CHƯƠNG 1 C ơ SO LÝ LUẬN VÊ PHÁT TRIÈN DỊCH v ụ THẺ TÍN DỤNG QUỐC TẾ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. TÓNG QUAN VÊ DỊCH v ụ THẺ TÍN DỤNG QUÓC TẾ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Sự ra đời và phát triển thẻ thanh toán trên thế giói Thẻ thanh toán là một trong những thành tựu của công nghiệp ngân hàng. Đó là cuộc cách mạng trong lĩnh vực tài chính cá nhân và là yếu tố dẫn đến sụ bùng nổ trong bán lẻ vào những năm 1970 và 1980.
Sụ phát triển của thẻ thanh toán là thành quả của sự đổi mới và khả năng Marketing của các chuyên gia Ngân hàng thế giới. Thẻ thanh toán, với hình dạng nhu hiện nay, xuất hiện đầu tiên ở Mỹ vào những năm đầu thế kỷ 20, đuợc ra đời năm 1914 khi đó Tổng công ty xăng dầu Califonia (nay là công ty Mobil) thực hiện cấp thẻ cho nhân viên và một số khách hàng của mình. Thẻ thanh toán này ban đâu chỉ nhăm mục đích khuyên khích bán sản phẩm của công ty, chua kèm theo bất kỳ sự dự phòng nào về việc gia hạn tín dụng. Đến năm 1950, Frank Mc Namara và Ralph Schneider, hai doanh nhân nguời Mỹ đồng sáng lập ra Diners’Club sau một lần đi ăn ở nhà hàng và quên đem theo tiền mặt.
Sau đó, hai doanh nhân này đã cung cấp cho bạn bè, đồng nghiệp của mình thẻ Diners’Club, cho phép các khách hàng có thể ghi nợ khi ăn, nghỉ tại một sổ nhà hàng, khách sạn ở New York và thanh toán số tiền này định kỳ hàng tháng mà không giới hạn số tiền đuợc phép chi tiêu. Đối với hệ thống ngân hàng, hình thức sơ khai của thẻ là “Charge-it”, một hệ thống mua bán chịu do Ngân hàng Flasbush National lập ra. Hệ thống này đã mở đuờng cho sụ ra đời của thẻ vào năm 1951 do Ngân hàng Frankin National phát hành. /> */ /N / Với hệ thống này, khách hàng của Flasbush National muốn sử dụng thẻ “Charge -it” phải đệ trình đơn xin vay và sẽ được ngân hàng thẩm định lại khả năng thanh toán, khách hàng nào đủ tiêu chuẩn sẽ được cấp thẻ.
Thẻ “Charge-it” được dùng đe thanh toán cho các thương vụ bán lẻ hàng hoá, dịch vụ. Các cơ sở bán hàng và cung cấp dịch vụ khi nhận được giao dịch sẽ liên hệ với Ngân hàng, nếu được phép chuẩn chi họ sẽ thực hiện giao dịch và đòi tiền Ngân hàng sau đó. Hệ thống “Charge - it” ra đời không chỉ giúp những người tiêu dùng thuận tiện hơn trong việc chi trả mà còn góp phần thúc đẩy doanh số bán của các cơ sở bán hàng chấp nhận thẻ “Charge - it” do đó, số người sử dụng thẻ này ngày càng tăng cao. Với những thành công mà hệ thống “Charge - it” thu được, càng ngày càng có nhiều tổ chức tín dụng tham gia vào hoạt động cung cấp thẻ thanh toán cho khách hàng.
Năm 1955, hàng loạt các thẻ mới như Trip Charge, Golden Key, Goutmet Club rồi đến Carte Blanche và American Express ra đời và thống lĩnh thị trường. Tuy nhiên, hiện tượng toàn cầu hóa và thương mại quốc tế ngày càng phát triển đã giúp các nhà phát hành thẻ nhận ra rằng: để hình thức thanh toán thẻ có thể thu hút được khách hàng cần phải có một mạng lưới thanh toán rộng lớn, không chỉ giới hạn trong phạm vi một địa phương, một quốc gia mà hoạt động thanh toán của thẻ phải được phủ khắp toàn cầu. Đứng trước đòi hỏi đó, InterBank (Marter Charge) và Bank of America (Bank Americard) đã xây dựng một hệ thống các quy tắc, tiêu chuẩn trong xử lý, thanh toán thẻ toàn cầu. Năm 1977, Bank of America trở thành VISA USD và sau đó trở thành tổ chức thẻ quốc tế đầu tiên.
