Chương 1: Lý luận cơ bản về phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng trong hoạt động của Ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Thanh Xuân. Chương 3: Giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Thanh Xuân. 7 CHƯƠNG1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.
Khái quát về rủi ro tín dụng trong hoạt động của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về tín dụng của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm Hiện nay có rất nhiều cách tiếp cận khái niệm về tín dụng. Xuất phát từ chữ Latin, “Tín dụng” là Creditium, có nghĩa là tin tưởng, tín nhiệm và trong tiếng Anh là Credit.
Tiếp cận trên cơ sở chức năng hoạt động của ngân hàng, tín dụng được hiểu là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa), giữa bên cho vay (các định chế tài chính) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao cho bên đi vay sử dụng tài sản trong một khoảng thời gian nhất định theo thỏa thuận, khi đến thờihạn thanh toán bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả lại vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay. Tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng được thừa nhận công khai giữa một bên là các ngân hàng, các tổ chức tín dụng với vai trò bên cho vay và một bên là các chủ thể kinh tế - tài chính của toàn xã hội (doanh nghiệp, tổ chức xã hội, các cấp quản lý nhà nước hoặc cá nhân) với vai trò là bên vay. Trên thực tế, ngân hàng đóng vai trò là người đi vay và cả người cho vay. Ngân hàng đi vay của các chủ thể trong xã hội với nhiều phương thức như mở tài khoản tiền gửi với các kỳ hạn khác nhau, phát hành các loại họp đồng tiền gửi, sổ tiết kiệm, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu ngắn hạn, trung hạn, dài hạn, vay theo hợp đồng vay mượn hoặc ký kết các thỏa thuận vay nợ,.Ngược lại, khi ngân hàng đóng vai trò là người cho vay, ngân hàng thì chủ yếu sử dụng phương thức cấp tín dụng theo các tài khoản vay hoặc theo tài khoản kết hợp giữa cho vay và tiền gửi để đáp ứng các nhu cầu vốn của khách hàng.
Trong nghiên cứu này, hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại được hiểu là hoạt động Ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng, Ngân hàng đóng vai trò là người cho vay vốn. Đồng thời, khái niệm Ngân hàng được nhắc đến theo khía cạnh các Ngân hàng thương mại (NHTM). Đối tượng khách hàng được cấp tín dụng 8 của Ngân hàng bao gồm cả khách hàng là các tổ chức và cá nhân. Tuy nhiên dư nợ đối với cho vay cá nhân chỉ chiếm một phần nhỏ so với tổng dư nợ (TDN) của hầu hết các ngân hàng, rủi ro từ mảng cho vay cá nhân cũng đơn giản, dễ nhận biết hơn và hầu như dễ khắc phục hơn so với doanh nghiệp, do đó trong luận văn này cũng sẽ đi sâu hơn vào hoạt động cấp tín dụng cho các doanh nghiệp của NHTM.
Các hình thức tín dụng Ngân hàng thương mại Căn cứ vào thời hạn tín dụng: + Tín dụng ngắn hạn: Là các khoản cho vay có thời hạn không quá 12 tháng + Tín dụng trung hạn: Là các khoản vay có thời hạn từ 12 tháng đến 5 năm + Tín dụng dài hạn: Là các khoản cho vay có thời hạn trên 5 năm Căn cứ vào đối tượng cho vay: + Tín dụng tổ chức: đối tượng cho vay là các pháp nhân tổ chức + Tín dụng cá nhân: đối tượng cho vay là các cá nhân Căn cứ vào mức độ tín nhiệm với khách hàng: + Tín dụng tín chấp: người vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc có sự bảo lãnh của bên thứ ba + Tín dụng có bảo đảm: cho vay dựa trên việc thế chấp, cầm cố tài sản hoặc bảo lãnh của bên thứ ba Căn cứ vào đặc điểm giải ngân: + Tín dụng hạn mức: khách hàng được cấp một hạn mức vay vốn nhất định trong một thời gian nhất định và có thể vay trả nhiều lần trong hạn mức và thời hạn sử dụng được cấp đó + Tín dụng theo món: khách hàng được chấp thuận cho vay một giá trị tối đa và chỉ được rút vốn một lần trong giới hạn đó trong một khoảng thời gian nhất định Căn cứ vào hình thái giá trị của tín dụng: + Tín dụng bằng tiền: hình thái giá trị của tín dụng được cấp bằng tiền. 9 + Tín dụng bằng tài sản: hình thái giá trị của tín dụng được cấp bằng tài sản, chủ yếu dưới hình thức tín dụng cho thuê tài chính. Căn cứ vào phương pháp cho vay: + Tín dụng trực tiếp: người vay trực tiếp nhận tiền vay và hoàn trả cho NHTM. + Tín dụng gián tiếp: quan hệ tín dụng thông qua hay liên quan đến bên thứ ba.
