Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong giai đoạn cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, sự bùng nổ của công nghệ thông tin và mạng Internet đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình toàn cầu hóa kinh tế, hình thành nền kinh tế tri thức và làm thay đổi căn bản các phương thức giao dịch thương mại. Kế thừa các thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại và nghiệp vụ ngân hàng tiên tiến, thẻ thanh toán ra đời như một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt an toàn, nhanh chóng và tiện lợi, dần thay thế các công cụ thanh toán truyền thống.

Tại Việt Nam, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) là đơn vị tiên phong tham gia vào thị trường thanh toán quốc tế khi được Ngân hàng Nhà nước cho phép thực hiện nghiệp vụ thanh toán thẻ tín dụng quốc tế từ năm 1990 và trực tiếp phát hành thẻ từ năm 1993. Tuy nhiên, trong quá trình vận hành hơn 10 năm đầu triển khai, hoạt động phát hành và thanh toán thẻ tại Vietcombank đã đối mặt với không ít vướng mắc và biến động, đặc biệt là sự sụt giảm doanh số do ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ khu vực châu Á năm 1997. Xuất phát từ thực tiễn hoạt động và yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền (sinh viên lớp Ngân hàng 41A) đã thực hiện chuyên đề tốt nghiệp với đề tài: "Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác phát hành và thanh toán thẻ tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam" vào tháng 4 năm 2003.

Nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu của chuyên đề được xác lập cụ thể gồm:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận chung về thẻ thanh toán, bao gồm lịch sử hình thành, phân loại, quy trình nghiệp vụ, lợi ích kinh tế, các loại rủi ro đặc thù và xu hướng phát triển thị trường thẻ quốc tế.
  2. Khảo sát, phân tích toàn diện thực trạng công tác phát hành và thanh toán thẻ tại Vietcombank trong giai đoạn 1996 - 2002; chỉ ra các thành tựu đạt được cũng như các hạn chế, khó khăn về công nghệ, mạng lưới chấp nhận và quản lý rủi ro.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ tại Vietcombank và các kiến nghị chính sách đối với Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước nhằm thúc đẩy thị trường thẻ thanh toán tại Việt Nam phát triển an toàn, hiệu quả.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nghiệp vụ phát hành và thanh toán thẻ (chủ yếu là hai loại thẻ tín dụng quốc tế Visa và MasterCard). Phạm vi không gian tập trung tại hệ thống Vietcombank và mạng lưới đơn vị chấp nhận thẻ trên phạm vi toàn quốc; phạm vi thời gian phân tích số liệu thực tế trải dài từ năm 1995 đến năm 2002, kết hợp dữ liệu dự báo thị trường đến năm 2005.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Chuyên đề tốt nghiệp dựa trên nền tảng lý thuyết về tiền tệ ngân hàng, thanh toán không dùng tiền mặt và quản trị rủi ro ngân hàng thương mại. Văn bản nghiên cứu tiếp cận các quy định pháp lý và quy chuẩn nghiệp vụ gồm:

  • Quy chế phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (ban hành ngày 19/10/1999).
  • Quy chế về phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ tín dụng quốc tế của Tổng Giám đốc Vietcombank; Quyết định số 94/QĐ/NHNT/HĐQT về biểu phí phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ quốc tế.
  • Quy định và tiêu chuẩn hoạt động của các tổ chức thẻ quốc tế (Visa International, MasterCard International).

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng kết hợp các phương pháp cụ thể:

  • Phương pháp thống kê và phân tích số liệu: Thu thập, xử lý chuỗi số liệu thứ cấp từ Phòng Quản lý thẻ và Báo cáo thường niên của Vietcombank qua các năm (1996 - 2002) về số lượng thẻ phát hành, doanh số thanh toán, tỷ lệ tăng trưởng.
  • Phương pháp so sánh, tổng hợp: So sánh biến động giữa các dòng thẻ (Visa Card và MasterCard), so sánh cơ cấu thị trường thẻ quốc tế giữa các khu vực (Bắc Mỹ, Châu Âu, Châu Á - Thái Bình Dương, Mỹ Latinh, Trung Đông - Châu Phi).
  • Phương pháp phân tích quy trình nghiệp vụ: Mô tả và mổ xẻ từng công đoạn trong sơ đồ xử lý phát hành thẻ, cấp phép giao dịch và thanh toán bù trừ liên ngân hàng.

