Chương 1: Cơ sở lý luận vê hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm của các ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng huy động tiền gửi tiết kiệm tại Ngân hàng thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam- Chi nhánh Phú Tài Chương 3: Giải pháp tăng cường huy động tiền gửi tiết kiệm tại Ngân hàng thương mại Cô phần Ngoại thương Việt Nam-Chi nhánh Phú Tài 6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Huy động vốn từ dân cư là một trong những đối tượng mà các ngân hàng hiện nay đang có sự quan tâm đặc biệt, nhằm dé tăng cường huy động tiền gửi tiết kiệm cũng như xây dựng nên thương hiệu đến với người dân. vậy, việc nghiên cứu tăng cường huy động tiền gửi tiết kiệm cần được tiến hành một cách có khoa học. Đề có thông tin cần thiết phục vụ cho việc nghiên cứu luận văn, tác giả đã tiến hành thu thập thông tin, tìm hiểu các luận văn thạc sĩ có nội dung tương tự đã được công nhận đẻ tiền hành nghiên cứu nhằm tìm ra nền tảng cho quá trình hoàn thành luận văn.
Luận văn của tác giả Huỳnh Thị Kim Phượng (2009) trong đề tài “Giải pháp gia tăng nguôn vốn huy động đối với hệ thống ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam ”. Trong phần cơ sở lý luận tác giả đã trình bày khá chỉ tiết về vai trò, chức năng của Ngân hàng thương mại cũng như phân chia khá rõ về các nguồn vốn trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại. Trên cơ sở lý luận về các hoạt động huy động vốn của ngân hàng, tác giả đã xây dựng các hình thức huy động vốn, đề cập đến chỉ phí và rủi ro trong huy động. vốn, làm rõ các nhân tố ảnh hưởng.
Qua việc phân tích thực trạng huy động vốn tại ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam, tác giả đã đề xuất các giải pháp nhằm gia tăng nguồn vồn tại ngân hàng, các giải pháp được đề xuất có tính thực tiễn và có khả năng áp dụng vào thực tế đẻ gia tăng nguồn vốn cho ngân hàng. Đây là một đề tài nghiên cứu khá rộng về hoạt động huy động vốn, về phạm vi nghiên cứu tương đối rộng cả hệ thống ngân hàng đầu tư và phát triển, nên tác giả cũng gặp một số trở ngại nhất định trong quá trình nghiên cứu, như chưa làm sáng tỏ được đặc điểm của từng đối tượng khách hàng để có chính sách tăng huy động vốn hợp lý. Bên cạnh đó, tác giả chưa nêu lên được chỉ tiêu đánh giá kết quả gia tăng nguồn vốn và là cơ sở đẻ phân tích thực trạng huy động vốn tại ngân hàng. Nên quá trình phân tích còn hạn chế chưa thể hiện tốc độ tăng tưởng huy động vốn qua các thời kỳ.
Luận văn của tác giả Nguyễn Từ Gia (2008) trong đề vi “Tăng cường huy động vốn tại Chỉ nhánh Ngân hàng ngoại thương Hải Phòng” tác giả đã nêu lên những nội dung cơ bản về tổng quan ngân hàng thương mại, sự cần thiết huy động nợ của ngân hàng. Phần thực trạng ngân hàng ngoại thương trình bày chưa đưa ra Những giải pháp cụ thể mà ngân hàng đã thực hiện trong thời gian qua về tăng cường huy động vốn cũng như những giải pháp nào đã thực hiện nhưng hiệu quả mang lại là chưa cao. Một số giải pháp mà tác giả đề xuất có tính khoa học và có khả năng áp dụng vào thực tiễn, tuy nhiên, đề có một nhận định khách quan của khách hàng vay vẻ hoạt động huy động vốn, tác giả nên tiến hành khảo sát thực tế các khách hàng đã gửi tiền tại ngân hàng để thu thập thêm các thông tin nhằm làm rõ những ưu điểm, nhược điểm về tình hình hoạt động huy động vốn của Ngân hàng, đồng thời tìm hiểu được nhu cầu của khách hàng trong quá trình giao dịch gửi tiền. Qua khảo sát tác giả sẽ có thêm những thông tin rất hữu ích từ sự đánh giá, tìm hiểu nhu cầu sở thích của khách hàng và trên cơ sở những thông tin thu thập được, tác giả có thể tất các giải pháp sát với nhu cầu của khác hàng cũng như tiếp tục khai thác được thế mạnh và khắc phục hạn chế của ngân hàng trong quá trình huy động vốn.
