Đặt vấn đề Cùng với sự phát triển chung của nền kinh tế, thị trường Việt Nam đã mở ra nhiều cơ hội và thách thức cho các TCTD, vì thế TCTD đã không ngừng phát triển, mở rộng thị trường, tăng mạnh tín dụng để nâng cao hiệu quả hoạt động của mình. Tuy nhiên, các TCTD cần phải cân đối giữa lợi nhuận và các rủi ro tiềm ẩn, đó là rủi ro tín dụng, rủi ro nợ xấu … và rủi ro rất quan trọng đối với hoạt động ngân hàng là rủi ro thanh khoản. Ủy ban Basel (2008) định nghĩa rằng: “Rủi ro thanh khoản phát sinh từ việc ngân hàng không có khả năng đáp ứng sự suy giảm trong khoản phải trả hay tài trợ cho việc gia tăng trong tài sản. Khi một ngân hàng thiếu thanh khoản, nó không thể có đủ tiền bằng cách huy động vốn hoặc chuyển đổi các tài sản kịp thời, ở chi phí hợp lý, do đó ảnh hưởng đến lợi nhuận”.
Giai đoạn 2007 - 2012, do có nhiều nguyên nhân, không những từ các nguyên nhân khách quan (là khủng hoảng kinh tế toàn cầu, các yếu tố vĩ mô trong nước) và các yếu tố chủ quan do bản thân các NHTM mong muốn tăng lợi nhuận, đã đẩy mạnh tín dụng mà tăng cường cho vay, không kiểm soát, dẫn đến có thời điểm xuất hiện tình trạng tổng dư nợ cho vay cao hơn cả lượng vốn huy động vào, đồng thời, lãi suất liên ngân hàng tăng cao. Từ các nguyên do này, hệ thống NHTM có lúc đã phải đối mặt với nguy cơ khủng hoảng, căng thẳng thanh khoản cục bộ, có ngân hàng còn phải đối mặt với nguy cơ phá sản. Cùng với nguyên nhân này điển hình là "ba Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn (Saigon Commercial Bank, SCB), Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Tín Nghĩa (TinNghiaBank, TNB) và Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đệ Nhất (Ficombank, FCB) đã có sự lạm dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn nên đã gặp phải những khó khăn về thanh khoản. Cho đến khi nguồn vốn ngắn hạn không còn dồi dào, ba ngân hàng này đã mất khả năng thanh toán tạm thời, vì thế, NHNN chính thức công bố thực hiện hợp nhất ba NHTM này vào năm 2011.
2 Từ năm 2012 đến nay, thanh khoản của hệ thống ngân hàng chưa xảy ra các trường hợp mất kiểm soát thanh khoản cục bộ, tuy nhiên, tình hình thanh khoản của các NHTM cũng không phải là ổn định trong giai đoạn này (giai đoạn 2012 – 2018), có thời điểm thanh khoản dồi dào – nhưng chỉ tập trung ở các NHTM lớn, có thời điểm tình hình thanh khoản lại căng thẳng làm cho bản thân Ngân hàng bị mất một lượng khách hàng không nhỏ, vì không đủ khả năng đáp ứng cho khách hàng, dẫn đến trình trạng phải đi vay liên ngân hàng để cung ứng cho thị trường, chính vì thế đã ảnh hưởng không nhỏ đến lợi nhuận, có thể làm giảm hay mất khả năng chi trả, kiệt quệ năng lực tài chính và thêm phần trầm trọng đến thanh khoản của ngân hàng.2 Tính cấp thiết của đề tài “Rủi ro thanh khoản phát sinh từ việc ngân hàng không có khả năng điều chỉnh giảm các khoản phải trả hoặc tài trợ để gia tăng tài sản có. Khi một ngân hàng bị thiếu hụt thanh khoản, thì nó không có đủ tiền bằng cách tăng huy động vốn hoặc bằng cách chuyển đổi các tài sản kịp thời, với chi phí phù hợp, vì thế ảnh hưởng đến lợi nhuận” (Ủy ban giám sát ngân hàng Basel, 1997). Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng chỉ ra rằng, một trong những nguyên nhân gốc rễ của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007 - 2009 là vấn đề thanh khoản, mà phần lớn bị các quốc gia nói chung và các tổ chức tín dụng nói riêng bỏ qua trong quá khứ. Cuộc khủng hoảng cũng cho thấy, những ngân hàng dựa nhiều vào thị trường tiền tệ ngắn hạn tài trợ cho các tài sản hoạt động của họ có xu hướng bị vấn đề thanh khoản rất lớn.
Rút kinh nghiệm từ cuộc khủng hoảng trên, đa số các ngân hàng thương mại (NHTM) đã quan tâm đến vấn đề thanh khoản vì nó chính là vấn đề sống còn của các ngân hàng. Ngoài ra, thanh khoản của ngân hàng sẽ đối mặt với tình trạng thiếu hụt, ảnh hưởng đến khả năng thanh toán các khoản đến hạn, hoạt động cho vay và tạo lợi nhuận của ngân hàng, bởi vì (i) Sự mất cân đối của kỳ hạn huy động và kỳ hạn cho vay. Nhiều NHTM gặp trường hợp dư thanh khoản cao nhưng vẫn chịu rủi ro thanh khoản cao. Vì thế NHNN đã đưa ra 2 (hai) phương án giảm dần tỉ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn và dài hạn từ mức 40% hiện nay xuống mức 30% vào 3 năm 2021 hoặc 2022, giảm tối đa tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung - dài hạn hàng năm 5%.