Nguồn dữ liệu phục vụ nghiên cứu bao gồm số liệu thống kê nội bộ do Phòng Quản lý thẻ Vietcombank cung cấp, tài liệu tập huấn nghiệp vụ thẻ, các báo cáo tài chính thường niên của Vietcombank (1996 - 2002), Tạp chí Ngân hàng, Thời báo Tài chính và các ấn phẩm lý thuyết chuyên ngành ngân hàng.


Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Lý luận chung về thẻ thanh toán

Chương I trình bày tổng quan lịch sử ra đời của thẻ thanh toán từ năm 1949 do doanh nhân người Mỹ Frank McNamara sáng tạo với thương hiệu Diners Club, tiếp nối bởi Carte Blanche, American Express (1958), BankAmericard năm 1966 (tiền thân của Visa Card) và Master Charge năm 1967 (tiền thân của MasterCard, chính thức thành lập hiệp hội quốc tế năm 1979).

Tác giả định nghĩa thẻ thanh toán là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt do ngân hàng hoặc tổ chức tài chính phát hành, cho phép chủ thẻ thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc rút tiền mặt tại các ngân hàng đại lý và máy rút tiền tự động (ATM) trong phạm vi số dư tài khoản hoặc hạn mức tín dụng. Kích thước chuẩn của thẻ được chuẩn hóa quốc tế là 9,6 cm x 5,4 cm x 0,076 cm, tích hợp các yếu tố bảo an: dải băng từ, ô chữ ký, số thẻ dập nổi, biểu tượng tổ chức thẻ quốc tế, ảnh và số mật mã cá nhân (PIN).

Về phân loại, văn bản chia thẻ theo 4 tiêu thức:

  1. Theo công nghệ: Thẻ khắc chữ nổi (thô sơ, đã ngưng dùng), Thẻ băng từ (phổ biến nhưng dung lượng thấp, dễ sao chép dải từ), Thẻ thông minh - Smart Card (gắn vi xử lý máy tính, bộ nhớ lớn, độ an toàn cao).
  2. Theo chủ thể phát hành: Thẻ ngân hàng và Thẻ phi ngân hàng (thẻ du lịch/giải trí như Amex, Diners Club).
  3. Theo tính chất thanh toán: Thẻ tín dụng (Credit Card - chi tiêu trước trả tiền sau, miễn lãi định kỳ, thanh toán tối thiểu 20%), Thẻ ghi nợ (Debit Card - trừ tiền trực tiếp vào tài khoản thanh toán), Thẻ rút tiền tự động (ATM Card).
  4. Theo phạm vi lãnh thổ: Thẻ nội địa (thanh toán trong nước bằng bản tệ) và Thẻ quốc tế (thanh toán toàn cầu bằng ngoại tệ mạnh).

Quy trình vận hành thẻ bao gồm 5 chủ thể: Ngân hàng phát hành (NHPH), Chủ thẻ (Cardholder), Đơn vị chấp nhận thẻ (ĐVCNT - Merchant), Ngân hàng thanh toán (NHTT) và Tổ chức thẻ quốc tế. Quy trình xử lý giao dịch trải qua các khâu: chấp nhận thẻ, xin cấp phép (khi vượt hạn mức), gửi hóa đơn - bảng kê, thanh toán bù trừ và gửi bảng sao kê thanh toán định kỳ.

Văn bản nhận diện chi tiết 8 loại rủi ro chính trong kinh doanh thẻ:

  • Đơn phát hành chứa thông tin giả mạo.
  • Sử dụng thẻ giả mạo (làm giả từ dữ liệu trộm cắp).
  • Thẻ bị mất cắp hoặc thất lạc (chiếm tỷ lệ cao nhất trong các vụ tổn thất, xấp xỉ 49%).
  • Chủ thẻ không nhận được thẻ do bị đánh cắp trên đường gửi bưu điện.
  • Giao dịch thanh toán hàng hóa/dịch vụ qua thư hoặc điện thoại giả mạo.
  • Tài khoản chủ thẻ bị lợi dụng thông qua việc gửi thông báo đổi địa chỉ nhận thẻ giả.
  • Nhân viên ĐVCNT gian lận in nhiều liên hóa đơn thanh toán rồi giả mạo chữ ký chủ thẻ.
  • Làm giả dải băng từ bằng công nghệ cao.

