CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Lý luận chung về cạnh tranh 1.1 Khái niệm về cạnh tranh Cạnh tranh được xem là một trong những đặc trưng cơ bản của kinh tế thị trường, liên quan mật thiết đến sự tồn tại của mỗi doanh nghiệp. Các nhà kinh tế học xác định cạnh tranh là sự ganh đua, tranh đấu giữa các chủ thể sản xuất hoặc/và tiêu dùng trên thị trường nhằm tranh giành những lợi ích kinh tế sao cho có lợi nhất.Porter thì: “Cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có.
Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi”. Từ điển Bách Khoa Việt Nam (tập 1) định nghĩa: “Cạnh tranh trong kinh doanh là một hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất” (Từ điển Bách Khoa tập 1, 1996, trang 482). Tóm lại, khái niệm về cạnh tranh được hiểu là sự ganh đua hợp pháp nhằm đạt đến các mục tiêu cụ thể như thị phần, lợi nhuận, vốn, nhân lực, hay đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh… của nhiều chủ thể cùng tham dự. Bản chất của cạnh tranh ngày nay không phải tiêu diệt đối thủ mà chính là doanh nghiệp phải luôn khai thác tối đa những lợi thế có được để đạt được những cơ hội, những lợi nhuận trên cùng một thị trường với đối thủ, và qua đó khách hàng sẽ có được lợi ích lớn nhất bởi sự cạnh tranh của các doanh nghiệp cùng ngành.
Lợi thế cạnh tranh. Cạnh tranh được xem như một “cuộc chiến” giữa các doanh nghiệp với nhau. Trong cuộc chiến đó, mỗi doanh nghiệp muốn chiến thắng phải có một vài lợi thế 123doc 4 hơn đối thủ. Đó chính là lợi thế cạnh tranh.
Theo Giáo sư Michael E.Porter, lợi thế cạnh tranh là những gì làm cho doanh nghiệp nổi bật hay khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh. Về cơ bản, lợi thế cạnh tranh phát sinh từ các giá trị mà doanh nghiệp có thể tạo ra cho người mua, giá trị này phải lớn hơn các chi phí của doanh nghiệp đã phải bỏ ra. Giá trị là mức mà người mua sẵn lòng thanh toán, và một giá trị cao hơn (superior value) xuất hiện khi doanh nghiệp chào bán các tiện ích tương đương nhưng với mức giá thấp hơn các đối thủ cạnh tranh; hoặc cung cấp các tiện ích độc đáo và người mua vẫn hài lòng với mức giá cao hơn bình thường. Để duy trì lợi thế cạnh tranh, các doanh nghiệp phải có được những lợi thế cạnh tranh ngày càng tinh vi hơn, thông qua những hàng hóa và dịch vụ có chất lượng cao hơn hay sản xuất với năng suất hiệu quả hơn (Michael E.
Khái niệm cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng. Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp đặc biệt, hoạt động kinh doanh của NHTM liên quan mật thiết đến sự phát triển kinh tế chính trị xã hội. Nếu một NHTM bị khó khăn trong kinh doanh, có nguy cơ đổ vỡ thì sẽ có khả năng ảnh hưởng đến cả hệ thống tiền tệ, vì hoạt động kinh doanh tiền tệ vốn có tính nhạy cảm và liên quan mật thiết với nhau. Do đó, bên cạnh những đặc điểm chung cơ bản, cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng còn có những đặc điểm khá khác biệt: Trước hết, cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các biến số vĩ mô, của các chính sách tài chính tiền tệ quốc gia, các chính sách lãi suất, tỷ giá, sự biến thiên của lạm phát, tăng trưởng kinh tế… Đặc biệt, hoạt động của các ngân hàng bị kiểm soát chặt chẽ bởi Chính Phủ và NHNN.
Thông qua các quy định pháp luật về thủ tục cấp giấy phép thành lập ngân hàng mới, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, hạn mức cho vay,… của NHNN làm giảm mức độ cạnh tranh trong ngành ngân hàng và không cho phép các Ngân hàng tự do thôn tính lẫn nhau. Thứ hai, lợi thế cạnh tranh dựa vào sự khác biệt hóa dịch vụ thường không duy trì lâu bằng các ngành khác. Do đặc điểm dịch vụ NH dễ sao chép, nên nếu mỗi NH không ngừng tự đổi mới dịch vụ của mình để tạo ra những điểm khác biệt thì tình khác biệt của dịch vụ sẽ nhanh chóng bị xóa bỏ bởi đối thủ cạnh tranh. 123doc 5 Thứ ba, do đặc điểm hoạt động kinh doanh của ngân hàng dựa trên cơ sở tín nhiệm, nên việc xây dựng thương hiệu và uy tín là những phương thức cạnh tranh hiệu quả.
