung bằng chứng về sự tác động trực tiếp của vai trò nhà trường đối với ý định khởi nghiệp.
  • Đóng góp thực tiễn: Cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm năm 2023 cho Ban giám hiệu và các đơn vị quản lý tại Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM trong việc cải tiến chương trình đào tạo, hoạch định chính sách hỗ trợ và xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp phù hợp với sinh viên.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận chỉ ra một số giới hạn trong quá trình thực hiện:

  • Phương pháp lấy mẫu: Áp dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện (phi xác suất) với quy mô 324 mẫu, làm hạn chế mức độ đại diện tổng thể cho toàn bộ sinh viên.
  • Phạm vi đối tượng: Đề tài chỉ tập trung khảo sát sinh viên năm 3 và năm 4 tại Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM, chưa mở rộng sang sinh viên năm 1, năm 2 hoặc các trường đại học khác trên địa bàn.
  • Khung thời gian: Dữ liệu khảo sát được thu thập trong khoảng thời gian ngắn (từ tháng 02/2023 đến tháng 03/2023).

Hướng nghiên cứu tiếp theo: Các nghiên cứu tương lai có thể áp dụng phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên xác suất, mở rộng phạm vi khảo sát liên trường hoặc khảo sát đa dạng các khối năm học; đồng thời có thể bổ sung các biến trung gian hoặc biến điều tiết (như rủi ro cảm nhận, nền tảng gia đình) để tăng độ bao quát của mô hình.


Giá trị tham khảo

Tài liệu này hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Quản lý giáo dục và Kinh tế học đang thực hiện khóa luận, luận văn về hành vi khởi nghiệp và tâm lý kinh doanh của giới trẻ.
  • Cán bộ quản lý giáo dục, giảng viên và các trung tâm hỗ trợ sinh viên khởi nghiệp tại các trường đại học khối kinh tế.

Các nội dung có giá trị tham khảo chuyên sâu:

  1. Bộ thang đo 29 biến quan sát đã qua hiệu chỉnh định tính chuyên gia và thảo luận nhóm sinh viên.
  2. Bảng tổng hợp và so sánh hệ thống 10 nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước về ý định khởi nghiệp.
  3. Quy trình thực nghiệm phân tách giữa yếu tố "Giáo dục khởi nghiệp" và "Vai trò của Nhà trường" trong phân tích hồi quy OLS trên SPSS 20.0.

Câu hỏi thường gặp

1. Nghiên cứu sử dụng những lý thuyết nền tảng nào để xây dựng mô hình các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp?
Nghiên cứu kết hợp hai lý thuyết nền tảng chính: Lý thuyết Ý định hành vi (Theory of Planned Behavior - TPB) của Ajzen (1991) và Lý thuyết Sự kiện khởi nghiệp (The Entrepreneurial Event - SEE) của Shapero và Sokol (1982), đồng thời kế thừa các biến số thực nghiệm từ các nghiên cứu trong và ngoài nước.

2. Quá trình nghiên cứu định tính đã được tác giả tiến hành với những đối tượng nào và nhằm mục đích gì?
Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua phỏng vấn sâu 02 chuyên gia (giảng viên am hiểu khởi nghiệp) và thảo luận nhóm với 08 sinh viên (06 sinh viên năm 4 ngành Quản trị kinh doanh từng thực hiện dự án khởi nghiệp và 02 cựu sinh viên khởi nghiệp thành công). Mục đích là đánh giá tính rõ ràng, mạch lạc của bảng câu hỏi và điều chỉnh ngữ nghĩa của 8 biến quan sát trong thang đo sơ bộ.

3. Cỡ mẫu khảo sát thực tế của đề tài là bao nhiêu và có đáp ứng tiêu chuẩn phân tích thống kê không?
Cỡ mẫu khảo sát thực tế thu về hợp lệ là 324 phiếu (trên tổng số 330 phiếu phát ra). Quy mô này đáp ứng tiêu chuẩn phân tích EFA cho 29 biến quan sát ($29 \times 10 = 290$ quan sát) theo Hair và cộng sự (2009) và vượt mức tối thiểu yêu cầu cho phân tích hồi quy 6 biến độc lập ($N \ge 50 + 8 \times 6 = 98$) theo Nguyễn Đình Thọ (2014).

4. Những yếu tố nào trong mô hình đề xuất thực sự tác động cùng chiều đến ý định khởi nghiệp của sinh viên HUB?
Kết quả phân tích hồi quy xác định 4 yếu tố có tác động cùng chiều có ý nghĩa thống kê đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM, xếp theo thứ tự mức độ tác động giảm dần là: Thái độ, Tính cách, Nguồn vốn và Vai trò của Nhà trường. Hai yếu tố Chuẩn chủ quan và Giáo dục khởi nghiệp không có ý nghĩa thống kê trong mô hình hồi quy cuối cùng.

5. Vì sao tác giả phân tách yếu tố "Vai trò của Nhà trường" thành một biến độc lập riêng biệt với "Giáo dục khởi nghiệp"?
Tác giả phân biệt "Giáo dục khởi nghiệp" là yếu tố mang tính học thuật (kiến thức, kỹ năng được giảng dạy qua môn học, chương trình đào tạo), trong khi "Vai trò của Nhà trường" thể hiện khía cạnh thực tiễn (các chính sách hỗ trợ vốn, cơ sở vật chất, câu lạc bộ, vườn ươm và sân chơi khởi nghiệp do nhà trường tổ chức).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Mai Thị Kim Anh đã hoàn thiện việc phân tích và đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM thông qua mẫu khảo sát thực nghiệm 324 sinh viên. Kết quả chỉ ra 4 yếu tố tác động cùng chiều có ý nghĩa thống kê gồm Thái độ, Tính cách, Nguồn vốn và Vai trò của Nhà trường, trong đó Thái độ là nhân tố có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất. Đề tài cung cấp hệ thống thang đo đã qua kiểm định cùng các hàm ý quản trị cụ thể, đóng góp cơ sở thực tiễn cho công tác hỗ trợ khởi nghiệp tại HUB.