Luận văn của tác giả Nguyễn Thanh Hằng(2009) trong đề tài “Tăng cường huy động vốn tại sở giao dịch Ngân hàng thương mại cổ phân ngoại thương Việt Nam” tác giả đã xây dựng được một cơ sở lý luận gọn nhẹ và logic, từ việc thể hiện được sự ra đời và phát triển NHTM, vai trò chức năng, của NHTM, các hình thức huy động vốn và nhân tố ảnh hưởng, ở phần cơ sở lý luận này tác giả chưa nêu lên chỉ tiêu đánh giá kết quả huy động vốn là nội dung cơ bản để đánh giá hoạt động huy động vốn của của ngân hàng thương mại. Cụ thể, tác giả đã thể hiện được khái quát về hoạt động của Ngan hang ngoại thương và sở giao dịch Ngân hàng ngoại thương Việt Nam ở phần thực trạng huy động vốn, tác giả phản ánh được quy mô và cơ cấu huy động vốn, về sự liên quan giữa ôn định của vốn huy động và khả năng thanh khoản, về mối quan hệ giữa huy đông vốn và sử vốn một cách khoa học. Với đề tài nghiên cứu về tăng cường huy động vốn thì việc xác định được nội dung và những tiêu chí đánh tăng cường là hết sức quan trọng, đây là nội dung cốt lõi của cơ sở lý luận nhằm để phục vụ cho việc phân tích đánh giá thực trạng hoạt động huy động vốn của ngân hàng. Do đó, tác giả chưa xây dựng được các tiêu chí đó nên qua quá trình phân tích thực trạng hoạt động huy động vốn ở Sở giao ngân hàng ngoại thương còn hạn chế.
Qua phân tích cho thấy huy động vốn mang lại thế mạnh về tài chính cho ngân hàng qua các năm từ 2006 đên năm 2008 hoạt động huy động vốn ngày càng khởi sắc như số lượng khách hàng, các hình thức, só dư huy động vốn. Tác giả nhận định rằng, sự tăng cường huy động vốn của ngân hàng là do yếu tố thuận lợi sẵn có về thương hiệu, lãi suất, kinh nghiệm và khách hàng đã gửi tiền giới thiệu. bên cạnh đó sự cố gắng nỗ lực từ phía của ngân hàng. Trên cơ sở lý luận về lợi ích, đặc điểm và vai trò của tăng cường huy động vốn, tác giả đã đề xuất các giải pháp có tính khả thi để tăng cường huy động vốn phù hợp với hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Qua nghiên cứu luận văn trên cho thấy, tác giả đã xây dựng được một cơ sở lý luận có tính logic, luận văn đi sâu vào trọng tâm của nội dung nghiên cứu, do vậy, đã chỉ ra những tồn tại đã ảnh hưởng đến quá trình tăng cường huy động vốn cũng như đề xuất giải pháp có tính thực tiễn để tăng cường huy động vốn tại NH này. Tạp chí: Thị trường tài chính tiền tệ, Ngày 15/03/2012 bài viết “ Hoạt động huy động vốn trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh: Thực trạng và giải pháp” của Thạc sỹ Trần Trọng Huy. Bài viết thể hiện tốc độ tăng trưởng nguồn vốn của NHTM trên địa bàn TP HCM trong những năm gần đây năm 2009 huy động vốn tăng 30,9%; năm 2010 tăng 33,6% và năm 2011 tăng 10%.