Chương này cũng tổng hợp số liệu dự báo doanh số thanh toán thẻ trên toàn cầu từ năm 1995 đến năm 2005:

Khu vực thị trường Năm 1995 (Tỷ USD) Tỷ lệ (%) Năm 2000 (Tỷ USD) Tỷ lệ (%) Năm 2005 dự báo (Tỷ USD) Tỷ lệ (%)
Mỹ 547,53 46% 1.246,10 44% 2.200,79 39%
Châu Âu 352,85 28% 728,16 26% 1.420,73 26%
Châu Á - Thái Bình Dương 206,52 17% 594,84 21% 1.407,33 25%
Canada 50,85 4% 81,21 3% 121,54 2%
Mỹ Latinh 41,23 3% 109,36 4% 283,57 5%
Trung Đông & Châu Phi 19,65 2% 55,20 2% 144,51 3%
Tổng cộng 1.245,67 100% 2.815,41 100% 5.585,47 100%

(Nguồn: Tổng hợp từ Vietcombank)


Chương II: Thực trạng của công tác phát hành và thanh toán thẻ tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam

Chương II tập trung phân tích hoạt động kinh doanh thẻ thực tế tại Vietcombank. Về sản phẩm, Vietcombank phát hành 2 dòng thẻ tín dụng quốc tế là Visa Card và MasterCard với 2 phân hạng:

  • Thẻ vàng (Gold Card): Hạn mức tín dụng từ 50 triệu đến 90 triệu đồng, cấp cho khách hàng có uy tín và thu nhập cao.
  • Thẻ chuẩn (Classic/Standard Card): Hạn mức tín dụng từ 10 triệu đến 50 triệu đồng.
  • Thời hạn miễn lãi: Từ 10 đến 45 ngày; tỷ lệ thanh toán dư nợ tối thiểu là 20% mỗi kỳ sao kê.

Quy trình phát hành thẻ tại Vietcombank gồm 5 bước phối hợp chặt chẽ giữa Khách hàng, Chi nhánh phát hành và Trung tâm Thẻ:

  1. Tiếp nhận hồ sơ xin phát hành thẻ và giấy tờ chứng minh pháp lý, thu nhập.
  2. Chi nhánh thẩm định hồ sơ trong tối đa 4 ngày làm việc, phân loại hạng thẻ và gửi yêu cầu phát hành bằng fax và điện tử nội bộ về Trung tâm Thẻ.
  3. Trung tâm Thẻ cá nhân hóa thẻ, tạo mã PIN và hoàn tất trong vòng 3 ngày làm việc; gửi thẻ và mã PIN bằng 2 phong bì bảo đảm tách biệt về chi nhánh.
  4. Chi nhánh giao thẻ cho khách hàng ký vào dải chữ ký mặt sau thẻ.
  5. Trung tâm Thẻ chốt dữ liệu, định kỳ hàng tháng lập bảng sao kê chi tiết gửi khách hàng để thu nợ.

Diễn biến phát hành thẻ MasterCard và Visa Card tại Vietcombank giai đoạn 1996 - 2002 ghi nhận những bước chuyển rõ rệt:

  • Trước năm 1995: Vietcombank chỉ phát hành được tổng cộng 302 thẻ sau 3 năm thử nghiệm.
  • Năm 1996: Số lượng thẻ MasterCard phát hành đạt 389 thẻ, doanh số sử dụng đạt 17.933 triệu đồng (tăng trưởng vượt mức tích lũy của cả 3 năm trước đó).
  • Năm 1997: Phát hành 419 thẻ MasterCard (tăng 7,7%), doanh số 17.722 triệu đồng. Cuối năm 1997, tốc độ chậm lại do tác động tâm lý từ cuộc khủng hoảng tài chính châu Á.
  • Năm 1998: Phát hành MasterCard giảm xuống còn 340 thẻ; tuy nhiên Vietcombank bắt đầu phát hành thêm Visa Card từ tháng 4/1998 và đạt ngay 1.305 thẻ Visa với doanh số 17.000 triệu đồng.
  • Năm 1999: Visa Card phát hành giảm xuống còn 720 thẻ (giảm 41,8%) do sự cố kỹ thuật hỏng máy in thẻ chuyên dụng kéo dài 2 tháng cuối quý 3 mà không có máy dự phòng; trong khi MasterCard tăng lên 650 thẻ (tăng 91%), doanh số sử dụng Visa đạt 36.000 triệu đồng.
  • Năm 2000: Phát hành MasterCard giảm mạnh còn 184 thẻ (giảm 71,7%) do máy in chưa tương thích với phôi thẻ có độ kháng từ cao; ngược lại Visa Card tăng lên 1.143 thẻ (tăng 58,8%). Tổng doanh số sử dụng hai thẻ đạt 61.340 triệu đồng (tăng 15%).
  • Năm 2001: Phát hành bùng nổ với 3.057 thẻ mới (Visa đạt 2.413 thẻ - tăng 112,7%; MasterCard đạt 626 thẻ - tăng 240%), nâng tổng số thẻ lũy kế phát hành của Vietcombank vượt mốc 9.000 thẻ; ngân hàng quyết định nâng thời hạn hiệu lực của thẻ từ 1 năm lên 2 năm.
  • Năm 2002: Thẻ MasterCard đạt 1.060 thẻ phát hành mới, doanh số sử dụng đạt 69.530 triệu đồng (tăng 121,8%). Đồng thời Vietcombank bắt đầu triển khai hệ thống máy ATM phục vụ rút tiền mặt.

Tác giả cũng chỉ ra các khó khăn, bất cập nội tại gồm:

  • Mạng lưới ĐVCNT còn mỏng: Toàn hệ thống có 3.052 ĐVCNT, trong đó mới có hơn 1.000 điểm được trang bị máy POS/EDC tự động.
  • Phân bổ không đồng đều: ĐVCNT tập trung chủ yếu ở TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, An Giang, Vũng Tàu; vắng bóng ở các vùng kinh tế khác.
  • Mức phí chiết khấu ĐVCNT cao: Dao động từ 2,5% đến 3,6%, làm giảm lợi nhuận của đơn vị kinh doanh bán lẻ khi chấp nhận thẻ.
  • Hạ tầng công nghệ và nhân lực: Thiếu hệ thống máy in thẻ dự phòng; Phòng Quản lý thẻ chỉ có 3 cán bộ chuyên trách tin học; nguy cơ rủi ro thẻ giả và tội phạm công nghệ cao ngày càng phức tạp.

Chương III: Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác phát hành và thanh toán thẻ tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam

Trên cơ sở phân tích thực trạng, Chương III đề xuất nhóm giải pháp cụ thể và các kiến nghị chính sách nhằm mở rộng thị phần kinh doanh thẻ của Vietcombank.

Nhóm giải pháp đối với Vietcombank:

  1. Mở rộng và chăm sóc mạng lưới ĐVCNT: Chủ động tiếp thị tới các trung tâm thương mại, khu vui chơi giải trí, nhà hàng và mở rộng dần sang các điểm bán lẻ, cơ sở dịch vụ nhỏ; tổ chức tập huấn định kỳ quy trình kiểm tra thẻ và sử dụng máy EDC cho nhân viên thu ngân của ĐVCNT.
  2. Điều chỉnh chính sách phí linh hoạt: Giảm tỷ lệ phí thanh toán áp dụng cho ĐVCNT (hiện ở mức 2,5% - 3,6%) nhằm kích thích các điểm bán hàng tham gia liên kết chấp nhận thanh toán thẻ.
  3. Đẩy mạnh chiến lược Marketing: Tăng cường quảng bá tiện ích thẻ trên truyền hình, báo chí; kết hợp chương trình quảng cáo chéo giữa ngân hàng và ĐVCNT để thu hút người tiêu dùng giảm thói quen sử dụng tiền mặt.
  4. Nâng cấp công nghệ và nguồn nhân lực: Thành lập tổ kỹ thuật tin học chuyên biệt tách riêng tại Trung tâm Thẻ; trang bị hệ thống máy in thẻ dự phòng đồng bộ; tăng cường in ảnh chủ thẻ lên mặt trước thẻ để ngăn ngừa thẻ giả.
  5. Phòng chống và kiểm soát 8 loại rủi ro: Bắt buộc gửi thẻ qua bưu điện bằng dịch vụ thư bảo đảm; thiết lập mã xác thực kích hoạt thẻ qua điện thoại; kết nối trực tuyến với hệ thống quản lý rủi ro quốc tế (chương trình MATCH, SAFE của MasterCard; NMAS của Visa); trích lập quỹ dự phòng rủi ro nghiệp vụ thẻ; liên kết với các ngân hàng nội địa lập danh sách Bulletin (thẻ cấm lưu hành) dùng chung để giảm chi phí in ấn.

