Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài nghiên cứu Chương 2: Khung lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Báo cáo kết quả, đánh giá nhận xét Chương 5: Kết luận, đề xuất giải pháp giúp nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng định hướng nghiên cứu tương lai. KHUNG LÝ THUYẾT VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 2.1 Tổng quan về Ngân hàng số Theo (Sharma G. , 2017) Ngân hàng số (Digital Banking) là mô ̣t hình thức ngân hàng số hóa tấ t cả những hoa ̣t đô ̣ng và dich ̣ vu ̣ ngân hàng truyề n thố ng. Nói cách khác, tấ t cả những gì khách hàng có thể thực hiện ở các chi nhánh ngân hàng truyền thống đươc̣ số hóa và tích hơp̣ vào mô ̣t ứng du ̣ng ngân hàng số duy nhấ t, và thông qua ứng dụng này khách hàng không cần phải đến chi nhánh ngân hàng mà vẫn có thể thực hiện được tất cả các giao dịch, đồng thời các hoạt động của ngân hàng như quản lý rủi ro, nguồn vốn, phát triển sản phẩm, marketing, quản lý bán hàng… cũng được số hóa.
Trong khi E-banking là hệ thống dịch vụ ngân hàng điện tử (bao gồm các dịch vụ như Internet Banking, SMS Banking, Mobile Banking) được tạo ra để bổ sung cho các dịch vụ trên nền tảng ngân hàng truyền thống (digital out) thì Digital Banking là một loại hình ngân hàng kỹ thuật số có đầy đủ chức năng của một ngân hàng, từ cơ cấu tổ chức đến quy trình làm việc, sản phẩm dịch vụ, chứng từ và phương thức giao dịch với khách hàng (bao gồm cả digital in và digital out). Ngân hàng số là đòi hỏi cao về công nghệ bao gồm sự đổi mới trong dịch vụ tài chính cho khách hàng xung quanh các chiến lược về ứng dụng kỹ thuật số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), thanh toán, RegTech, dữ liệu lớn, công nghê ̣ chuỗi khố i (blockchain), API, kênh phân phối và công nghệ (American banker, 2018). Viê ̣c phát triể n ngân hàng số giúp các ngân hàng tiế t kiê ̣m chi phí, tăng khả năng ca ̣nh tranh, nâng cao tính tuân thủ và minh ba ̣ch trong hoa ̣t đô ̣ng kinh doanh. Đố i với khách hàng, ngân hàng số giúp ̣ vu ̣ ngân hàng thuâ ̣n tiê ̣n, an toàn với tiê ̣n ích tố i đa, tiế t kiê ̣m khách hàng sử du ̣ng dich chi phí và nâng cao hiê ̣u quả sử du ̣ng tài chính, hỗ trơ ̣ phát triể n kinh doanh trực tuyế n (Trị, 2021).
Ở Việt Nam, theo Chỉ thị số 02/CT-NHNN ngày 13/01/2022 về việc đẩy mạnh chuyển đổi số, đảm bảo an ninh, an toàn thông tin trong hoạt động ngân hàng, theo đó các ngân hàng thương mại đã thực hiện đẩy mạnh chuyển đổi số các sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng. Bên cạnh đó, công nghệ AI đang phát triển với tốc độ nhanh chóng (Sahdev, Singh, Kaur, & Siddiqui, 2021) và đang được áp dụng đầu tiên trong lĩnh vực ngân hàng (Vijai, 2019), nhờ đó giúp ngân hàng đạt hiệu quả cao trong việc thu hút cũng như làm hài lòng khách hàng sử dụng dịch vụ. Theo số liệu được công bố của Vụ Thanh toán - NHNN Việt Nam (Phụ lục 1), khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng thông qua các kênh thanh toán internetbanking và mobile banking có sự tăng trưởng rất lớn. Cụ thể, số lượng giao dịch trên kênh internet banking quý III năm 2023 tăng gần 379% so với năm 2021 và giá trị giao dịch 6 tăng hơn 1.717 tỷ đồng lên 14.
