Chương 1: Giới thiệu tổng quan về nghiên cứu. Trong đó, trình bày tổng quan bối cảnh thực tiễn và lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đóng góp mới của luận án và kết cấu của luận án. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm về sự tác động của cấu trúc sở hữu đến hành vi chấp nhận rủi ro và hiệu quả hoạt động NHTMCP Việt Nam. Đưa ra 20 các lý thuyết và lược khảo các nghiên cứu liên quan đã được thực hiện để hình thành mô hình nghiên cứu và phát triển các giả thiết nghiên cứu.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu – trình bày phương pháp nghiên cứu và mô tả dữ liệu nghiên cứu. Chương 4: Phân tích thực nghiệm về tác động của cấu trúc sở hữu đến hành vi chấp nhận rủi ro và hiệu quả hoạt động tại các NHTMCP Việt Nam trong giai đoạn 2008 - 2019 đồng thời trình bày các kết quả chính yếu. Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách. 21 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ XÂY DỰNG GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý thuyết về cấu trúc sở hữu của ngân hàng 2.1 Khái niệm cấu trúc sở hữu Trong cuốn sách “Công ty hiện đại và tài sản tư nhân” (The Modern Corporation and private property), Berle & Means (1932) là một trong những nhà nghiên cứu đầu tiên đặt nền tảng cho khái niệm “cấu trúc sở hữu”.
Theo đó, cùng với sự tăng trưởng về quy mô, yêu cầu áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nhu cầu về vốn của doanh nghiệp tăng mạnh vượt qua khỏi khả năng tài chính của một cá nhân dẫn đến sự xuất hiện của nhiều chủ sở hữu (còn gọi là cổ đông) trong một doanh nghiệp. Cấu trúc sở hữu là cơ cấu phản ánh tổng thể quan hệ chiếm hữu của các cổ đông đối với các phần của vốn sở hữu, từ đó quyết định đến các mối quan hệ khác trong sản xuất, quản lý cũng như những lợi ích kinh tế mà việc sản xuất kinh doanh từ nguồn vốn sở hữu đó đem lại. Tỷ lệ cổ phần càng cao thì cổ đông hay nhóm cổ đông càng có trách nhiệm và quyền giám sát các hoạt động điều hành và quản lý doanh nghiệp. Cấu trúc sở hữu đóng vai trò quan trọng trong doanh nghiệp (đặc biệt là trong các ngân hàng), ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động điều hành doanh nghiệp thông qua tác động đến việc ra quyết định của nhà quản lý.
Do vậy, khái niệm cấu trúc sở hữu phải được xem xét qua cách tiếp cận các nhà quản lý – người đại diện cho quyền sở hữu tại doanh nghiệp (Altunbas, Carbo, Gardener & Molyneux, 2007). Cấu trúc sở hữu cũng là một trong những phương thức thực hiện cơ chế quản trị nội bộ (internal governance mechanisms) trong doanh nghiệp, có tác động trực tiếp đến rủi ro và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (Amor & Accounting, 2017).2 Phân loại cấu trúc sở hữu 2.1 Phân loại cấu trúc sở hữu theo tính chất của cổ đông Cấu trúc sở hữu của doanh nghiệp được phân thành nhiều loại, cụ thể: sở hữu tư nhân, sở hữu bởi Nhà nước, sở hữu nước ngoài, sở hữu hỗn hợp (Berle & Means, 1932; 22 La Porta et al. Trong đó, cấu trúc sở hữu hỗn hợp là sự kết hợp giữa sở hữu nhà nước và sở hữu tư nhân, tuy nhiên, để đảm bảo tính rõ ràng, nhất quán của các loại cấu trúc sở hữu, tác giả không đưa loại hình này vào phân tích. Nhiều nghiên cứu xếp loại các doanh nghiệp (ngân hàng) có tỷ lệ sở hữu nhà nước chiếm đa số hay lớn hơn so với các thành phần sở hữu còn lại là doanh nghiệp sở hữu nhà nước (Morck, Shleifer, & Vishny, 1988).
Theo đó, nhà nước nắm giữ tỷ lệ lớn cổ phiếu đồng nghĩa với quyền kiểm soát và chi phối lớn đối với doanh nghiệp, từ đó có thể điều khiển mục đích doanh nghiệp theo định hướng nhất định. Định nghĩa này cũng áp dụng được trong lĩnh vực ngân hàng. Để thấy rõ vai trò tích cực hay tiêu cực của cấu trúc sở hữu nhà nước, nhiều nghiên cứu trước đây so sánh vai trò của sở hữu nhà nước với sở hữu tư nhân, từ đó làm nổi bật lên vai trò của sở hữu nhà nước. Laffont & Tirole (1993); Sappington & Stiglitz (1987) lập luận rằng các doanh nghiệp tư nhân có thể không hiệu quả vì họ chỉ tập trung vào lợi nhuận, và ngược lại doanh nghiệp có vốn nhà nước có thể kiểm soát các quyết định của mình hiệu quả hơn với quan điểm chính trị cởi mở.
Nhiều nghiên cứu khác cũng thể hiện sự ủng hộ đối với cấu trúc sở hữu nhà nước (Grossman & Hart, 1980). Tuy nhiên, Shleifer (1998) chỉ ra rằng sở hữu tư nhân nên được ưu tiên hơn sở hữu nhà nước vì cấu trúc sở hữu tư nhân đem lại các động lực đổi mới và cải tiến hiệu quả hơn về chi phí. Một số nghiên cứu trước đây phát hiện ra rằng các doanh nghiệp nhà nước không phục vụ tốt hơn cho lợi ích công cộng (Grossman & Krueger, 1991) và thường cực kỳ kém hiệu quả (Boycko, Shleifer & Vishny, 1996; Dewenter & Malatesta, 1997). Các quan chức nhà nước thường bị các lợi ích chính trị chi phối nên mục tiêu của họ có thể mâu thuẫn với mục tiêu cải thiện phúc lợi xã hội.
Dewenter & Malatesta (1997) nhận thấy cổ phiếu của các doanh nghiệp nhà nước được chào bán ra công chúng với mức giá thấp hơn đáng kể so với cổ phiếu của các doanh nghiệp tư nhân tương đồng, điều đó dường như để phục vụ cho các mục tiêu chính trị khác nhau của các quan chức chính phủ hơn là tối đa hóa phúc lợi xã hội. Doanh nghiệp sở hữu Nhà nước nói chung và ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước nói riêng, được xem là nhóm riêng biệt do đặc trưng theo đuổi các mục tiêu chính trị, xã 23 hội và thường được nhà nước bù lỗ (Shleifer & Vishny, 1997). Việc nghiên cứu cấu trúc sở hữu tại các quốc gia khác nhau đưa lại những kết quả khác nhau, đặc biệt là tại các quốc gia đang phát triển có sự tham gia của sở hữu nhà nước như Đông Âu, Trung Quốc, Việt Nam với những đặc thù riêng. Sở hữu nhà nước tại những quốc gia này thường chiếm tỷ lệ cao sau khi chuyển đổi kinh tế từ nền kinh tế tập trung (Hue & Lam, 2017).
Doanh nghiệp có cấu trúc sở hữu tư nhân được sở hữu bởi các cá nhân hoặc các tổ chức tư nhân (không phải nhà nước hoặc các tổ chức thuộc nhà nước). Sự xuất hiện của các doanh nghiệp này ở các quốc gia mới nổi gắn liền với hoạt động tư nhân hóa các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước sau các cuộc khủng hoảng. Tư nhân hóa là cách thức để giảm tỷ lệ sở hữu vốn của nhà nước, thường xảy ra ở một số lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế như dịch vụ, viễn thông và ngân hàng. Hoạt động này ngầm chứng minh sự yếu kém và bất ổn tài chính của các doanh nghiệp nhà nước nói chung và các ngân hàng nhà nước nói riêng (Andrews, 2005).
Sự thành công của quá trình tư nhân hóa phụ thuộc vào các vấn đề quản trị nội tại của ngân hàng có được giải quyết sau tư nhân hóa hay không. Việc tư nhân hóa làm giảm đi sự cản trở của chính phủ vốn tồn tại trong các ngân hàng có vốn nhà nước chiếm đại đa số. Điều đáng lưu ý rằng nếu chính phủ còn giữ lại một phần vốn sau tư nhân hóa, hiệu quả hoạt động của các ngân hàng sẽ xấu đi (Bonin & Wachtel, 1999). Nhiều nghiên cứu đưa ra quan điểm rằng các doanh nghiệp có cấu trúc sở hữu tư nhân hoạt động hiệu quả hơn doanh nghiệp có cấu trúc sở hữu nhà nước nhờ giải quyết được vấn đề chủ sở hữu - người đại diện thông qua một hệ thống quản lý tốt hơn.
Cấu trúc sở hữu tư nhân thắt chặt các ràng buộc về ngân sách nên người quản lý chịu áp lực cải thiện hiệu quả hoạt động nhằm làm hài lòng các cổ đông hiện tại và thu hút thêm các nhà đầu tư tiềm năng. Đồng thời, các cổ đông được kỳ vọng sẽ thực hiện việc kiểm soát hoạt động quản trị chặt chẽ hơn nhằm đảm bảo hiệu quả của lượng vốn đầu tư mà họ bỏ ra (Clarke, Cull & Shirley (2005). Ở một khía cạnh khác, một doanh nghiệp (ngân hàng) được xem là thuộc sở hữu nước ngoài thường khi có 100% vốn chủ sở hữu từ các tổ chức nước ngoài, hoặc các doanh nghiệp nước ngoài. Khi các công ty đa quốc gia đầu tư vốn thành lập các công ty con hoặc chi nhánh (100% vốn hoặc liên doanh) tại một quốc gia khác ngoài quốc gia 24 sở tại (nơi đặt trụ sở chính) thì các công ty con hoặc chi nhánh này được xem là một doanh nghiệp có cấu trúc sở hữu nước ngoài (Weill, 2003).
Các ngân hàng nước ngoài tương đối giống các ngân hàng trong nước về các ưu đãi dòng tiền và quy định khác nhau về cơ cấu tổ chức. Ngân hàng nước ngoài thường có cấu trúc đa cấp hơn, với quản lý cấp cao từ các quốc gia khác. Các ngân hàng nước ngoài tồn tại song song với các ngân hàng trong nước giúp cho hệ thống ngân hàng lành mạnh và phát triển hơn thông qua cơ chế cạnh tranh các sản phẩm và dịch vụ trong hoạt động của ngân hàng. Do hạn chế về mặt dữ liệu và kết quả hoạt động của các ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam không nổi bật nên Luận án chỉ tập trung nghiên cứu cấu trúc sở hữu nhà nước và cấu trúc sở hữu tư nhân.2 Phân loại cấu trúc sở hữu theo mức độ tập trung Trong nhiều nghiên cứu về cấu trúc sở hữu trước đây, các tác giả thường quan tâm đến mức độ phân tán về sở hữu vốn của các cổ đông và quyền lực của nhà quản lý trong doanh nghiệp.
Theo đó, cấu trúc sở hữu có thể được chia thành cấu trúc sở hữu tập trung và cấu trúc sở hữu phân tán (Fazlzadeh, Hendi & Mahboubi, 2011). Cấu trúc sở hữu tập trung có nghĩa là cả quyền sở hữu và kiểm soát công ty tập trung vào một hoặc một số cá nhân, gia đình, ban quản lý. Cấu trúc phân tán là nhiều cổ đông, mỗi cổ đông sở hữu một số cổ phần doanh nghiệp, quyền kiểm soát hoạt động công ty do ban giám đốc nắm giữ (Hanafi, M.