Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn 2012-2019, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã thực hiện 9 lần cắt giảm các mức lãi suất điều hành chủ chốt với tổng mức giảm lên tới 8,5%/năm trong hai năm 2012-2013 nhằm hạ nhiệt chi phí vốn và đưa lạm phát từ mức đỉnh 18,13% năm 2011 xuống 0,6% vào năm 2015. Cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ qua kênh lãi suất bán lẻ giữ vai trò huyết mạch đối với nền kinh tế, quyết định trực tiếp đến hành vi tiết kiệm, đầu tư và tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, hiệu lực truyền dẫn từ lãi suất chính sách của Ngân hàng Trung ương sang lãi suất huy động và cho vay của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam vẫn tồn tại nhiều rào cản và độ trễ. Các nghiên cứu trước đây thường chỉ tiếp cận lãi suất huy động bình quân kỳ hạn dưới 12 tháng của nhóm ngân hàng quốc doanh mà chưa đánh giá toàn diện theo từng kỳ hạn cũng như biên độ lãi suất cao nhất và thấp nhất.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng của tác giả Nguyễn Huy Chương được thực hiện tại Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh dưới sự hướng dẫn của TS. Phạm Thu Thủy nhằm kiểm định mối quan hệ cân bằng dài hạn và đo lường hệ số truyền dẫn từ lãi suất tái cấp vốn và lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn 3 tháng sang lãi suất cho vay và huy động bán lẻ. Nghiên cứu bao quát toàn bộ hệ thống các ngân hàng thương mại tại Việt Nam trong giai đoạn từ tháng 01/2012 đến tháng 08/2019 với quy mô mẫu 92 quan sát theo tháng, gắn liền với tiến trình tái cơ cấu hệ thống tổ chức tín dụng theo Quyết định số 254/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Kết quả nghiên cứu cung cấp hệ số co giãn truyền dẫn thực nghiệm, hỗ trợ cơ quan điều hành định lượng chính xác độ trễ chính sách tiền tệ để giảm thiểu rủi ro thắt chặt hoặc nới lỏng quá mức, góp phần duy trì tăng trưởng GDP bình quân 6,5-7,0%/năm và kiểm soát chỉ số giá tiêu dùng CPI ổn định dưới ngưỡng 4,0%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn được xây dựng trên nền tảng lý thuyết truyền dẫn tiền tệ truyền thống của Keynes và mô hình cân bằng IS-LM do Mishkin (1996) chuẩn hóa. Theo cơ chế này, khi Ngân hàng Trung ương điều chỉnh cung tiền và lãi suất chính sách ngắn hạn, chi phí vốn thực tế của nền kinh tế thay đổi, tác động trực tiếp đến tổng cầu, chi tiêu tiêu dùng của hộ gia đình và quyết định đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Để lượng hóa mối quan hệ giữa thị trường tiền tệ và hệ thống ngân hàng thương mại, nghiên cứu ứng dụng mô hình định giá bán lẻ kinh điển của Ho và Saunders (1981), Rousseas (1985) và De Bondt (2002) với phương trình chuẩn tắc: lãi suất bán lẻ bằng hệ số cộng thêm cộng với tích số giữa hệ số truyền dẫn và chi phí nguồn vốn đầu vào. Trong mô hình này, hệ số truyền dẫn phản ánh mức độ phản ứng của lãi suất bán lẻ: giá trị nhỏ hơn 1 biểu thị truyền dẫn không hoàn toàn, bằng 1 là truyền dẫn hoàn hảo và lớn hơn 1 biểu thị phản ứng quá mức. Đồng thời, khung phân tích tích hợp các khái niệm học thuật then chốt bao gồm: tính cứng nhắc của lãi suất bán lẻ do cấu trúc thị trường độc quyền nhóm, hiện tượng bất cân xứng thông tin, chi phí chuyển đổi của khách hàng gửi tiền và tác động của các quy định trần lãi suất do cơ quan quản lý ban hành.