Thẻ VISA của tổ chức này đồng thời cũng được chấp nhận thanh toán tại một số nước trên thế giới. Năm 1979, Master Charge cũng tiếp bước thành lập một tổ chức thẻ quốc tế lớn khác là MASTERCARD. Ngày nay,VISACARD và MASTERCARD đang chiếm thị phần lớn 5 nhất trên thị trường thẻ thanh toán. Ngoài hai loại thẻ này, còn có các sản phẩm thẻ khác với thị phần ít hơn như: - Diners’Club: Loại thẻ du lịch và giải trí do tổ chức thẻ tự phát hành vào năm 1914 tại Mỹ.
- America Express (Amex): Là thẻ do tổ chức American Express phát hành lần đầu tiên vào năm 1958 với tên gọi Green Amex. Năm 1987, Amex cho ra đời thêm 3 loại thẻ Amex Gold, Amex Platinum, và Optima có hạn mức tín dụng tuần hoàn nhằm cạnh tranh với Visa và Mastercard. - JCB: Loại thẻ do Ngân hàng Sanwa (Nhật) phát hành vào năm 1961. Năm 1981, JCB bắt đầu trở thành tổ chức thẻ quốc tế với thị trường mục tiêu là du lịch và giải trí.
Do thẻ ngày càng được sử dụng rộng rãi, các công ty và Ngân hàng đã liên kết với nhau để tạo tiện ích tối đa cho thẻ thanh toán từ đó gia tăng doanh số bán hàng đổi với các công ty cũng như gia tăng doanh số sử dụng thẻ cho ngân hàng. Thẻ dần được xem như một công cụ văn minh, thuận lợi trong các cuộc giao dịch mua bán. Các loại thẻ Mastercard, Visa, Amex, JCB, Diners’Club,. đang được sử dụng rộng rãi trên toàn cầu và cùng phân chia những thị trường rộng lớn.
Khái niệm về thẻ thanh toán 1. Khải niệm Ngày nay, thẻ thanh toán được hiểu như là tiền điện tử, là phương tiện thanh toán hiện đại và tiên tiến trên thế giói. Thẻ thanh toán ra đời và phát triển gắn liền với sự phát triển và ứng dụng công nghệ tin học trong ngân hàng. Thẻ thanh toán là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, do ngân hàng phát hành thẻ cấp cho khách hàng sử dụng để thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ hoặc đế rút tiền mặt ở các máy rút tiền tự động hay tại các ngân hàng đại lý trong phạm vi số dư của tài khoản tiền gửi hoặc hạn mức tín dụng được ký kết ~ 6 ~ giữa ngân hàng phát hành thẻ và chủ thẻ.
Hoá đơn thanh toán thẻ chính là giấy nhận nợ của chủ thẻ đối với cơ sở chấp nhận thẻ (CSCNT). Cơ sở chấp nhận thẻ và đơn vị cung ứng dịch vụ rút tiền mặt đòi tiền chủ thẻ thông qua ngân hàng phát hành thẻ và ngân hàng thanh toán thẻ. Như vậy, sẽ có ba hoặc bốn thành viên tham gia vào một giao dịch thẻ: Chủ thẻ (Khách hàng), cơ sở chấp nhận thẻ (nơi cung ứng hàng hoá dịch vụ), ngân hàng phát hành và ngân hàng thanh toán. Đăc • điểm và cấu tao • thẻ a.
Đặc điếm Tính linh hoạt: Thẻ thanh toán có nhiều loại, đa dạng, phong phú về hạn mức tín dụng của thẻ nên thích hợp với hầu hết mọi đổi tượng khách hàng, từ những khách hàng có thu nhập thấp (thẻ thường) cho tới những khách hàng có thu nhập cao (thẻ vàng), khách hàng có nhu cầu rút tiền mặt (thẻ rút tiền mặt), cho tới nhu cầu du lịch giải trí,. thẻ cung cấp cho khách hàng độ thoả dụng tổi đa, thoả mãn nhu cầu của mọi đổi tưọng khách hàng. Tỉnh tiện lợi: Là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, thẻ cung cấp cho khách hàng sự tiện lợi mà không một phương tiện thanh toán nào có thê mang lại được. Đặc biệt đôi với nhữrig người phải đi ra nước ngoài đi công tác hay là đi du lịch, thẻ có thể giúp họ thanh toán ở gần như bất cứ nơi nào mà không cần phải mang theo tiền mặt hay séc du lịch, không phụ thuộc vào khối lượng tiền họ cần thanh toán.