Sự tăng trưởng của nguồn vốn huy động chủ yếu tăng trưởng về quy mô, lượng Chất lượng nguồn vốn còn hạn chế, biến động phụ thuộc vào thị trường. Nguồn vốn chủ yếu là ngắn hạn; cơ cấu nguồn vốn chưa hợp lý. Tăng trưởng nguồn vốn huy động dựa vào tăng trưởng và phát triển mạng lưới hơn là hiệu quả của dịch vụ mang lại. Tác giả nêu lên một số nguyên nhân cơ bản hạn chế huy động vốn, thứ nhất là do sự cạnh tranh không lành mạnh và các TCTD chưa khai thác ¡ đa các yếu tố chất lượng dịch vụ, tiện ích dịch vụ huy động vốn, thứ hai áp lực vốn đối với hệ thống ngân hàng là rất lớn, thứ ba cơ cấu tín dụng chưa hợp lý giữa tín dụng ngắn hạn và trung dài hạn, giữa cơ cầu vốn và sử dụng vốn, thứ tư biến động của các yếu tố vĩ mô, đặc biệt trong điều kiện lạm phát là nguyên nhân kháh quan tác động khó khăn đối với hoạt động huy động vốn của NHTM trong những năm qua.
Từ đó tác giả đưa ra một số giải pháp huy động vốn rất thiết thực với thực tế. Những nguyên nhân và giải pháp không những có ích với địa bàn TP HCM mà có ích cho các NHTM trên toàn quốc. CHUONG 1 CO SO LY LUAN HOAT DONG HUY DONG TIEN GUI TIET KIEM CUA CAC NGAN HANG THUONG MAI 1.1 NGUON VON VA HOAT DONG HUY DONG VON CUA NHTM 1.1 Vốn chủ sở hữu của ngân hàng Vốn chủ sở hữu là vốn riêng có của ngân hàng, là điều kiện đầu tiên để ngân hàng được luật pháp cho phép hoạt động và đây là loại vốn ngân hàng có thể sử dụng lâu dài. Nguồn hình thành nên vốn chủ sở hữu gồm nguồn hình.
Vốn chủ sở hữu ban đầu hình thành khi ngân hàng bắt đầu hoạt động. với tính chất sở hữu và nguồn hình thành khác nhau. Nếu là ngân hàng tư nhân thì đó là vốn do các cá nhân bỏ ra, nếu thuộc sở hữu nhà nước thì do ngân sách nhà nước cấp, nếu là ngân hàng cỗ phần thì do cỗ đông đóng góp, nếu là ngân hàng liên doanh thì do các bên tham gia liên doanh góp. Vốn bố sung trong quá trình hoạt động bao gồm: quỹ dự trữ bổ sung.
vốn điều lệ được trích từ lợi nhuận ròng hàng năm theo một tỷ lệ nhất định nhằm tăng cường vốn chủ sở hữu, quỹ dự trữ đặc biệt để dự phòng bù đắp rủi ro trong quá trình hoạt động kinh doanh nhằm bảo toàn vốn điều lệ, lợi nhuận chưa phân bổ và các quỹ nghiệp vụ khác (quỹ dự phòng dự phòng rủi ro, quỹ phúc lợi, quy khen thưởng, khấu hao, quỹ phát triển kỹ thuật nghiệp vụ ngân hàng. Vốn chủ sở hữu chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng, do đặc trưng trong kinh doanh ngân hàng là huy động để cho vay. Theo quy định của NHNN Việt Nam tỷ lệ Vốn chủ sở hữu/tiền gửi tối thiểu là 1/20. Tuy chiếm tỷ trọng nhỏ, song Vốn chủ sở hữu có vai trò rất quan trọng.
Nguồn vốn này là rất én định, do vậy khi ngân hàng đi vào hoạt đông, vốn chủ sở hữu thường nằm dưới dạng trụ sở, văn phòng, kho bãi, xe cộ, trang thiết bị, dự trữ hay ký quỹ tại NHTW.