Căn cứ vào phương pháp hoàn trả: + Tín dụng trả góp: Là loại tín dụng mà khách hàng phải trả một phần gốc và lãi theo định kỳ. + Tín dụng phi trả góp: Là loại tín dụng được thanh toán một lần theo đúng kỳ hạn đã thỏa thuận và thường áp dụng trong cho vay vốn lưu động. + Tín dụng hoàn trả theo yêu cầu: Là loại tín dụng mà người vay có thể hoàn trả bất cứ lúc nào khi có thu nhập, áp dụng cho vay thấu chi. Nguyên tắc tín dụng của Ngân hàng thương mại Tín dụng ngân hàng được thực hiện trên 3 nguyên tắc sau: ► Thứ nhất: Việc hoàn trả tiền vay trong quan hệ tín dụng ngân hàng phải được thực hiện một cách vô điều kiện.
Điều này có nghĩa là Ngân hàng sẽ chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận giữa hai bên, và bên đi vay phải có trách nhiệm hoàn trả cả vốn gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán một cách vô điều kiện. ► Thứ hai: Giá trị hoàn trả phải lớn hơn giá trị đã cho vay, hay nói cách khác là người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài phần vốn gốc cho ngân hàng. Hầu hết phần vốn ngân hàng cho vay đều có nguồn gốc từ việc ngân hàng huy động tiền gửi với chi phí lãi suất huy động nhất định. Người vay phải hoàn trả phần gốc vay và phần lãi đủ bù đắp chi phí lãi suất ngân hàng chi trả cho tổ chức, cá nhân gửi tiền đồng thời đủ bù đắp các chi phí khác và đem lại lợi nhuận cho ngân hàng.
► Thứ ba: Dựa trên cơ sở nguyên tắc hoàn trả, ngân hàng khi chuyển giao tài sản cho người đi vay cần có cơ sở để tin rằng người vay sẽ trả đúng hạn. Thông 10 thường dựa trên tài sản bảo đảm hoặc đánh giá năng lực tài chính của bên vay. Ngoài ra, năng lực tài chính, khả năng sinh lời trong hoạt động kinh doanh hoặc thu nhập dự kiến của bên vay,lịch sử quan hệ tín dụng ngân hàng của bên vay cũng là một công cụ quan trọng để ngân hàng có cơ sở tin tưởng trước khi cấp tín dụng. Quy trình tín dụng của Ngân hàng thương mại Mỗi ngân hàng thương mại đều có quy trình tín dụng riêng, về chi tiết có thể khác nhau tuy nhiên về cơ bản đều gồm các bước như sau: Tìm kiếm khách hàng: Ngoài các khách hàng chủ động đến ngân hàng, do hiện nay có rất nhiều ngân hàng để lựa chọn vay, muốn cạnh tranh được và có nhiều khách vay hàng vốn, các ngân hàng phải thực hiện bước khai thác khách hàng.
Hướng dẫn khách hàng: Khách hàng không phải là những chuyên gia về ngân hàng do vậy ngân hàng cần phải hướng dẫn họ. Nội dung ngân hàng hướng dẫn khách hàng là hướng dẫn về điều kiện vay vốn và thiết lập hồ sơ vay vốn. Điều tra thông tin khách hàng: Thông tin không được điều tra đầy đủ và thông tin đầu vào cho các bước tiếp theo không có tính xác thực cao, thông tin sai lệch khiến đánh giá khách hàng không đúng và dễ dẫn tới việc ra những quyết định sai lầm, gây ra rủi ro tín dụng cho ngân hàng. Phân tích thông tin: Sau khi đã thu thập được các thông tin, hồ sơ cần thiết và xác thực các thông tin này, ngân hàng sẽ tiến hành phân tích, thẩm định và đối chiếu với các quy định, các điều kiện của pháp luật cũng như ngân hàng nhà nước nói chung và các điều kiện vay vốn của riêng từng ngân hàng, từ đó đưa ra kết luận về năng lực pháp lý, năng lực tài chính của khách hàng, tính khả thi và khả năng sinh lời của dự án vay, tính phù hợp, an toàn và giá trị của các phương án bảo đảm tiền vay.
Đây là công tác rất quan trong trong quy trình cho vay của ngân hàng giúp ngân hàng quyết định có cho vay hay không và các chính sách cho vay như thế nào. Quyết định cho vay: Căn cứ thông tin thu thập được và kết quả phân tích các thông tin, số liệu về khách hàng và phương án vay đối chiếu với điều kiện vay vốn của ngân hàng để ra quyết định cho vay và chính sách áp dụng trong và sau khi cho vay đối với các khách hàng hoặc từ chối những khách hàng không đủ điều kiện vay. 11 Ký kết hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm tiền vay: Mỗi món vay thông thường có hại loại hợp đồng là hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm tiền vay. Tuỳ theo biện pháp bảo đảm tiền vay mà có những hợp đồng đảm bảo tiền vay khác nhau: hợp đồng thế chấp, hợp đồng cầm cố, hợp đồng bảo lãnh ngân hàng,v.v… Giải ngân: Thực hiện giải ngân tiền vay theo nhu cầu của khách hàng.
Giải ngân tiền vay có thể giải ngân bằng tiền mặt hoặc bằng chuyển khoản tuy nhiên hiện nay hình thức giải ngân tiền mặt đã bị hạn chế, chủ yếu là giải ngân chuyển khoản thẳng cho các đối tác, các nhà cung cấp, người bán của khách hàng giúp ngân hàng kiểm soát được luồng tiền vay.