Thẻ được coi là phương tiện thanh toán tốt nhất trong số các phương tiện thanh toán phục vụ tiêu dùng trong xã hội hiện đại và văn minh. Tỉnh an toàn và nhanh chóng: Không tírih đến những hạn chế như ăn cắp và làm giả thẻ thanh toán trên toàn cầu hiện nay, có thể nói người sử dụng thẻ thanh toán rất yên tâm về số tiền của mình trước nguy cơ bị mất cắp do móc túi hay trộm cắp. Ngay cả trong trường họp thẻ bị lấy cắp, ngân hàng cũng bảo vệ tiền cho chủ thẻ bằng số PIN, ảnh và chữ ký trên thẻ,. nhằm tránh khả năng rút tiền của kẻ ăn trộm.
Hơn thế nữa, hầu hết các giao dịch thẻ đều được thực hiện qua mạng kết nối trực tuyến từ cơ sở chấp nhận thẻ hay điểm rút tiền mặt tới ngân hàng thanh toán, ngân hàng phát hành và các Tổ chức thẻ Quốc tế. Do đó việc ghi nợ, ghi có cho các chủ thể tham gia quy trình thanh toán được thực hiện một các tự động, dẫn đến việc quá trình thanh toán diễn ra rất dễ dàng, tiện lợi và nhanh chóng. Cấu tạo thẻ Các loại thẻ thường có đặc điếm chung là: được làm bằng Plastic, có kích thước theo tiêu chuẩn quốc tế là 5,5 cm X 8,5 cm. Thẻ thường dày từ 2-2,5 mm.
Trên thẻ có in các thông số nhận dạng như: nhãn hiệu thương mại của thẻ, tên và logo của nhà phát hành thẻ, số thẻ, tên chủ thẻ và ngày hiệu lực (ngày cuối cùng có hiệu lực),. và một số đặc tính khác tuỳ theo quy định của các Tổ chức thẻ quốc tế hoặc Hiệp hội phát hành thẻ,. Mặt trước của thẻ: ^ Biểu tượng: Mỗi loại thẻ có một biểu tượng riêng, mang tính đặc trưng của tổ chức phát hành thẻ. Đây được xem như một đặc tính mang tính an ninh nhằm chống giả mạo,ví dụ: - VISA: Hình chữ nhật 3 màu: xanh, trắng, vàng có chữ Visa chạy ngang giữa màu trắng.
- MASTERCARD: Có hình 2 hình tròn lồng nhau nằm ở góc dưới bên phải (một hình mầu da cam, một hình mầu đỏ) và dòng chữ Mastercard màu trắng chạy ở giữa. - JCB: Biểu tượng 3 mầu xanh công nhân, đỏ, xanh lá cây, có chữ JCB chạy ngang giữa. - AMEX: Biểu tượng hình đầu người chiến binh. V Sổ thẻ: Số này dành riêng cho mỗi chủ thẻ, được dập nổi trên thẻ và ~ 8~ được in lại trên hoá đơn khi chủ thẻ thanh toán bằng thẻ.
Tuỳ theo từng loại thẻ mà chữ số khác nhau và cách cấu trúc theo nhóm cũng khác nhau. s Thời gian có hiệu lực của thẻ: Là thời hạn mà thẻ được phép lưu hành. Tùy theo từng loại thẻ mà có thể ghi ngày hiệu lực cuối cùng của thẻ hoặc ngày đầu tiên đến ngày cuối cùng được sử dụng thẻ. s Họ và tên chủ thẻ: In chữ nổi, là tên của cá nhân nếu là thẻ cá nhân, tên của người được uỷ quyền sử dụng nếu là thẻ công ty.
Ngoài ra, có thẻ còn có cả ảnh của chủ thẻ.