Nhóm kiến nghị đối với Nhà nước và Ngân hàng Nhà nước:

  • Giảm thuế nhập khẩu đối với máy móc, trang thiết bị và phôi thẻ chuyên dụng; giảm thuế Giá trị gia tăng (GTGT) đối với dịch vụ thanh toán thẻ từ mức 10% hiện hành xuống 5%.
  • Ngân hàng Nhà nước sớm xây dựng Trung tâm xử lý thanh toán thẻ quốc gia để kết nối chuyển mạch liên ngân hàng dùng chung.
  • Hoàn thiện hành lang pháp lý bằng việc ban hành Pháp lệnh về thẻ thanh toán; bổ sung chế tài xử lý hình sự đối với tội phạm công nghệ cao liên quan đến thẻ; nới lỏng điều kiện cấp tín dụng thẻ dựa trên thu nhập ổn định thay vì đòi hỏi tài sản thế chấp truyền thống.
  • Đẩy mạnh giáo dục tin học và tuyên truyền ý thức thanh toán văn minh, bảo vệ tài sản công cộng (máy ATM) từ cấp học phổ thông.

Kết quả và đóng góp

  • Về mặt số liệu thực tiễn: Khóa luận đã hệ thống hóa và công bố các dữ liệu thực tế về hoạt động kinh doanh thẻ tại Vietcombank qua các giai đoạn (1996 - 2002), chỉ ra sự tăng trưởng của doanh số sử dụng thẻ (đạt 69.530 triệu đồng năm 2002 đối với MasterCard) và tổng quy mô thẻ luân hành vượt hơn 9.000 thẻ vào năm 2001.
  • Về mặt quy trình và nghiệp vụ: Khóa luận làm rõ chu trình phát hành 5 bước và cơ chế kiểm soát rủi ro thẻ tín dụng tại Vietcombank, chỉ ra nguyên nhân sụt giảm cục bộ do sự cố máy in thẻ (1999) và lỗi tương thích phôi thẻ có độ kháng từ cao (2000).
  • Về mặt đề xuất giải pháp: Công trình đưa ra các đề xuất mang tính khả thi cao như điều chỉnh mức phí chiết khấu ĐVCNT 2,5% - 3,6%, triển khai in ảnh chủ thẻ, dùng chung danh bạ thẻ cấm lưu hành (Bulletin) giữa các ngân hàng thương mại và kiến nghị giảm thuế GTGT dịch vụ thẻ từ 10% xuống 5%.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế về phạm vi dữ liệu: Đề tài tập trung chủ yếu vào số liệu phát hành thẻ tín dụng quốc tế (Visa, MasterCard) của Vietcombank đến năm 2002; chưa phân tích sâu dòng thẻ ghi nợ nội địa và thẻ ATM vốn mới bắt đầu được triển khai vào cuối năm 2002.
  • Hạn chế về hạ tầng công nghệ thời điểm nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện khi công nghệ thẻ tại Việt Nam chủ yếu là thẻ từ, giao dịch thương mại điện tử qua Internet và ngân hàng điện tử (Internet Banking) mới ở giai đoạn sơ khai, chưa có điều kiện đánh giá các giải pháp thanh toán thẻ không tiếp xúc hoặc xác thực trực tuyến đa lớp.
  • Hướng phát triển tiếp theo: Mở rộng nghiên cứu mô hình kết nối thanh toán chuyển mạch thẻ liên ngân hàng trên toàn quốc; đánh giá hiệu quả kinh tế của mạng lưới máy ATM và phát triển các sản phẩm thẻ đồng thương hiệu (co-branded cards) tại Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích đối với:

  • Sinh viên chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Kinh tế đối ngoại: Tham khảo phương pháp tiếp cận phân tích thực trạng phát hành thẻ, cấu trúc quy trình tín dụng thẻ và các kỹ thuật phòng ngừa rủi ro thanh toán ngân hàng.
  • Cán bộ quản lý và chuyên viên nghiệp vụ thẻ tại các NHTM: Tham khảo các giải pháp quản lý danh bạ Bulletin, kỹ thuật quản trị rủi ro phát hành qua bưu điện, phương án định giá phí chấp nhận thẻ (merchant fee) và thiết kế chính sách chăm sóc đơn vị chấp nhận thẻ.
  • Cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Cung cấp bức tranh thực tế về những vướng mắc pháp lý và thuế khóa trong giai đoạn đầu hình thành thị trường thẻ thanh toán tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao số lượng thẻ Visa Card phát hành tại Vietcombank năm 1999 lại sụt giảm mạnh so với năm 1998?

Năm 1999, số lượng thẻ Visa Card phát hành giảm xuống còn 720 thẻ (giảm 41,8% so với 1.305 thẻ của năm 1998) chủ yếu do máy in thẻ Visa chuyên dụng của Vietcombank bị hỏng suốt 2 tháng cuối quý 3 mà ngân hàng chưa trang bị máy in dự phòng, buộc khách hàng phải chuyển sang mở thẻ MasterCard hoặc sử dụng dịch vụ của ngân hàng khác.

2. Hai hạng thẻ tín dụng quốc tế được Vietcombank áp dụng trong văn bản có hạn mức như thế nào?

Vietcombank phân chia làm 2 hạng thẻ tín dụng:

  • Thẻ vàng (Gold Card): Hạn mức tín dụng từ 50.000.000 VND đến 90.000.000 VND.
  • Thẻ chuẩn (Standard/Classic Card): Hạn mức tín dụng tối thiểu từ 10.000.000 VND đến dưới 50.000.000 VND.

3. Tỷ lệ rủi ro do thẻ bị mất cắp, thất lạc chiếm bao nhiêu trong các vụ tổn thất thẻ?

Theo số liệu thống kê về các loại rủi ro nghiệp vụ thẻ được trình bày trong Chương I của chuyên đề, rủi ro thẻ bị mất cắp và thất lạc chiếm tỷ lệ lớn nhất trong các vụ tổn thất, xấp xỉ 49%.

4. Đến thời điểm nghiên cứu (năm 2002 - 2003), mạng lưới đơn vị chấp nhận thẻ của Vietcombank có quy mô ra sao?

Tính đến thời điểm tác giả khảo sát, tổng số ĐVCNT của Vietcombank trên cả nước đạt 3.052 đơn vị, trong đó có hơn 1.000 đơn vị được trang bị máy thanh toán thẻ tự động (máy POS/EDC), phân bổ tập trung nhiều nhất tại TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, An Giang và Vũng Tàu.

5. Tác giả đã kiến nghị điều chỉnh mức thuế GTGT đối với dịch vụ thanh toán thẻ như thế nào?

Tác giả kiến nghị Nhà nước xem xét giảm mức thuế Giá trị gia tăng (GTGT) áp dụng đối với hoạt động thanh toán thẻ từ mức 10% (mức thuế dịch vụ thông thường) xuống còn khoảng 5% nhằm khuyến khích phát triển phương thức thanh toán hiện đại và hỗ trợ ngân hàng bù đắp chi phí đầu tư trang thiết bị công nghệ cao.


Kết luận

Chuyên đề tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền đã phản ánh bức tranh toàn cảnh về hoạt động phát hành và thanh toán thẻ tín dụng quốc tế tại Vietcombank trong giai đoạn bản lề 1996 - 2002. Công trình đã làm rõ các mốc phát triển, cơ chế vận hành, các rủi ro vận hành kỹ thuật cũng như những hạn chế về mạng lưới chấp nhận thẻ và hạ tầng thiết bị. Hệ thống giải pháp về điều chỉnh phí chấp nhận thẻ, trang bị máy in dự phòng, tăng cường kiểm soát an ninh thông tin và các kiến nghị hoàn thiện pháp lý thanh toán thẻ quốc gia mang giá trị thực tiễn đối với sự phát triển của hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam.