Chương 1: Cơ sở lý luận về hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực ngần hàng. e Chương 2: Thực trạng hoạt động của hệ thông Ngân hàng thương mại Việt Nam trong môi trường hội nhập hiện nay. e Chương 3: Giải pháp hoàn thiện năng lực hoạt động của hệ thong ngân hàng thương mai Việt Nam trong tiễn trình hội nhập. Y nghĩa của luận văn Với kết cấu như trên, luận văn sẽ dẫn dắt người đọc đi từ tổng thể và lý luận của vấn đề hội nhập lĩnh vực ngân hàng, đến nội dung chủ yếu là tình hình hiện tại và khó khăn thách thức của hệ thống ngân hàng thương mại trong giai đoạn sắp đến, trên cơ sở đó đề xuất cách giải quyết các thách thức khó khăn hướng đến việc phát triển một ngành ngân hàng hội nhập vững mạnh và hiện đại.
Hy vọng những kiến thức được nêu trong luận văn có giá trị tham khảo và sử dụng đối với các chủ thê quyết định cũng như liên quan trong công cuộc điều hành ngành ngân hàng Việt Nam hội nhập trong giai đoạn phát triên hiện nay và trong tương lai. -3- CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE HOI NHAP KINH TE QUOC TE TRONG LINH VUC NGAN HANG.1 VAN ĐÈ HỘI NHẬP KINH TE QUOC TE TRONG LĨNH VUC NGAN HANG.1 Những vẫn đề cơ bản về xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế: 1. Khái niệm toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc lễ: Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành xu thế bao trùm chỉ phối toàn bộ sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia và quan hệ quốc tế. Xu thế khách quan này bắt nguôn từ quy luật phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động quốc tế: toàn cầu hoá kinh tế là một giai đoạn mới của quốc tế hoá sản xuất, đặc biệt từ những năm 80 của thế kỷ 20 trở lại đây trở thành xu thế quan trọng nhất trong phát triển của nền kinh tế thế giới dau thé ky 21.
Toan cau hod kinh té là sự gia tăng nhanh chóng các hoạt động kinh tế vượt qua mọi biên giới quốc gia, khu vực, tạo ra sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế trong sự vận động phát triển hướng đến một nền kinh tế thế giới thống nhất. sự gia tang cua xu thé nay thê hiện ở sự mở rộng mức độ và quy mô thương mại thế giới, sự lưu chuyển giữa các dòng vốn và lao động trên phạm vi toàn cầu. Dương Phú Hiệp, TS. Vũ Văn Hà- Toàn cầu hoá kinh tế).
Hội nhập kinh fẾ quốc tế: Là tiến trình mà chủ thể là các quốc gia, các doanh nghiệp chủ động tham gia vào một môi trường kinh doanh mang tinh chất toàn cầu, khu vực với các quy luật chung (luật chơi) mang và có yếu tô cạnh tranh. Tuy nhiên, 2 khái niệm này có sự khác biệt và mối quan hệ biện chứng với nhau. Toàn cầu hoá khái niệm chỉ xu thế vận động khách quan bắt nguồn từ sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học- kỹ thuật của thương mại và đầu tư quốc tế với sự nâng cao vai trò của các công ty xuyên quốc gia và -4- đánh dâu một giai đoạn phát triển mới của nhân loại gắn với thời đại kinh tế tri thức. Trong khi đó, khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế mang tính chủ quan của chủ thể quốc gia hội nhập, phản ánh năng lực nhận thức và hành động của mỗi quốc gia trước yêu cầu và thách thức của toàn cầu hoá kinh tế.
Khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh hiện nay không chỉ đơn thuần giới hạn trong phạm vi cắt giảm thuế hoặc các rào cản kỹ thuật trong thương mại mà đã được mở rộng ra tất cả lĩnh vực liên quan đến chính sách kinh tế, nhằm mục đích mở cửa nên kinh tế cho việc lưu thông và thương mại của hàng hoá và dịch vụ, loại bỏ các rào cản hữu hình và vô hình đối với trao đổi thương. Hội nhập kinh tế quốc tế được hiểu đầy đủ hơn là việc một quốc gia thực hiện chính sách kinh tế mở và phù hợp với các nền kinh tế trên thế giới, tham gia đầy đủ vào các định chế kinh tế, tài chính quốc tế, thực hiện tự do hoá và thuận lợi hoá thương mại, đầu tư trên tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế.2 Tính tất yếu khách quan của quả trình toàn cầu hoá kinh tế: Tại sao lại nói "Toàn câu hoá là một xu thế khách quan”? Bởi động lực của "toàn cầu hoá" là sự phát triển của lực lượng sản xuất, mà lực lượng sản xuất thì không ngừng lớn mạnh. Đây là quy luật chung nhất cho mọi thời đại, mọi chế độ xã hội. Sự lớn mạnh này lớn đến mức nào không chỉ tuy thuộc vào sự phát triển của khoa học - công nghệ mà còn tuỳ thuộc vào cách tô chức quan hệ sản xuất.
