CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THẺ TÍN DỤNG QUỐC TẾ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái quát về thẻ tín dụng quốc tế của ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm Hiện tại có rất nhiều khái niệm về thẻ ngân hàng và thẻ tín dụng nói chung cụ thể như một số quan điểm như sau: Theo Nguyễn Thị Mùi (2008): “Thẻ ngân hàng là phương tiện do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản được các bênthoả thuận. Thẻ ngân hàng được hiểu như một phương tiện thanh toán được sửdụng để thực hiện dịch vụ thanh toán qua ngân hàng bên cạnh các phương tiện thanh toán khác như tiền mặt, séc, lệnh chi (ủy nhiệm chi), ủy nhiệm thu”. Theo tác giả Nguyễn Văn Tiến (2013 đã định nghĩa: “Thẻ ngân hàng là một phương tiện thanh toán hiện đại thay thế cho sử dụng tiền mặt, do ngân hàng hoặc các tổ chức tài chính phát hành và cấp cho khách hàng sử dụng để có thể thực hiện các dịch vụ do ngân hàng cung cấp như vấn tin số dư tài khoản, rút tiền hay thực hiện giao dịch thanh toán hóa đơn hàng hóa dịch vụ”. Cũng theo các giáo trình trên và thực trạng hoạt động thẻ tại ngân hàng thương mại, có thể thấy thẻ được phân biệt thành các loại như thẻ ghi nợ, thẻ trả trước hay thẻ tín dụng.
Trong đó, theo tác giả Trần Hoàng Ngân (2021) “Thẻ tín dụng (Credit card) là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được cấp theo thoả thuận với tổ chức phát hành thẻ”. Từ các khái niệm trên, theo quan điểm của đề án: “Thẻ tín dụng quốc tế là loại thẻ được phát hành từ sự kết hợp giữa ngân hàng và tổ chức thẻ quốc tế, cho phép người dùng thanh toán bằng hình thức chi tiêu trước và trả tiền sau. Thẻ được chấp nhận ở mọi quốc gia trên thế giới.” Có thể thấy nếu như thẻ ghi nợ hiện đang hỗ trợ giao dịch thực hiện trong phạm vi số dư tài khoản thì thẻ tín dụng quốc tế khác biệt ở chỗ có thể cho phép khách hàng giao dịch với hạn mức tín dụng được ngân hàng cấp dựa trên tín chấp hay thế chấp (tài sản ký quỹ, đảm bảo). Khách hàng sau đó sẽ thanh toán lại cho ngân 5 hàng các khoản tiền đã thực hiện giao dịch khi đến hạn và sẽ được miễn lãi tối đa lên đến 45 ngày.
Khách hàng dễ dàng sử dụng thẻ tín dụng quốc để thanh toán trực tiếp, trực tuyến ở trong nước và ngoài nước mà không bị hạn chế về phạm vi lãnh thổ. Hiện nay, các Ngân hàng đã tập trung phát triển các kênh thanh toán di động ngay như Apple Pay/ Google Pay/ Garmin Pay) để hỗ trợ khách hàng đa dạng hơn trong kênh thanh toán, mang đến nhiều tiện ích cho khách hàng khi sử dụng thẻ. Tính bảo mật của thẻ tín dụng quốc tế cũng luôn được đề cao khi các Ngân hàng liên tục có những công nghệ mới ứng dụng để phát hành thẻ, tăng cường đánh giá, phòng ngừa rủi ro và đưa ra cảnh báo kịp thời đến khách hàng khi có những nguy cơ không bảo mật xuất hiện.2 Đặc điểm Trên thị trường hiện nay, thẻ tín dụng nói chung đều theo chuẩn ISO/IEC 7810# ID-1, theo đó chất liệu thẻ được làm bằng nhựa có 3 lớp gồm lớp nhựa trắng cứng là lõi thẻ nằm giữa 2 lớp tráng mỏng, kích thước 85,60 mm x 53,98 x 0,76 mm. Hình ảnh của thẻ tín dụng quốc tế Mặt trước của thẻ thường bao gồm các thành phần chính như sau: Biểu tượng hay huy hiệu của tổ chức thẻ; Thẻ tín dụng quốc tế thường được mang thương hiệu của các tổ chức thẻ quốc tế mà ngân hàng hợp tác cùng để phát hành như Visa, Master hay JCB.
Tên và biểu tượng logo ngân hàng phát hành thẻ; Số thẻ (được ấn định một số riêng biệt để quản lý tùy thuộc quy định của ngân hàng phát hành hoặc của tổ chức thẻ); Họ tên chủ thẻ, thời hạn hiệu lực của thẻđược in nổi. Ngoài ra, mặt trước của thẻ thường có nền thẻ, màu thẻ tùy thuộc vào từng ngân hàng phát hành. Ngân hàng phát hành thường thiết kế nền thẻ và màu thẻ theo từng loại sản phẩm thẻ với đặc điểm riêng nổi bật hướng tới các đối tượng khách hàng khác nhau. Riêng loại thẻ chip thì mặt trước cũng là nơi bố trí chip của thẻ.
6 Mặt sau của thẻ thường bao gồm các thành phần chính như sau: Dải băng từ chứa thông tin đã được mã hóa theo chuẩn như số thẻ, ngày hết hạn, các yếu tố kiểm tra an toàn khác; Ô chữ ký của chủ thẻ với yêu cầu chủ thẻ phải ký vào đấy khi nhận thẻ mới, là cơ sở để đối chiếu với chữ ký trên hóa đơn khi thanh toán hàng hóa, dịch vụ. Ngoài ra, mặt sau của thẻ còn có các yếu tố bảo mật khác như: mã số bảo mật của thẻ CSC (Card Security Code) hay còn gọi là CVV (Card Verification Value) đối với thẻ Visa; hoặc là CVC (Card Validation Code) đối với thẻ Master, các thông tin tham chiếu như số điện thoại của ngân hàng phát hành. Phân loại theo công nghệ sản xuất thẻ Cũng giống như thẻ ngân hàng nói chung, thẻ tín dụng có thể được phân thànhnhiều loại khác nhau theo công nghệ sản xuất: - Thẻ từ (magnetic stripe): là loại thẻ dựa vào công nghệ thư tín với hai hoặcba băng từ chứa thông tin, thường là cố định về tên chủ thẻ và dữ liệu liên quan. - Thẻ chip: là loại thẻ thông minh (smart card), được chế tạo dựa vào trên kỹ thuật vi xử lý tin học với chip điện tử được gắn vào thẻ có cấu trúc như một máytính hoàn hảo, với các dung lượng nhớ khác nhau.
Do loại thẻ này có chip nên ngoàikhả năng lưu trữ số liệu thì còn có thêm tính năng quan trọng là xử lý dữ liệu. - Thẻ không tiếp xúc: là loại thẻ với công nghệ không tiếp xúc (contactless), bao gồm công nghệ chip và ăngten nhận/phát sóng các tín hiệu, cho phép thanh toán với tốc độ cao, không cần tiếp xúc hay quẹt lên thiết bị thanh toán như các loại thẻ thông thường khác. Loại thẻ này phù hợp với các loại hình cần tốc độ thanh toán nhanh như trạm xăng, tàu điện, xe buýt… - Thẻ khắc chữ nổi (embossed card): là loại thẻ ban đầu với công nghệ khắc chữ nổi. Kỹ thuật thô sơ, bảo mật kém và dễ làm giả nên hiện nay ít được sử dụng.
Phân loại theo đối tượng sử dụng - Thẻ tín dụng quốc tế doanh nghiệp: là thẻ tín dụng mà công ty/ doanh nghiệp/ tổ chức dùng thanh toán trong hoạt động kinh doanh của mình nên đứng tên ký hợp đồng phát hành thẻ và ủy quyền cho cá nhân sử dụng, đứng tên trên 7 thẻ (tên trên thẻ có thể là tên của cá nhân được ủy quyền và tên của tổ chức). Mọi thanh toán liên quan tới thẻ đều do công ty thực hiện trực tiếp với ngân hàng. - Thẻ tín dụng quốc tế cá nhân: là thẻ được phát hành với chủ thẻ với tư cách cá nhân, thỏa mãn các điều kiện xin cấp tín dụng, đăng ký phát hành thẻ với ngân hàng. Chủ thẻ chi tiêu và chịu trách nhiệm thanh toán các khoản chi tiêu bằng nguồn tài chính của bản thân.
Chủ thẻ phát hành thẻ cho mình được gọi là thẻ chính, cũng như chủ thẻ có thể yêu cầu ngân hàng phát hành thêm thẻ phụ cho người khác. Phân loại theo hạng thẻ Thẻ tín dụng được các ngân hàng, tham gia các tổ chức thẻ, phân loại theo các hạng thẻ khác nhau để hướng tới các đối tượng khách hàng khác nhau về thu nhập, hạn mức chi tiêu. - Thẻ chuẩn: là hạng thẻ phổ thông, hướng tới đối tượng khách hàng là người dân bình thường với thu nhập vừa phải, nhu cầu sử dụng dịch vụ thanh toán thông thường, hạn mức thanh toán không cao cũng như các mức phí phải chịu liên quantới phát hành thẻ thấp. - Thẻ vàng: là hạng thẻ dành riêng cho các đối tượng thu nhập cao hơn, khả năng tài chính mạnh hơn và nhu cầu chi tiêu lớn hơn, nên cũng yêu cầu hạn mức cao hơn thông thường.
Tuy vậy, đi kèm đấy là các phí liên quan tới thẻ cũng caohơn như phí phát hành, phí thường niên. - Thẻ bạch kim: trước đây, đây là hạng thẻ cao cấp nhất với nhiều ưu đãi dành cho chủ thẻ. Thẻ cũng thường được thiết kế đẹp và đặc biệt, phù hợp với lối sống đẳng cấp và sang trọng dành riêng cho những nhóm khách hàng cao cấp nhất. Phí phát hành và phí thường niên do đó cũng cao hơn các hạng thẻ trên.
Nhưng đi kèm theo đấy, các dịch vụ mua sắm, giải trí như các cửa hàng hàng hiệu đẳng cấp hay đánh golf thường cũng có những ưu đãi chiết khấu cao cho khách hàng khi sử dụng hạng thẻ này thanh toán. - Thẻ Signature, thẻ Infinite: cùng với hạng thẻ bạch kim là những hạng thẻ dành cho những khách hàng VIP nhất. Trong đó các hạng thẻ này xuất hiện sau, hướng tới đối tượng khách hàng cao cấp nhất với hạn mức cao, chi tiêu lớn và đòi hỏi các dịch vụ tiện ích cao cấp kèm theo và các đặc quyền khác biệt. 8 Kèm theo đó, khách hàng sử dụng các hạng thẻ này cũng cần đáp ứng các yêu cầu về mức thu nhập cao, chịu các mức phí liên quan lớn (như phí phát hành và phí thường niên).
Phân loại theo chủ thể phát hành thẻ - Thẻ do ngân hàng phát hành: Là loại thẻ do các ngân hàng đứng ra phát hành. Đây là chủ thể phát hành thẻ tín dụng phổ biến nhất. - Thẻ do tổ chức phi ngân hàng phát hành: Bên cạnh ngân hàng, các tổ chức phi ngân hàng cũng tham gia phát hành thẻ với các thương hiệu nổi tiếng như: Diners Club, Amex… - Thẻ liên kết (thẻ đồng thương hiệu): là sản phẩm của một ngân hàng hay mộttổ chức tài chính kết hợp với bên thứ ba phát hành. Hiện nay, với xu hướng cạnh tranh ngày một cao và nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng, các ngân hàng đang tích cực phát hành các loại thẻ tín dụng đồng thương hiệu.4 Vai trò của thẻ tín dụng quốc tế đối với ngân hàng Thẻ tín dụng quốc tế là phương tiện thanh toán hiện đại, từ khi ra đời đánh dấu sự phát triển vượt bậc của công nghệ trong ngành ngân hàng, mang lại nhiều tính năng, lợi ích cho các chủ thể tham gia.