Theo phương án 1, tỉ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn và dài hạn theo mức 40% chỉ duy trì đến hết ngày 30-6- 2020, từ ngày 1-7-2020 đến hết ngày 30-6-2021, tỉ lệ này sẽ giảm xuống mức 35%. Nếu theo phương án 2, lộ trình giảm sẽ chia ra thành nhiều giai đoạn, cụ thể sẽ xuống mức 37% từ 1-7-2020 đến hết 30-6-2021, sau đó sẽ về mức 34% từ 1-7- 2021 đến hết ngày 30-6-2022. (ii) Từ năm 2019, NHNN định hướng chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng từ 17% xuống mức 14%, để điều chỉnh phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế nhằm kiểm soát lạm phát (dưới 4%), duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế (GDP 2019 tăng trưởng 6,8%) theo mục tiêu Quốc hội đã đề ra, đồng thời thúc đẩy các ngân hàng cho vay vào các ngành sản xuất và hạn chế cho vay đối với ngành phi sản xuất nhằm kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; ngoài ra, triển khai đồng bộ các giải pháp xử lý nợ xấu còn tồn đọng song song với các biện pháp kiểm soát, giảm tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống. (iii) Hiện tại, theo thông tin công bố trên báo cáo tài chính ngân hàng, hầu hết các ngân hàng đều cải thiện hệ số an toàn tối thiểu CAR trên 9%, tuy nhiên, sự tăng trưởng của hệ thống là không bền vững, bởi vì có các ngân hàng kiểm soát hệ số CAR bằng cách kiểm soát tăng trưởng tín dụng, tích cực phát hành trái phiếu để tăng vốn cấp 2, thậm chí còn hạn chế tăng quy mô tổng tài sản về lâu dài sẽ khiến các ngân hàng mất đi khách hàng và suy giảm lợi thế cạnh tranh, từ đó ảnh hưởng tới lợi nhuận, hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng.
(2015); hay các công trình nghiên cứu trong nước Ths. Hồ Thanh Thủy (2017); Ths. Nguyễn Thu Hiếu (2015), TS. Trương Quang Thông (2013) ….
, Hầu hết các nghiên cứu chưa cập nhật các số liệu đến thời điểm 2018, và chưa có nghiên cứu nào thực hiện đồng 4 thời phương pháp tiếp cận khe hở thanh khoản, phương pháp tiếp cận các chỉ số thanh khoản và trong bối cảnh kinh tế là tăng trưởng kinh tế GDP và chỉ số lạm phát INF. Từ những nguyên nhân trên, tác giả mong muốn tìm hiểu thêm sự tác động của rủi ro tín dụng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng và đi sâu nghiên cứu tại các ngân hàng niêm yết tại Việt Nam, từ đó đề xuất giải pháp, kiến nghị nhằm kiểm soát sự tác động của rủi ro thanh khoản đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại niêm yết tại Việt Nam nói riêng và ngân hàng thương mại tại Việt Nam nói chung, và nghiên cứu này sẽ đóng góp thêm bằng chứng thực nghiệm và cung cấp các thông tin hữu ích về rủi ro thanh khoản tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng. Chính vì lý do này, mà luận văn tiến hành nghiên cứu “RỦI RO THANH KHOẢN TÁC ĐỘNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAM”.3 Mục tiêu nghiên cứu 1.1 Mục tiêu tổng quát: Xem xét và phân tích tác động của rủi ro thanh khoản đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM đã niêm yết, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm mục tiêu giúp cho các NHTM niêm yết tại Việt Nam kiểm soát sự tác động của rủi ro thanh khoản đến hiệu quả hoạt động kinh doanh nhằm đạt được kết quả hoạt động kinh doanh tối ưu.2 Mục tiêu cụ thể - Phân tích, đo lường mức độ tác động của rủi ro thanh khoản đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM niêm yết tại Việt Nam. - Từ kết quả đạt được của nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm kiểm soát rủi ro thanh khoản tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM niêm yết tại Việt Nam.4 Câu hỏi nghiên cứu Nhằm đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, bài nghiên cứu cần làm rõ hai câu hỏi nghiên cứu sau: (i) Rủi ro thanh khoản tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM niêm yết tại Việt Nam như thế nào? (ii) Từ đó, đề xuất giải pháp và kiến nghị nào phù hợp nhằm kiểm soát rủi ro thanh khoản tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM niêm yết tại Việt Nam? 1.5 Đối tượng nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Rủi ro thanh khoản tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM niêm yết tại Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu: Không gian: Do hạn chế trong quá trình thu thập số liệu trong toàn hệ thống ngân hàng nên phạm vi nghiên cứu là nhóm ngân hàng đang được niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam, số liệu hoạt động của các ngân hàng được thu thập chủ yếu từ các báo cáo tài chính được công bố của 14 ngân hàng được niêm yết, trong đó có 09 ngân hàng trên sàn chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) BID , CTG, EXB, HDB, MBB, STB, TCB, VCB, VPB; Có 03 ngân hàng trên sàn chứng khoán Hà Nội (HNX) là ACB, NVB, SHB, và có 02 ngân hàng trên sàn chứng khoán UPCoM là KLB, VIB[1] Thời gian: Từ năm 2007 – 2018, đây là giai đoạn có nhiều NHTM bắt đầu niêm yết chính thức trên sàn chứng khoán như STB, ACB, SHB, VCB, CTG, EIB, NVB, MBB niêm yết trong giai đoạn 2006 – 2011, sau giai đoạn này thì các ngân hàng khác cũng bắt đầu 6 niêm yết như BIDV, VIB, HDB, KLB, TCB, VPB, vì thế số liệu của các báo cáo tài chính thêm minh bạch hơn và tác giả dễ dàng có đủ số liệu tin cậy cho quá trình nghiên cứu.