mở đầu cho hình thức thanh toán không dùng tiền mặt tức là người thanh toán không phải mang đi, mang lại một lượng lớn tiền mặt, hoặc phải đến ngân hang dé lấy tiền mà chi cần viết giấy chi trả cho khách, khách hang mang giấy đến ngân hang sẽ nhận được tiền. Các tiện ích của thanh toán không dùng tiền mặt như an toàn, nhanh chóng, chính xác, tiết kiệm chi phi đã góp phan rút ngắn thời gian kinh doanh và nâng cao thu nhập. Điều này đã khuyến khích khách hàng gửi tiền vào ngân hàng dé nhờ ngân hàng thanh toán hộ, do đó qui mô thanh toán trực tiếp ngày càng bị thu hẹp. Hệ thống các phương tiện hỗ trợ dịch vụ thanh toán tại NHTM NHTM thực hiện quá cung cấp dịch vụ thanh toán thông qua các phương tiện thanh toán theo một hay một sỐ phương thức thanh toán nhất định.
Các phương tiện thanh toán: > Tién mặt: Tiền là phương tiện thanh toán co bản nhất. Nó ra đời là một tất yếu của sự phát triển kinh tế xã hội nhân loại. Tiền với cách hiểu chung nhất là bat cứ cái gì được chấp nhận trong thanh toán dé lấy hàng hóa hoặc trong việc hoàn trả các khoản nợ. Tiền là một phương tiện thanh toán có ba chức năng: - Phương tiện tính toán — một công cụ đo lường được thống nhất chung, dùng dé thể hiện mức giá của hàng hóa va dich vụ.
- Phương tiện tích lity: day là chức năng duy tri sức mua trong những khoảng thời gian dai, cho phép người dân tiết kiệm và bằng cách đó có thé dùng khoản tiền tiết kiệm này để chỉ tiêu về sau. - Phương tiện thanh toán: tiền có thé dé dàng chuyên từ người này sang người khác dé đồi lấy hàng hóa hay dich vụ. Trong phạm vi nghiên cứu, tiền được hiểu là tiền pháp định, do chính phủ các nước phát hành và quản lý, tồn tại nhờ vào sắc lệnh hay quy định của chính phủ. > Sóc (Cheque, check) Séc là một phương tiện thanh toán, xuất hiện từ lâu và được sử dụng rất phô biến trên thế giới.
Séc có giá trị thanh toán trực tiếp như tiền tệ, cho nên Séc phải có những quy định về nội dung và hình thức theo luật định. Năm 1931, nhiều nước Tư bản chủ nghĩa như: Đức, Pháp, Ý, Đan Mạch, Hà Lan, Na Uy, Thuy Điển, Áo, Bồ Dao Nha đã họp tại Geneva để ký một công ước quốc tế về Séc. Theo đó, Séc được định nghĩa như sau: “Séc là một mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện do một khách hàng ký phát, ra lệnh cho ngân hàng phục vụ trích một số tiền nhất định từ tài khoản của mình để trả cho người thụ hưởng có tên trên séc hoặc cho người câm séc”. Theo Luật các công cụ chuyên nhượng của Việt Nam năm 2005: Séc là giấy tờ có giá do người ký phát lập lệnh cho người bị ký phát là ngân hàng hoặc tổ chức cung ứng dich vụ thanh toán được phép của Ngân hàng Nha nước Việt Nam trích một số tiền nhất định từ tài khoản của mình dé thanh toán cho người thụ hưởng.
