Chương 1: Gới thiệu tổng quan Chương 2: Cơ sở lý luận. Chương 3: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Đồng Tháp. Chương 4: Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền của người dân vào BIDV Đồng Tháp. Chương 5: Kết luận và kiến nghị Trang 4 Luan van CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Phương pháp luận 2.1 Tổng quan về hoạt động của ngân hàng thương mại 2.1 Khái niệm về Ngân hàng thương mại Lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống ngân hàng gắn liền với sự phát triển của nền sản xuất hàng hoá.
Quá trình phát triển kinh tế là điều kiện và đỏi hỏi sự phát triển của NH; đến lượt mình, sự phát triển của hệ thống NH trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường, thị trường tài chính và các trung gian tài chính thực hiện chức năng lưu thông vốn từ những nơi, những cá nhân có vốn nhàn rỗi đến những cá nhân, tổ chức cần vốn cho các hoạt động của mình. Trong các kênh dẫn vốn đó thì hệ thống NH đóng vai trò chủ đạo cả về quy mô lẫn nghiệp vụ. NH là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế.
NH bao gồm nhiều hình thức tuỳ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế nói chung và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó Ngân hàng thương mại thường chiếm tỷ trọng lớn nhất về quy mô và số lượng các NH. Khi nghiên cứu về Ngân hàng thương mại, các nhà kinh tế học, các tổ chức tài chính đã đưa rất nhiều khái niệm về Ngân hàng thương mại. Theo Fredic Miskin thì “Ngân hàng Thương mại là một trung gian tài chính, các trung gian tài chính này thu hút vốn bằng cách phát hành: tiền gửi có thể phát séc (tiền gửi không kì hạn), các tiền gửi tiết kiệm (là các món tiền gửi có kỳ hạn thanh toán định trước), sau đó họ dùng vốn vay này để thực hiện cho vay: cho vay thương mại, cho vay tiêu dùng, cho vay thế chấp và để mua các chứng khoán của chính phủ, các chứng khoán của chính quyền địa phương.” Theo luật Các Tổ chức Tín dụng của Việt Nam thì “ Ngân hàng là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của Trang 5 Luan van khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu là làm phương tiện thanh toán.” Như vậy trong quá trình hình thành và phát triển, các nhà kinh tế học cũng như các tổ chức đã đưa ra rất nhiều khái niệm về Ngân hàng thương mại. Thật khó có thể để đưa ra một khái niệm chính xác và đầy đủ về Ngân hàng thương mại trong mọi giai đoạn.
Sở dĩ có điều này là do hoạt động của Ngân hàng thương mại rất đa dạng, các thao tác trong từng nghiệp vụ lại rất phức tạp và luôn luôn biến động theo sự biến đổi chung của nền kinh tế. Mặt khác, do trình độ phát triển của nền kinh tế, phong tục tập quán, hệ thống pháp luật… mỗi nước khác nhau đã dẫn đến quan niệm về Ngân hàng thương mại không đồng nhất. Nhưng một điều không thể phủ nhận là sự ra đời của hệ thống Ngân hàng thương mại đã đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội loài người.2 Các chức năng của Ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại là một trung gian tài chính không thể thiếu được của một nền kinh tế. Nó đóng vai trò cầu nối giữa cung và cầu tiền tệ thông qua hoạt động huy động vốn của những cá nhân, tổ chức thặng dư trong chi tiêu tức là thu nhập hiện tại của họ lớn hơn các khoản chi tiêu cho hàng hoá dịch vụ và do đó họ có tiền để tiết kiệm.
Sau đó, Ngân hàng thương mại chuyển các khoản tiết kiệm này thành đầu tư bằng cách cho các tổ chức và cá nhân có nhu cầu về vốn vay lại. Đó là những tổ chức, cá nhân tạm thời thâm hụt chi tiêu, tức là chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập; do vậy, họ cần bổ sung thêm vốn. Hoạt động này giúp đẩy nhanh tốc độ quay vòng vốn, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Tình hình hoạt động của NH phản ánh rất chính xác mức độ phát triển của nền kinh tế.
Do vậy, NH có chúc năng quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế, cụ thể như sau: Trang 6 Luan van a) Chức năng trung gian tín dụng Chức năng trung gian tín dụng được minh họa qua hình 2.1 sau đây: Thu nhận Cấp Ngân Người thừa vốn tiền gửi tiết kiệm, hàng Người cần vốn tín (Tổ chức kinh phát hành kỳ thương mại dụng (Tổ chức kinh tế, cá nhân ) phiếu, trái phiếu tế, cá nhân ) Hình 2.1: Chức năng trung gian tín dụng của Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế Thực hiện chức năng trung gian tín dụng, gân hàng thương mại đóng vai trò là “cầu nối” giữa người thừa vốn và người cần vốn. Trong đó, ngân hàng thương mại đóng vai trò là trung gian, đứng ra tập trung, huy động các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế biến nó thành nguồn vốn tín dụng để cho vay đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh và vốn đầu tư cho các ngành kinh tế và nhu cầu vốn tiêu dùng của xã hội, chuyển vốn tiền tệ từ nơi thừa sang nơi thiếu theo nguyên tắc hoàn trả vô điều kiện. Trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của Ngân hàng thương mại vì nó phản ánh bản chất của Ngân hàng thương mại là đi vay để cho vay, nó quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, đồng thời là cơ sở để thực hiện các chức năng khác. b) Chức năng trung gian thanh toán Khi Ngân hàng thương mại ra đời và hoạt động trong nền kinh tế, các khoản giao dịch thanh toán giữa các đơn vị và cá nhân được thực hiện qua hệ thống ngân hàng.