Thứ tư, cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng thường không có sự cạnh tranh đối lập hoàn toàn. Do sự vận hành, cung ứng sản phẩm ra thị trường, có những sản phẩm phải có sự hỗ trợ của nhiều NH trong hệ thống lại với nhau để cùng thực hiện, hoàn thiện một quy trình, nhằm đáp ứng một nhu cầu dịch vụ tài chính trong nền kinh tế. Năng lực cạnh tranh của NHTM 1. Khái niệm về năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sự thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các nhu cầu của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao, bằng việc sử dụng các nguồn lực bên trong và khai thác các yếu tố tác động bên ngoài để tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Khái niệm về năng lực cạnh tranh của NHTM Theo PGS.TS Nguyễn Thị Quy (2005, trang 29), khái niệm về năng lực cạnh tranh của NHTM là “khả năng NH đó tạo ra, duy trì và phát triển những lợi thế nhằm duy trì và mở rộng thị phần; đạt được mức lợi nhuận cao hơn mức trung bình của ngành và liên tục tăng, đồng thời đảm bảo sự hoạt động an toàn và lành mạnh, có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh”. Các lý thuyết đánh giá năng lực cạnh tranh 1. Lý thuyết đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp theo mô hình của Michael E.Porter là một chuyên gia hàng đầu về chiến lược và chính sách cạnh tranh của thế giới đồng thời là một trong những giáo sư lỗi lạc nhất trong lịch sử của Đại học Harvard. Lý thuyết cạnh tranh của ông hiện được áp dụng rộng rãi trong phân tích và xây dựng chiến lược cạnh tranh, áp dụng ở mọi cấp độ và mọi ngành 123doc 6 nghề, lĩnh vực.
Trong đó, mô hình năm áp lực cạnh tranh là nền tảng trong việc xây dựng lý thuyết này. ĐỐI THỦ TIỀM NĂNG GIA NHẬP THỊ TRƯỜNG Nguy cơ từ những đối thủ mới Năng lực đàm phán CÁC ĐỐI THỦ Năng lực đàm phán của nhà cung cấp TRONG NGÀNH của khách hàng NHÀ CUNG KHÁCH CẤP HÀNG Nguy cơ có đối thủ gia nhập mới Nguy cơ của sản phẩm/ dịch vụ thay thế SẢN PHẨM DỊCH VỤ THAY THẾ Hình 1.1: Mô hình năm nguồn lực cạnh tranh của Michael E.Porter Theo Michael E.Porter, trong bất cứ ngành nghề nào, cho dù là ở phạm vi trong nước hay quốc tế, ngành sản xuất hay dịch vụ, quy luật cạnh tranh thể hiện qua năm nguồn áp lực: sự xuất hiện của các đối thủ cạnh tranh mới, nguy cơ từ sản phẩm/ dịch vụ thay thế, áp lực từ khách hàng, áp lực từ nhà cung cấp, và áp lực từ các đối thủ cạnh tranh hiện tại. Áp lực cạnh tranh từ doanh nghiệp mới gia nhập ngành: Theo Michael E.Porter, những DN mới gia nhập một ngành sẽ mang theo năng lực sản xuất mới, khát vọng chiếm thị phần và thường là nhiều nguồn lực đáng kể. Kết quả là giá cả có thể bị ép xuống hoặc chi phí sẽ bị đội lên, làm giảm lợi nhuận.
Đối thủ tiềm ẩn nhiều hay ít, áp lực của họ tới ngành mạnh hay yếu sẽ phụ thuộc vào các yếu tố sau: Sức hấp dẫn của ngành: Yếu tố này được thể hiện qua các chỉ tiêu như tỷ suất sinh lợi, số lượng khách hàng, số lượng doanh nghiệp trong ngành. 123doc 7 Những rào cản gia nhập ngành: là những yếu tố làm cho việc gia nhập vào một ngành khó khăn và tốn kém hơn. Rào gia nhập của ngành ngân hàng là những yếu tố như tính hiệu quả kinh tế theo quy mô, thương hiệu, quy mô kênh phân phối mà các ngân hàng đã tạo lập, yêu cầu về vốn điều lệ, chính sách của Chính phủ… Áp lực cạnh tranh giữa những đối thủ hiện tại: Các doanh nghiệp đang kinh doanh trong ngành sẽ cạnh tranh trực tiếp với nhau tạo ra sức ép trở lại lên ngành tạo nên một cường độ cạnh tranh. Trong ngành ngân hàng, đối thủ hiện hữu là những NH hiện đang hoạt động.
Sự cạnh tranh giữa các đối thủ này ảnh hưởng trực tiếp đến chiến lược hoạt động kinh doanh NH trong tương lai. Tuy nhiên, sự cạnh tranh này sẽ thúc đẩy ngành phát triển lên tầm cao mới, đồng thời đòi hỏi các NH phải thường xuyên quan tâm đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng các dịch vụ cung ứng để chiến thắng trong cuộc cạnh tranh. Ngoài ra, các công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán, công ty tài chính cũng là những đối thủ hiện hữu của các ngân hàng. Áp lực cạnh tranh từ sản phẩm thay thế: Sản phẩm thay thế là những sản phẩm dịch vụ có chức năng gần giống chức năng của sản phẩm dịch vụ mà ngân hàng đang cung cấp.
Sản phẩm thay thế có tác động mạnh đến vòng đời sản phẩm dịch vụ, đồng thời có ảnh hưởng đến lợi nhuận tiềm ẩn của ngân hàng thông qua việc áp đặt mức giá trần cho sản phẩm dịch vụ. Mối đe dọa của sản phẩm thay thế được đánh giá qua sự đa dạng của sản phẩm thay thế và mức độ đáp ứng các nhu cầu của khách hàng. Nếu chi phí chuyển đổi thấp và dịch vụ thay thế có giá rẻ hơn thì đây thực sự là mối đe dọa nghiêm trọng. Áp lực cạnh tranh từ khách hàng: Đó là việc KH có thể gây sức ép đến doanh nghiệp.
Nếu KH có tác động đủ lớn làm ảnh hưởng đến doanh số và lợi nhuận của doanh nghiệp thì họ nắm giữ quyền lực đáng kể.