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp chuỗi thời gian hàng tháng từ tháng 01/2012 đến tháng 08/2019 với tổng cộng 92 quan sát. Dữ liệu lãi suất tái cấp vốn và lãi suất bán lẻ trung bình kỳ hạn dưới 12 tháng của 4 ngân hàng thương mại nhà nước lớn chiếm trên 45% thị phần được trích xuất từ cơ sở dữ liệu Thống kê Tài chính Quốc tế (IFS) của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF). Lãi suất liên ngân hàng VND kỳ hạn 3 tháng được thu thập từ hệ thống thông tin tài chính Bloomberg, trong khi chuỗi dữ liệu lãi suất huy động cao nhất và thấp nhất theo các kỳ hạn dưới 1 tháng, 1-6 tháng, 6-12 tháng và trên 12 tháng được tổng hợp đầy đủ từ Công ty Chứng khoán SSI đại diện cho toàn bộ khối ngân hàng thương mại cổ phần nội địa. Mẫu nghiên cứu được lựa chọn toàn diện theo phương pháp chọn mẫu xác định theo mục đích, bao quát giai đoạn tái cơ cấu quyết liệt các tổ chức tín dụng. Phương pháp phân tích áp dụng quy trình kinh tế lượng chuỗi thời gian nhiều bước: kiểm định tính dừng thông qua phương pháp DF-GLS và KPSS; sau đó thực hiện kiểm định đồng liên kết theo phương pháp hai bước của Engle và Granger (1987) kết hợp hồi quy bình phương bé nhất thông thường OLS và kiểm định Wald. Việc lựa chọn phương pháp đồng liên kết Engle - Granger là hoàn toàn tối ưu vì cho phép xác định chính xác mối quan hệ cân bằng dài hạn giữa các chuỗi dữ liệu tài chính không dừng cùng bậc tích hợp I(1), loại bỏ hiện tượng hồi quy giả mạo và phản ánh chân thực hệ số truyền dẫn biên.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kiểm định thực nghiệm chuỗi thời gian 92 tháng cho thấy ba phát hiện mang tính cốt lõi về cơ chế điều hành lãi suất tại Việt Nam. Thứ nhất, toàn bộ các kiểm định nghiệm đơn vị DF-GLS và KPSS đều xác nhận chuỗi lãi suất chính sách, lãi suất liên ngân hàng và lãi suất bán lẻ đều không dừng ở chuỗi gốc nhưng đạt tính dừng ở sai phân bậc 1, tức đồng liên kết ở bậc I(1). Thứ hai, kết quả hồi quy đồng liên kết Engle - Granger chỉ ra rằng hệ số truyền dẫn dài hạn từ lãi suất tái cấp vốn và lãi suất liên ngân hàng sang lãi suất bán lẻ đa số đều có giá trị nhỏ hơn 1 với mức ý nghĩa thống kê 1%, chứng minh hiệu lực truyền dẫn lãi suất bán lẻ tại Việt Nam trong giai đoạn 2012-2019 là không hoàn toàn. Thứ ba, mức độ truyền dẫn có sự phân hóa sâu sắc giữa các kỳ hạn và nhóm ngân hàng: lãi suất huy động kỳ hạn dài từ 6 đến 12 tháng và trên 12 tháng có hệ số truyền dẫn đạt khoảng 0,72 đến 0,88, cao hơn rõ rệt so với kỳ hạn dưới 1 tháng và từ 1 đến 6 tháng chỉ đạt mức dao động từ 0,35 đến 0,55. Thứ tư, lãi suất cho vay ngắn hạn dưới 12 tháng có tốc độ và biên độ điều chỉnh chậm hơn so với lãi suất huy động, ghi nhận hệ số truyền dẫn từ lãi suất tái cấp vốn chỉ đạt khoảng 0,64, cho thấy tính cứng nhắc của chi phí tín dụng bán lẻ.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến mức truyền dẫn không hoàn toàn bắt nguồn từ cấu trúc thị trường ngân hàng Việt Nam và các rào cản pháp lý điều hành. Việc Ngân hàng Nhà nước áp dụng công cụ trần lãi suất tiền gửi kỳ hạn dưới 6 tháng theo Thông tư số 39/2016/TT-NHNN đã tạo ra một ngưỡng cứng nhắc nhân tạo, khiến các ngân hàng thương mại cổ phần nhỏ phải đối mặt với áp lực cạnh tranh gay gắt và tìm các biện pháp lách trần thông qua chi ngoài hoặc phát hành chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn. Trong khi đó, việc dỡ bỏ trần lãi suất đối với các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên từ tháng 6/2013 đã giải phóng cơ chế thị trường, tạo điều kiện cho đường cong lãi suất hình thành rõ nét và nâng cao hệ số truyền dẫn ở kỳ hạn dài. Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu của Wang và Lee (2009) tại các thị trường tài chính châu Á, Lê Phan Thị Diệu Thảo và Nguyễn Thị Thu Trang (2014) và Đào Thị Thanh Bình (2013) tại Việt Nam, nhưng cung cấp bức tranh chi tiết hơn khi phân tách rõ biên độ lãi suất cao nhất và thấp nhất. Về mặt trình bày dữ liệu, các chuỗi biến động này được trực quan hóa tối ưu thông qua hệ thống biểu đồ đường đa trục phản ánh sự dịch chuyển đồng pha nhưng có độ trễ 3 đến 5 tháng giữa lãi suất tái cấp vốn và lãi suất liên ngân hàng với các dải lãi suất bán lẻ, kết hợp bảng ma trận thống kê mô tả phân vị trung vị, độ lệch chuẩn và giá trị cực đại cực tiểu của 12 biến quan sát.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết luận thực nghiệm, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm tối ưu hóa kênh truyền dẫn lãi suất bán lẻ:

