mở đầu định chế chuyển ngân hàng sang hạch toán kinh doanh. Đến tháng 05/1990 Chính phủ đã ban hành pháp lệnh ngân hàng nhà nước và pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính có hiệu lực từ ngày 01/10/1990. Sự ra đời 2 pháp lệnh ngân hàng là một bước ngoặc quan trọng, nó không chỉ thể hiện một văn bản mang tính đầu tiên trong lịch sử hoạt động ngân hàng, mà còn thể hiện được yêu cầu nội dung, nguyên tắc các bước chuyển sang kinh tế thị trường về lĩnh vực ngân hàng. Trên thế giới, ở các nước phát triển đã có luật cạnh tranh từ rất lâu như Mỹ (1890), Đức (1909), Anh (1948)….tại Việt Nam, vấn đề cạnh tranh trong kinh doanh nói chung vừa được quy định thành luật gần đây.
Tuy nhiên, với việc ra đời của Luật các tổ chức tín dụng được Quốc Hội Việt Nam thông qua tại kỳ họp Quốc Hội khoá X lần thứ 2 ngày 12/12/1997 đã có đề cập đến vấn đề cạnh tranh tại điều 16 (hợp tác và cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng) như sau: - Các tổ chức hoạt động ngân hàng được hợp tác và cạnh tranh hợp pháp. - Nghiêm cấm các hành vi cạnh tranh bất hợp pháp gây tổn hại đến việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng và lợi ích hợp pháp của các bên. - Hành vi cạnh tranh bất hợp pháp bao gồm: + Khuyến mãi bất hợp pháp. + Thông tin sai sự thật làm tổn hại lợi ích của tổ chức tín dụng khác, của khách hàng.
+ Đầu cơ lũng đoạn thị trường tiền tệ, vàng, ngoại tệ. + Các hành vi vi phạm tranh chấp hợp pháp khác. Các ưu thế cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng thương mại. Có rất nhiều ưu thế cấu thành nên năng lực cạnh tranh của một ngân hàng, một tổ chức, một đơn vị.
Nhưng năng lực cạnh tranh của mỗi ngành, mỗi loại hình kinh doanh đều có những ưu thế cấu thành riêng. Trong ngành ngân hàng những ưu thế cơ bản đó bao gồm: 1. Ưu thế do địa điểm, vị trí hoạt động mang lại. Tất cả các nhà quản lý ngân hàng điều nhận thức được vấn đề này, tuy nhiên việc lựa chọn được địa điểm kinh doanh tốt không phải là điều dễ dàng.
Việc lựa chọn vị trí đặt trụ sở phải phù hợp với quy mô hoạt động kinh doanh, nếu ngân hàng có vốn ít mà chi phí xây dựng trụ sở tốn kém làm tăng chi phí, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh. Ưu thế do quy mô, mạng lưới hoạt động. Quy mô hoạt động của ngân hàng nhỏ cũng ảnh hưởng nhất định đến ưu thế về tâm lý khách hàng. Khách hàng thường quan niệm khi gửi tiền vào ngân hàng lớn thì sẽ an toàn hơn.
Đã có nhiều trường hợp khách hàng không gửi tiền tại các chi nhánh, phòng giao dịch mà mang tiền đến thẳng hội sở để gửi mặc dù lãi suất là như nhau. Về mạng lưới hoạt động quốc tế thì đó là một trong những ưu thế lớn của ngân hàng nước ngoài, còn riêng tại Việt Nam thì đây lại là một ưu thế của các ngân hàng thương mại quốc doanh và một vài ngân hàng thương mại cổ phần. Ưu thế do bề dày và kinh nghiệm hoạt động lâu đời. Bề dày lịch sử hoạt động của ngân hàng là ưu thế khá quan trọng, khách hàng thường chọn những ngân hàng nơi quen biết và có tên tuổi, thương hiệu để gửi tiền.