Ngân hàng thương mại đứng ra làm trung gian để thực hiện các khoản giao dịch thanh toán giữa các khách hàng, giữa người mua, người bán…để hoàn tất các quan hệ kinh tế thương mại giữa họ với nhau. Trang 7 Luan van Chức năng trung gian thanh toán được minh họa qua hình 2.2 sau đây: Người trả tiền, Lệnh Ngân Giấy Người thụ người mua hàng hưởng, người trả tiền báo (Tổ chức kinh thương bán, (Tổ chức tế, cá nhân ) qua tài khoản mại có kinh tế, cá nhân ) Hình 2.2: Chức năng trung gian thanh toán của Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế Nhờ thực hiện chức năng này, nền kinh tế sẽ giảm bớt khối lượng tiền mặt lưu hành, tăng khối lượng thanh toán bằng chuyển khoản. Từ đó, giảm bớt nhiều chi phí cho xã hội về in tiền, vận chuyển, bảo quản tiền tệ, tiết kiệm nhiều chi phí về giao dịch thanh toán. Cũng chính nhờ chức năng này mà hệ thống Ngân hàng thương mại góp phần đẩy nhanh tốc độ luân chuyển tiền – hàng.
c) Chức năng cung ứng dịch vụ ngân hàng Chức năng này được thực hiện thông qua các hình thức thanh toán (séc, ủy nhiệm chi, nhờ thu, các loại thẻ tín dụng,…) hoạt động thanh toán bù trừ - liên ngân hàng, ngân hàng thực hiện thanh toán cho khách hàng giá trị hàng hóa và dịch vụ. Với ưu thế về mạng lưới rộng khắp, nắm được tình hình sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính, điểm mạnh, điểm yếu của các tổ chức, cá nhân, các Ngân hàng thương mại giữ vị trí độc quyền trong cung ứng một số sản phẩm dịch vụ mà không có tổ chức nào đủ khả năng thay thế. Các dịch vụ gắn liền với ngân hàng không chỉ cho phép Ngân hàng thương mại thực hiện tốt yêu cầu của khách hàng mà còn hỗ trợ tích cực để Ngân hàng thương mại thực hiện tốt chức năng trung gian tín dụng và chức năng trung gian thanh toán.2 Các hoạt động chủ yếu của Ngân hàng thương mại a) Huy động vốn - Nhận tiền gửi từ các tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác. - Phát hành các chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và các chứng từ có giá khác.
Trang 8 Luan van - Vay vốn của các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước. - Vay vốn, nhận vốn của ngân hàng nhà nước thông qua thị trường mở, thị trường tái cấp vốn. - Các hình thức khác theo quy định của pháp luật. b) Tín dụng Tín dụng là hoạt động quan trọng của các ngân hàng thương mại, Ngân hàng thương mại cấp tín dụng thông qua các hình thức như: cho vay, bảo lãnh, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán,… c) Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ - Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ của Ngân hàng thương mại gồm: - Cung cấp các phương tiện thanh toán.
- Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng. - Thực hiện dịch vụ thu hộ, chi hộ. - Thực hiện các dịch vụ thanh toán khác theo qui định của NHNN. - Tham gia, thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế khi được NHNN cho phép.
- Thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng. - Thực hiện dịch vụ giữ hộ tài sản cho khách hàng. d) Một số hoạt động khác - Kinh doanh ngoại hối. - Kinh doanh bất động sản.
- Góp vốn và mua cổ phần. - Tham gia thị trường tiền tệ. - Đầu tư và kinh doanh chứng khoán. - Cung ứng dịch vụ bảo hiểm Trang 9 Luan van - Ủy thác và nhận ủy thác - Tư vấn tài chính 2.2 Tầm quan trọng của hoạt động huy động tiền gửi 2.1 Đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng Cũng như bất kỳ loại hình doanh nghiệp khác, nguồn vốn có vai trò rất quan trọng trong việc sản xuất kinh doanh.
Tuy nhiên, khác với những doanh nghiệp bình thường, Ngân hàng thương mại được xem như là doanh nghiệp kinh doanh hàng hóa đặc biệt. Trong đó, vốn chủ sở hữu thường chiếm tỷ trọng thấp trong tổng nguồn vốn hoạt động, chủ yếu là nguồn vốn huy động. Phần lớn vốn huy động của Ngân hàng thương mại xuất phát từ việc huy động nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi của các doanh nghiệp, cá nhân cũng như từ việc vay mượn các nhà đầu tư trên thị trường tiền tệ và thị trường vốn.