So với quý I năm 2021 số lượng giao dịch trên kênh mobile banking quý III năm 2023 tăng mạnh lên đến 518% với 2.955 giao dịch, giá trị giao dịch cũng tăng hơn 297% từ 4.883 tỷ đồng tới 13. Đây là kết quả của quá trình chuyển đổi số ngân hàng đã làm thay đổi hành vi sử dụng dịch vụ ngân hàng của khách hàng, góp phần đẩy nhanh quá trình số hóa ngân hàng. Covid-19 là một cú sốc khiến số hóa trở thành vấn đề chiến lược đòi hỏi sự thay đổi cấp bách trong nhiều yếu tố kinh doanh của ngân hàng như quan hệ khách hàng, kênh truyền thông, phân bổ nguồn lực, quan hệ đối tác và tài chính. Hơn nữa, nó đã kích thích việc xác định lại đề xuất giá trị và sự hợp tác/tương tác giữa tất cả các tổ chức tài chính thông qua nền tảng kỹ thuật số.
Trong thời gian áp dụng lệnh phong tỏa toàn quốc kể từ khi bắt đầu xảy ra đại dịch Covid-19 vào tháng 1 năm 2020, khách hàng ở Việt Nam đã có những trải nghiệm khác với ngân hàng số khi không có phương thức thanh toán thay thế nào khác (Hải, 2022). Sau đại dịch Covid-19, người dân bắt đầu thích ứng với các xu hướng của nền kinh tế kỹ thuật số và thanh toán kỹ thuật số. Theo các chuyên gia, đại dịch đã đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số toàn cầu lên 3 – 5 năm, khiến hậu Covid-19 trở thành thời kỳ bùng nổ cho ngành Fintech. Cuộc khảo sát gần đây được thực hiện bởi “gã khổng lồ” thanh toán kỹ thuật số VISA chỉ ra, 65% người Việt Nam đang mang ít tiền mặt hơn trong ví và 1/3 nói rằng họ sẽ ngừng sử dụng tiền mặt sau đại dịch.
Gần 76% người tiêu dùng hiện nay sử dụng ví di động và thậm chí nhiều hơn (82%) sử dụng thẻ.2 Khung lý thuyết về chấp nhận sử dụng Chấp nhận sử dụng là việc chấp nhận và tiếp tục sử dụng sản phẩm, dịch vụ hay ý tưởng. Theo (Rogers & Shoemaker, 1971), người tiêu dùng đi qua “một quá trình nhận thức, thuyết phục, quyết định và xác nhận” trước khi họ sẵn sàng để chấp nhận sử dụng một sản phẩm hoặc dịch vụ. Như vậy, có thể định nghĩa chấp nhận sử dụng dịch vụ Ngân hàng số là việc người tiêu dùng chấp nhận và tiếp tục sử dụng dịch vụ Ngân hàng số. Bằng việc xem dịch vụ Ngân hàng số là một bước tiến công nghệ mới, những nghiên cứu về chấp nhận công nghệ mới có thể được áp dụng để nghiên cứu trong đề tài này (Ha Nam Khanh Giao, 2015).
Một số lý thuyết được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng có thể kể đến là: Lý thuyết hành động hợp lý (TRA - Theory of Reasoned Action) (Ajzen F., 1975); Lý thuyết hành vi dự định TPB (Ajzen & Icek, 1985); 1991); Mô hình chấp nhận công nghệ TAM - Technology Acceptance Model (Davis, 1989), (Davis, 1993); Lý thuyết thống nhất chấp nhận và sử dụng công nghệ mở rộng (UTAUT2 - Unified Theory of Acceptance and Use of Technology 2) (Venkatesh, Thong, & Xu, 2012); Mô hình thành công của 7 hệ thống thông tin (ISSM - Integrating Information System Success Model), (Delone & McLean, 2003).3 Mô hình nghiên cứu đề xuất Trong bài nghiên cứu này, nhóm tác giả nghiên cứu dựa trên Lý thuyết thống nhất chập nhận và sự dụng công nghệ mở rộng (UTAUT2 - Unified Theory of Acceptance and Use of Technology 2) (Venkatesh, Thong, & Xu, 2012) kết hợp với Mô hình thành công của hệ thống thông tin (ISSM - Integrating Information System Success Model) (Delone & McLean, 2003).1 Lý thuyết thống nhất chấp nhận và sử dụng công nghệ mở rộng (UTAUT2) UTAUT được đề xuất và chứng minh nhằm cung cấp nền tảng lý thuyết hợp nhất trên cơ sở tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu chấp nhận và đổi mới hệ thống thống tin (IS)/ công nghệ thông tin (IT). Lý thuyết đề xuất 4 nhân tố chính: hiệu quả kì vọng, nỗ lực kì vọng, ảnh hưởng xã hội và điều kiện thuận lợi – là những nhân tố quyết định trực tiếp đến ý định hành vi IS/IT và hành vi cuối cùng (Venkatesh, Morris, Davis, & Davis, 2003). Lý thuyết giả định rằng ảnh hưởng của các nhân tố chủ đạo được điều hoà bởi giới tính, tuổi, kinh nghiệm và tình nguyện sử dụng. Mô hình UTAUT được xây dựng dựa trên những tranh cãi rằng có rất nhiều ý tưởng của các lý thuyết nền rất giống nhau, vì vậy, sẽ rất hợp lý khi sắp xếp và tổng hợp chúng lại để tạo ra một nền tảng lý thuyết hợp nhất (Venkatesh, Morris, Davis, & Davis, 2003).