Thực tế đã cho thấy; ở các trung tâm đô thị, phần lớn nguồn tiền gửi cũng như thị trường tín dụng thương mại đều do các ngân hàng TMQD và các ngân hàng TMCP có thương hiệu lớn nắm giữ vì lòng tin và uy tín vốn có của mình, với bề dày kinh nghiệm hoạt động của mình, các ngân hàng nước ngoài lớn luôn chiếm được lòng tin của các công ty hàng đầu tại Việt Nam. Ưu thế do trình độ đội ngũ cán bộ, nhân viên ngân hàng. Trình độ cán bộ nhân viên ngân hàng không chỉ là trình độ chuyên môn mà còn là phong cách thái độ giao tiếp có văn hoá và chuyên nghiệp. Trên thực tế chỉ có những ngân hàng nào có chiến lược, chính sách đào tạo và thu hút nhân tài tốt, có chế độ trả lương cao mới có thể sử dụng có hiệu quả ưu thế này.
Hiện tại, đây là một trong những ưu thế lớn nhất của các ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam, nhưng gần đây đang diễn ra một dòng chảy chất xám từ các ngân hàng nước ngoài về các ngân hàng cổ phần với chính sách lương bổng đãi ngộ và vị trí hấp dẫn. Ưu thế do tính chất sở hữu. Ngày nay khi mức dân trí được nâng cao, ưu thế này không còn được rõ nét, xong vẫn còn một bộ phận khách hàng cá nhân quan niệm rằng gửi tiền vào các ngân hàng TMQD là tin tưởng hơn và không sợ mất do họ tin tưởng là các ngân hàng TMQD có chủ sở hữu là nhà nước. Tóm lại: Trong nền kinh tế thị trường, để có thể tồn tại và phát triển doanh nghiệp phải tạo ra cho mình một khả năng chống chọi lại các thế lực cạnh tranh một cách có hiệu quả.
Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao năng lực cạnh Trang 18 tranh của mình đây chính là đòi hỏi cấp thiết và liên tục. Việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, ngoài ý nghĩa quan trọng đối với bản thân doanh nghiệp, còn góp phần vào nâng cao năng lực cạnh tranh của toàn ngành. Đó là tạo ra những sản phẩm, dịch vụ có chất lượng ngày càng tốt hơn với giá rẻ hơn, nhờ đó làm cho nền kinh tế phát triển và đời sống dân cư ngày càng nâng cao 1. CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
Trước hết, chúng ta có thể hiểu rằng năng lực cạnh tranh của NHTM là khả năng tạo ra lợi thế và sử dụng có hiệu quả các lợi thế đó của mình so với các đối thủ khác nhằm mang lại một kết quả tốt hơn đối thủ. Tuy nhiên, để đạt được kết quả này, các NHTM cần phải hiểu rằng năng lực cạnh tranh là các tiêu chí động, luôn có sự thay đổi. Có rất nhiều tiêu chí cấu thành nên năng lực cạnh tranh của một ngân hàng, một tổ chức, một đơn vị. Nhưng năng lực cạnh tranh của mỗi ngành, mỗi loại hình kinh doanh đều có những tiêu chí cấu thành riêng.