  1. Hoàn thiện khung khổ điều hành chính sách tiền tệ dựa trên lãi suất: Ngân hàng Nhà nước cần chủ động chuyển dịch dần cơ chế điều hành từ kiểm soát hạn mức tăng trưởng tín dụng hành chính sang điều tiết thanh khoản gián tiếp thông qua nghiệp vụ thị trường mở OMO và lãi suất tái cấp vốn. Mục tiêu nâng tỷ lệ truyền dẫn lãi suất chính sách lên trên 85% trong giai đoạn 2021-2025, bảo đảm tín hiệu điều hành được phản ánh tức thời vào thị trường tiền tệ liên ngân hàng.

  2. Từng bước tự do hóa hoàn toàn trần lãi suất huy động ngắn hạn: Cơ quan quản lý tiền tệ cần xây dựng lộ trình tháo gỡ quy định trần lãi suất đối với các kỳ hạn tiền gửi dưới 6 tháng theo từng giai đoạn 12 đến 24 tháng khi thanh khoản hệ thống ổn định và lạm phát được kiểm soát bền vững dưới 3,5%/năm. Giải pháp này giúp xóa bỏ hiện tượng méo mó thị trường và triệt tiêu động cơ cạnh tranh không lành mạnh giữa các ngân hàng quy mô nhỏ.

  3. Tăng cường kỷ luật thị trường và tái cơ cấu nguồn vốn tín dụng: Các ngân hàng thương mại cổ phần cần chủ động nâng cao hệ số an toàn vốn CAR đạt tối thiểu 8% theo tiêu chuẩn Basel II và quản trị thanh khoản theo Basel III đến năm 2023. Đồng thời, các tổ chức tín dụng phải tối ưu hóa chi phí vận hành, giảm tỷ lệ chi phí trên thu nhập CIR xuống dưới 35%, tạo dư địa thu hẹp biên độ lãi suất cho vay và phản ứng linh hoạt hơn với các đợt điều chỉnh lãi suất chính sách.

  4. Phát triển chiều sâu thị trường tài chính và công cụ nợ thứ cấp: Bộ Tài chính phối hợp cùng Ngân hàng Nhà nước mở rộng quy mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp và trái phiếu Chính phủ sơ cấp lẫn thứ cấp với mục tiêu quy mô thị trường vốn đạt tương đương 70-80% GDP vào năm 2025, tạo lập lãi suất chuẩn benchmark minh bạch làm cơ sở định giá sản phẩm tín dụng dài hạn cho toàn bộ nền kinh tế.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu sở hữu giá trị học thuật và ứng dụng chuyên sâu, mang lại lợi ích thiết thực cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  1. Các nhà hoạch định chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Nhà nước: Cung cấp bằng chứng thực nghiệm lượng hóa độ trễ và hệ số truyền dẫn theo từng kỳ hạn, làm cơ sở định lượng trong mô hình dự báo kinh tế vĩ mô và thiết kế các đợt điều chỉnh lãi suất điều hành phù hợp với mục tiêu kiềm chế lạm phát dưới 4,0%.

  2. Ban điều hành và khối quản trị rủi ro tại các ngân hàng thương mại: Giúp các chuyên viên Quản lý Tài sản Nợ - Có (ALM) và ban lãnh đạo ngân hàng nắm bắt xu hướng co giãn của lãi suất bán lẻ, từ đó xây dựng mô hình định giá điều chuyển vốn nội bộ FTP chính xác và tối ưu hóa biên lãi thuần NIM dao động từ 3,5% đến 4,2%.

  3. Chuyên viên phân tích vĩ mô và nhà đầu tư tại các quỹ tài chính: Hỗ trợ đánh giá tác động của các chu kỳ nới lỏng hay thắt chặt tiền tệ đến chi phí vốn của các doanh nghiệp niêm yết, phục vụ chiến lược cơ cấu danh mục cổ phiếu ngành ngân hàng và trái phiếu doanh nghiệp với quy mô hàng nghìn tỷ đồng.

  4. Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng: Là tài liệu tham khảo mẫu mực về quy trình ứng dụng kinh tế lượng chuỗi thời gian, kiểm định nghiệm đơn vị DF-GLS và phương pháp đồng liên kết Engle - Granger trong nghiên cứu chính sách vĩ mô tại các thị trường mới nổi.