> Ủy nhiệm chi (hoặc lệnh chi) Ủy nhiệm chi (hoặc lệnh chi) là phương tiện thanh toán mà người trả tiền lập lệnh thanh toán theo mẫu do ngân hàng hoặc tô chức cung ứng dịch vụ thanh toán quy định, gửi cho ngân hàng hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán nơi mình mở tài khoản yêu cầu trích một số tiền nhất định trên tài khoản của mình dé trả cho người thụ hưởng. > Ủy nhiệm thu Ủy nhiệm thu là phương tiện thanh toán mà người thụ hưởng lập lệnh thanh toán theo mẫu do ngân hàng hoặc tô chức cung ứng dich vụ thanh toán quy định, gửi cho ngân hàng hoặc tô chức cung ứng dịch vụ thanh toán ủy thác thu hộ mình một số tiền nhất định. > Thẻ thanh toán Thẻ thanh toán là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt do ngân hàng hoặc tô chức tài chính phát hành, cung cấp cho khách hàng và được sử dụng để rút tiền mặt tại các ngân hàng đại lý, máy rút tiền tự động ATM hoặc thanh toán tiền hàng hóa tại các cơ sở chấp nhận thẻ (Merchant) trong phạm vi số dư tài khoản tiền gửi, hạn mức tín dụng được ký kết giữa ngân hàng phát hành và chủ thẻ. Thẻ thanh toán là một phương tiện thanh toán hiện đại vì nó gan lién voi kỹ thuật tin hoc ứng dung trong ngân hàng.
Theo tính chất thanh toán của thé, người ta phân loại thành 2 loại: thẻ ghi nợ và thẻ tín dụng. - Thẻ ghi nợ (Debit Card): đây là loại thẻ có quan hệ trực tiếp và gắn liền với tài khoản tiền gửi của chủ thẻ mở tại ngân hàng. Khi sử dụng loại thẻ này dé thanh toán hàng hoá, dịch vụ hoặc rút tiền mặt thì giá trị của những giao dịch này sẽ được trừ ngay vào tài khoản tiền gửi của chủ thẻ. Việc chỉ tiêu của loại thẻ này dựa trên cơ sở số dư có trong tài khoản tiền gửi thanh toán.
- Thẻ tin dung (Credit card): là loại thẻ ngân hàng cung cấp cho khách hàng một hạn mức nhất định trên cơ sở số tiền kí quỹ, thế chấp, khả năng tải chính, uy tín của khách hàng đối với ngân hàng. Khách hàng chỉ được phép chi tiêu trên hạn mức được cấp. Thẻ tín dụng là loại thẻ có hạn mức tín dụng tuần hoàn. Khi phát sinh giao dịch thanh toán, khách hàng sử sụng thẻ để thanh toán, đến kì hạn trả nợ miễn là khách hàng thanh toán đầy đủ số tiền đã chi tiêu thì sẽ được sử dụng lại han mức chi tiêu của thẻ đó cho các giao dịch thanh toán phát sinh tiếp theo.
> Thu tin dụng Thư tin dung là văn ban pháp lý trong đó ngân hang nơi mở thu tin dung cam kết trả tiền cho bên bán nếu bên bán thực hiện đúng và đầy đủ những qui định theo thư tín dụng. Thư tín dụng được mở trên cơ sở hợp đồng kinh tế hay đơn đặt hàng hai bên đã kí kết. Muốn được mở thư tín dụng người mua phải lưu kí tiền của mình vào tải khoản đảm bảo thanh toán tại ngân hàng. Căn cứ vào thư tín dụng được bên mua mở, bên bán giao hàng cho bên mua.
Sau đó bên bán lập bộ chứng từ thanh toán theo qui định trong thư tín dụng nộp vào ngân hang. Bộ chứng từ này sẽ được chuyên cho ngân hàng bên mua dé đòi tiền và ngân hàng sẽ thanh toán cho người được hưởng nếu thư tín dụng không có sai sót. Vì vậy, hình thức này có độ an toàn, chuẩn xác cao và được dùng phô biến trong thanh toán quốc tế. 10 > Hoi phiếu La mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện do một người kí phát cho người khác, yêu cầu người này khi nhìn thấy phiếu hoặc đến một ngày cụ thể nhất định tiễn hành chi trả theo lệnh.
Theo Luật các công cụ chuyển nhượng năm 2005 của Việt Nam, hối phiếu được chia là hai loại: hối phiếu đòi nợ và hối phiếu nhận nợ. - Hoi phiếu doi nợ là giay tờ có giá do người ký phát lập, yêu cầu người bị ký phát thanh toán không điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời điểm nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng. - Hồi phiếu nhận nợ là giẫy tờ co giá do người phát hành lập, cam kết thanh toán không điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời điểm nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng. Hệ thống thanh toán ngân hàng Hệ thống thanh toán ngân hàng là hệ thống được tổ chức theo quy tắc, điều kiện và tiêu chuẩn chung về thanh toán trên cơ sở thỏa thuận hoặc quy định giữa tô chức cung ứng dịch vụ thanh toán chủ trì hệ thống và các thành viên trực tiếp nhằm thực hiện việc chuyển giao và quyết toán các nghĩa vụ thanh toán giữa các thành viên.
Hệ thống thanh toán là yếu tố vô cùng quan trọng để tạo ra chất lượng dịch vụ cho mỗi đơn vị thanh toán trong đó. Nó liên kết các ngân hàng hoặc các đơn vi nội bộ một ngân hang trong việc thực hiện thanh toán. Hiện nay ở Việt Nam, ton tại 5 hệ thống thanh toán: > Hệ thông thanh toán điện tử liên ngân hàng (TTĐTLNH): được thiết kế theo giải pháp tập trung hoá tài khoản, mỗi ngân hàng thành viên chỉ mở và sử dụng một tài khoản duy nhất tại NHNN. Đây là hệ thong thanh toan được thiết kế hiện đại nhất Việt Nam, dat tiêu chuẩn kỹ thuật và chuẩn mực lãi quốc tế.
Hệ thống TTDTLNH giữ vai trò là hệ thống thanh toán xương sống của quốc gia, góp phần đắc lực cho sự phát triển kinh tế đất nước, thể hiện trên nhiều phương diện: - Thứ nhất, mang lại lợi ích cho nền kinh tế phát triển nhanh và giao thương quốc tế; - Thứ hai, giúp cho các tô chức tín dụng sử dụng hiệu quả cao nhất vốn khả dụng của mình thông qua hệ thống tài khoản tập trung tại NHNN; - Thứ ba, nâng cao chất lượng thông tin, chính xác, kịp thời cho quản lý, điều hành chính sách tiền tệ của NHNN; và cơ hội mở rộng các dịch vụ ngân hàng hiện đại, là chìa khoá để thay đổi tư duy kinh doanh ngân hàng truyền thống, tạo thuận lợi cao nhất cho mọi đối tượng khách hàng. > Hệ thong chuyển tiên điện tử (CTĐT) liên ngân hàng: do NHNN tự xây dựng va vận hành trước khi có hệ thống TTDTLNH. Đây là hệ thống chuyên tiền điện tử trong nội bộ NHNN, được thiết kế theo giải pháp tải khoản phân tán, nghĩa là mỗi chi nhánh của các NHTM tham gia hệ thống này bắt buộc phải mở một tài khoản thanh toán tại chi nhánh NHNN cùng địa ban. > Hệ thống thanh toán bù trừ (TTBT) tai tinh, thành phố: do chi nhánh NHNN tỉnh, thành phố chủ trì.
Hệ thống này đang hoạt động ở hai cấp độ kỹ thuật khác nhau. Đa số các tỉnh, thành phố thực hiện chuyên lệnh thanh toán băng các thiết bị điện tử (bù trừ điện tử), số tỉnh còn lại vẫn thực hiện bù trừ giấy theo phương pháp thủ công, hai phiên giao dịch một ngày. Phần lớn các lệnh thanh toán được bù trừ trong địa bản. Những khoản thanh toán ngoài địa bàn sẽ phải chuyên qua hệ thống CTĐT để thực hiện (ba hệ thống trên do NHNN quản lí và điều hành).