Trong khi đó, những thành tựu của cuộc cách mạng kỹ thuật và công nghệ thông tin trong những năm cuối của thế kỷ 20 đã làm tăng tốc sự phát triển của lực lượng sản xuất, đưa loài người từ xã hội công nghiệp sang xã hội hậu công nghiệp và bước vào ngưỡng cửa của xã hội thông tin, nên kinh tế tri thức. Chính sự phát triển mạnh mẽ này, về khách quan, đặt ra yêu cầu mở rộng thị trường lên một tầm mức mới, bằng những phương cách mới. Từ đó, xuất hiện hiện tượng rồi đến xu thế “Toàn cầu hoá kinh tế". Trong thời đại ngày nay, khi mà các yếu tô của sản xuất đã được quốc tế hoá một cách sâu sắc, không một quốc gia nào có thê đạt được tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao nhằm rút ngắn khoảng cách phát triển nếu không tham gia mạnh mẽ vào quá trình này, nhất là toàn cầu hoá luôn gắn với cải cách cơ cầu kinh tế của từng nước và sự chuyển dịch cơ cấu giữa các nước.
Điều đó giải thích tại sao WTO - định chế cơ bản của toàn cầu hoá - đã phát triển lớn mạnh bao gồm 152 nền kinh tế thành viên, chiếm hơn 97% GDP và 95% giá trị thương mại toàn cầu. Các nước còn lại của thế giới chưa phải là thành viên _5- cũng đang khẩn trương đàm phán dé gia nhập tổ chức này. Ngay cả nền kinh tế còn lại trong top 10 thế giới chưa gia nhập là Nga cũng đang bước rất gần vào cánh cửa của WTO khi đang tiến hành cuộc đàm phán đa phương tại Geneva 05/2008. Vì vậy, có thể khẳng định toàn cầu hoá kinh tế là xu thế khách quan và tất yếu trong thời đại ngày nay, lôi cuốn tất cả các quốc gia dù muốn hay không trong bước đi ngày càng sâu rộng của nó, đem lại những cơ hội cho những nước biết tận dụng những mặt tích cực của quá trình này và thách thức cho những nước không thể “chơi tốt” trên sân chơi thị trường thế giới do toàn cầu hoá kinh tế tạo ra.3 Tác động của xu thể toàn cầu hoá kinh tế: Có thê khẳng định rằng, toàn cầu hoá là xu thế tất yếu khách quan trong sự phát triển của thế giới hiện đại.
Nó là một yếu tố quan trọng thúc đây sự tăng trưởng kinh tế, tạo ra một diện mạo và một sức sống mới cho nền kinh tế thế giới cũng như cho các khu vực, cho mỗi quốc gia, dân tộc. Đó là sự thay đổi về chất trong sự phát triển kinh tế chứ không chỉ đơn thuân là sự thay đổi về cấp độ, nhịp độ. Toàn cầu hoá tạo ra sự gan két va phụ thuộc lẫn nhau giữa các vùng lãnh thô, giữa các quốc gia, dân tộc, giữa các lĩnh vực khác nhau của sản xuất, của đời sống xã hội trong quá trình phát triển. Ngày nay sự phát triển của nền kinh tế mỗi nước đều có quan hệ với sự phát triển của nền kinh tế các nước khác, với kinh tế toàn cầu và ngược lại, sự suy thoái của một nền kinh tế cũng tác động tiêu cực đến các nền kinh tế khác.
Toàn câu hoá cũng có mặt trái của nó xét từ các nguy CƠ, rủi ro mà nó có thể gây ra cho mỗi quốc gia và cả cộng đồng kinh tế thế giới. Toàn cầu hoá có thể gây ra những hậu quả sau đây : 1) có thê gây ra hiện tượng mất gốc, làm mat di bản sắc dân tộc và mất đi sự liên kết xã hội ; 2) làm mất ổn định kinh tế và chính trị của các nước; 3) làm sâu sắc thêm hay tạo ra những khác biệt mới bên trong từng nước cũng như giữa các nước giàu và các nước nghèo ; 4) làm tăng khoảng cách phát triển giữa các nước giàu và các nước nghèo, làm sâu sắc thêm tình trạng phân hóa giàu nghèo trong mỗi nước; 5) từ cạnh tranh kinh tế chuyển sang xung đột giá trị tạo ra cú sốc ngược và những toan tính dân tộc cực đoan.2 Hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng: 1.1 Khải quát về hội nhập kinh tẾ quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng: Kinh nghiệm quốc tế cho thấy hệ thống tài chính — ngân hàng cạnh tranh và mở cửa là những điều kiện hỗ trợ hiệu quả cho phát triển kinh tế. Cạnh tranh sẽ làm cho hệ thống ngân hàng vững mạnh, hiệu quả và lành mạnh hơn. Do vậy, các nước đang phát triển mong muốn hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển và cải cách hệ thống ngân hàng nhằm nâng cao khả năng thu hút và phân bổ các nguồn lực, tạo thuận lợi cho các tổ chức kinh tế có thể tiếp cận các dịch vụ ngân hàng có chất lượng cao hơn với chỉ phí thấp hơn.
Nhằm khuyến khích hội nhập quốc tế, chính phủ các nước thường thực hiện mở cửa thị trường, xây dựng môi trường chính sách trong nước hỗ trợ cho cạnh tranh, từng bước cho phép các ngân hàng nước ngoài (NHNNg) cạnh tranh trong một sân chơi công bằng và tạo thuận lợi cho các ngân hàng trong nước thâm nhập thị trường quốc tế, đồng thời chính phủ các nước cũng áp dụng các tiêu chuẩn thông lệ tốt nhất của quốc tế liên quan đến hoạt động ngân hàng làm cho thương mại và luân chuyến vốn quốc tế tự do hơn. Mức độ hội nhập quốc tế đạt được trên thực tế tuỳ thuộc vào sự phản hồi của các NHNNg và các ngân hàng trong nước đối với các cơ hội do sự thay đôi chính sách tạo ra.