Trong ngành ngân hàng những tiêu chí cơ bản đó bao gồm: Năng lực tài chính Nguồn nhân lực MỘT SỐ Năng lực quản trị điều hành TIÊU CHÍ VỀ NĂNG LỰC Chiến lược cạnh tranh CẠNH TRANH Công nghệ thông tin CỦA NGÂN Chiến lược Marketing HÀNG THƯƠNG MẠI Chăm sóc khách hàng Quản lý rủi ro ngân hàng Tính đa dạng và độc đáo của sản phẩm dịch vụ Hình 1.1 Một số tiêu chí về năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại. Năng lực tài chính. Năng lực tài chính của NHTM được thể hiện thông qua quy mô tổng tài sản, quy mô vốn tự có và các chỉ số phản ảnh hiệu quả trong kinh doanh như chất lượng tài sản nợ, tài sản có… Một khi NHTM kiểm soát tốt chất lượng tài sản nợ, tài sản có của mình cũng như quy mô vốn để đáp ứng đầy đủ các mục tiêu kinh doanh của mình thì sẽ làm cho năng lực tài chính càng trở nên lành mạnh Bất kỳ một đơn vị kinh doanh nào cũng cần có một tình hình tài chính lành mạnh, quy mô tài sản đủ lớn để thực hiện những mục tiêu kinh doanh của mình. Đối với NHTM thì năng lực tài chính tốt sẽ tạo được niềm tin cho khách hàng, dễ dàng huy động vốn, tăng được tối đa số tiền trên mỗi món vay.
Ngoài ra, theo Luật các tổ chức tín dụng quy định thì tỷ lệ tài sản cố định phải chiếm tỷ lệ tối đa 50% trên vốn tự có, do đó NHTM sẽ có điều kiện mua thêm tài sản cố định, cải tiến công nghệ. Tất cả những vấn đề này sẽ làm tăng thêm năng lực cạnh tranh của một NHTM. Nguồn nhân lực. Cùng với năng lực tài chính, nguồn nhân lực là một trong những tiêu chí quan trọng trong chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTM.
Con người là một yếu tố đặc biệt, thể hiện ở chổ con người là tập hợp những yếu tố tâm, sinh lý, tình cảm và trí tuệ. Như vậy, nếu một NHTM sở hữu được những con người có trí tuệ, có đạo đức thì NHTM sẽ có cơ hội phát triển và tạo ra sức cạnh tranh cao vì chính những con người này có thể tạo ra được tính đột biến trong hoạt động kinh doanh. Năng lực quản trị điều hành. Đánh giá năng lực quản trị điều hành của ngân hàng thương mại thông qua các điểm sau: - Mô hình một ngân hàng hiện đại.
- Cơ cấu, trình độ, thực hiện của bộ máy lãnh đạo, của lực lượng lao động chủ yếu, trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao. - Khả năng ứng phó của cơ chế điều hành trước diễn biến của thị trường. - Cơ chế vận hành một ngân hàng hiện đại (quản trị tài sản nợ, tài sản có, quản trị dịch vụ phi tín dụng, quản trị kế toán và ngân quỹ, quản trị nhân sự…. Chiến lược kinh doanh.
Chiến lược kinh doanh rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh hiệu quả của Trang 20 ngân hàng. Một ngân hàng có thể phát triển thêm thị phần hay thu hẹp thị phần tuỳ thuộc vào chiến lược kinh doanh hiệu quả. Hiện nay, các ngân hàng mới thành lập ngày càng nhiều vì vậy một ngân hàng muốn tồn tại trong thị trường thì cần phải có những chiến lược thiết thực, cụ thể cho từng năm, từng kỳ như chiến lược thu hút khách hàng, chiến lược marketing…Vì là một loại hình kinh doanh đặc trưng nên sự thu hút nhiều khách hàng là cần thiết. Vì thế, các chính sách, chiến lược cần phải đi sâu vào từng khách hàng, tạo niềm tin cho khách hàng và mang lại hiệu quả cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Công nghệ thông tin. Trong điều kiện kinh doanh toàn cầu hoá, công nghệ thông tin là phương tiện hỗ trợ đắc lực cho cạnh tranh trong và ngoài nước. Điều này cũng cho chúng ta thấy thông qua việc công nghệ thông tin hiện nay đã làm thay đổi mọi thứ, giúp cho hoạt động kinh doanh trở nên thuận lợi và nhanh chóng hơn. Hoạt động kinh doanh ngân hàng là loại hình kinh doanh đặc biệt, các dịch vụ, các tiện ích gia tăng được ứng dụng bởi công nghệ rất nhiều.