Câu hỏi thường gặp

  1. Truyền dẫn lãi suất bán lẻ không hoàn toàn có ý nghĩa gì đối với nền kinh tế? Hiện tượng truyền dẫn không hoàn toàn đồng nghĩa với việc khi Ngân hàng Nhà nước giảm 1,0% lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cho vay và huy động của các ngân hàng thương mại chỉ điều chỉnh giảm khoảng 0,5% đến 0,8%. Điều này cho thấy chính sách tiền tệ gặp độ trễ và lực cản nhất định, khiến chi phí vốn của doanh nghiệp chưa hạ nhanh như kỳ vọng của cơ quan quản lý.

  2. Tại sao luận văn lại sử dụng lãi suất tái cấp vốn và lãi suất liên ngân hàng làm biến độc lập? Lãi suất tái cấp vốn là công cụ chính sách nòng cốt được IMF công nhận đại diện cho định hướng tiền tệ của Việt Nam, trong khi lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn 3 tháng phản ánh chính xác chi phí vốn biên thực tế giữa các tổ chức tín dụng. Sự kết hợp cả hai biến giúp đo lường trọn vẹn hai tầng truyền dẫn từ cơ quan điều hành sang thị trường 2 và thị trường 1.

  3. Sự khác biệt về hiệu lực truyền dẫn giữa kỳ hạn ngắn và kỳ hạn dài là gì? Thực nghiệm cho thấy các kỳ hạn tiền gửi trên 6 tháng có hệ số truyền dẫn đạt từ 0,72 đến 0,88, cao hơn đáng kể so với kỳ hạn dưới 6 tháng chỉ đạt 0,35 đến 0,55. Sự chênh lệch này xuất phát từ việc dỡ bỏ trần lãi suất huy động kỳ hạn dài từ tháng 6/2013, giúp thị trường tự do định giá theo cung cầu vốn thực tế.

  4. Trần lãi suất có tác động như thế nào đến hành vi của các ngân hàng thương mại? Quy định trần lãi suất giúp hạ nhiệt mặt bằng huy động ngắn hạn nhưng cũng tạo ra tính cứng nhắc của lãi suất. Trong thực tế giai đoạn 2012-2015, nhiều ngân hàng quy mô nhỏ đã tìm cách lách trần thông qua các sản phẩm kỳ hạn siêu ngắn từ 3 đến 6 ngày hoặc chi trả hoa hồng bằng tiền mặt nhằm duy trì nguồn vốn huy động.

  5. Phương pháp kinh tế lượng Engle - Granger mang lại ưu thế gì cho nghiên cứu này? Phương pháp hai bước Engle - Granger giúp kiểm tra tính đồng liên kết giữa các chuỗi thời gian tài chính không dừng cùng bậc I(1) trong giai đoạn 92 tháng. Quy trình này loại bỏ hoàn toàn nguy cơ hồi quy giả mạo, xác lập chính xác mối quan hệ cân bằng dài hạn và đo lường hệ số truyền dẫn biên một cách nhất quán và tin cậy.

Kết luận

  • Luận văn đã kiểm định thành công hiệu lực truyền dẫn lãi suất bán lẻ tại Việt Nam trong giai đoạn 92 tháng từ năm 2012 đến 2019 với dữ liệu phân tách chi tiết theo nhiều kỳ hạn.
  • Kết quả kinh tế lượng khẳng định tồn tại mối quan hệ đồng liên kết dài hạn giữa lãi suất chính sách, lãi suất liên ngân hàng và lãi suất bán lẻ, nhưng hệ số truyền dẫn ở hầu hết các phân khúc là không hoàn toàn.
  • Nghiên cứu chỉ rõ tính phân hóa sâu sắc: các kỳ hạn tự do hóa từ 6 tháng trở lên có độ nhạy truyền dẫn cao hơn rõ rệt so với các kỳ hạn chịu sự kiểm soát của trần lãi suất hành chính.
  • Về mặt học thuật và thực tiễn, công trình đã lấp đầy khoảng trống nghiên cứu về biên độ lãi suất cao nhất và thấp nhất của toàn bộ hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam.
  • Trong giai đoạn tiếp theo 2021-2025, việc mở rộng mô hình sang các cấu phần lợi suất trái phiếu doanh nghiệp và lãi suất tín dụng bất động sản sẽ tiếp tục hoàn thiện khung phân tích truyền dẫn chính sách vĩ mô.

Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và chuyên viên tài chính quan tâm đến mô hình lượng hóa kinh tế vĩ mô và kỹ thuật điều hành chính sách tiền tệ hãy tải ngay toàn văn công trình nghiên cứu để khai thác trọn vẹn bộ cơ sở dữ liệu và hàm ý chính sách giá trị!