Với ý tưởng đó, UTAUT được tạo ra với hy vọng rằng những nghiên cứu trong tương lai sẽ không cần phải nghiên cứu, sưu tầm và tổng hợp các ý tưởng từ một lượng lớn các mô hình khác nhau, thay vào đó, chỉ cần ứng dụng duy nhất UTAUT để giải quyết rất nhiều vấn đề liên quan đến chấp nhận và phổ biến công nghệ.1: UTAUT Lý thuyết đã được hợp nhất vận dụng làm chấp nhậnnền lý thuyết và sử dụng tảng chocông nhiềunghệ UTAUT nghiên cứu, đã có (Venkatesh, Morris, Davis, & Davis, 2003) không ít nghiên cứu mở rộng hoặc tích hợp UTAUT. Có ba loại nghiên cứu mở rộng hoặc tích hợp đã được thực hiện. Một số nghiên cứu vận dụng nguyên bản UTAUT trong 8 ngữ cảnh mới như công nghệ hợp tác, hệ thống thông tin quản lý (Cheng và cộng sự, 2008), chăm sóc sức khỏe (Yi và cộng sự, 2016). Loại nghiên cứu thứ hai là UTAUT mở rộng bằng cách thêm các nhân tố mới vào mô hình như nhận thức về chi phí, nhận thức về rủi ro (Yu, 2012), yếu tố văn hóa (Yahyaa, 2012).
Loại nghiên cứu thứ ba là tích hợp UTAUT với những mô hình khác như TTF, ITM (Faria, 2012), (Miguel Faria, 2014). Tuy nhiên, với các nghiên cứu khác nhau thì cho thấy sự đóng góp sự hiểu biết về UTAUT trong các bối cảnh là khác nhau. Và ngoài những nhân tố mà (Venkatesh, Morris, Davis, & Davis, 2003), thì các nghiên cứu khác đã kiểm định cho thấy còn những nhân tố khác ảnh hưởng nữa. Các nghiên cứu đã chứng minh 4 nhân tố của UTAUT dự báo ý định và hành vi sử dụng, tuy nhiên cũng có nhiều những nghiên cứu khác đưa ra kết quả ngược lại.
(Kishore, 2006) khi nghiên cứu việc sử dụng Hệ thống cộng động Weblog trực tuyến, đã chỉ ra rằng thang đo của 4 nhân tố chủ đạo của UTAUT gồm hiệu quả kỳ vọng, nỗ lực kỳ vọng, ảnh hưởng xã hội và điều kiện thuận lợi không phải có ý nghĩa dự báo trên tất cả các nhóm nghiên cứu. Chính vì vậy, trong bối cảnh công nghệ thông tin ngày càng phát triển, năm 2012 (Venkatesh, Thong, & Xu, 2012) đã có nghiên cứu mở rộng UTAUT và gọi là UTAUT2. UTAUT ban đầu được phát triển nhằm giải thích cho việc chấp nhận và sử dụng công nghệ của nhân viên là chủ yếu, do vậy sẽ không còn phù hợp với người tiêu dùng nói chung (Stofega, 2009). UTAUT2 đã áp dụng cấu trúc trước đây nhưng thay đổi một số quan hệ hiện có trong cấu trúc ban đầu và bổ sung thêm 3 quan hệ mới là động lực hedonic (Sự vui thích), giá trị chi phí, thói quen.