Chương 1: Cơ sở lý luận (Khái quát về NHTM, TTCK và vai trò của NHTM Việt Nam trên TTCK). Chương 2: Thực trạng hoạt động của NHTM trên TTCK hiện nay ở Việt Nam. Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của NHTM trên TTCK hiện nay ở Việt Nam. 8 Luan van CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN.
Khái quát về Thị trƣờng Chứng khoán và Ngân hàng Thƣơng mại.1 Thị trường Chứng khoán.1 Khái niệm, đặc điểm Thị trường Chứng khoán. TTCK là một bộ phận cấu thành của thị trường tài chính, là nơi diễn ra các giao dịch mua bán, trao đổi các loại chứng khoán. Về bản chất của TTCK có những điểm đáng chú ý sau: Là nơi tập trung và phân phối các nguồn tiết kiệm; là định chế tài chính trực tiếp, tức là chủ thể cung cầu vốn đầu tư đều tham gia thị trường một cách trực tiếp; là quá trình vận động của tư bản tiền tệ, chuyển tư bản tiền tệ từ tư bản sở hữu sang tư bản chức năng. Hàng hóa trên TTCK đều có tên gọi chung – đó là chứng khoán.
Theo nghị định 144/2003/NĐ-CP, chứng khoán ở đây có thể hiểu là các giấy tờ có giá hay bút toán ghi sổ, xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức phát hành và có thể mua bán, trao đổi, chuyển nhượng. Mặc dù tồn tại dưới nhiều hình thức, nhưng hàng hóa trên TTCK có những đặc điểm cơ bản là: - Là các giấy tờ có giá, tồn tại dưới hình thức chứng chỉ hoạc ghi sổ và có ba thuộc tính là tính sinh lời, tính rủi ro và tính tham khảo. - Xác nhận quyền hợp pháp của sở hữu chứng khoán, bao gồm: Quyền sở hữu (đối với chứng khoán vốn), quyền chủ nợ (đối với chứng khoán nợ), quyền về tài chính có liên quan dến chứng khoán (đối với các chứng khoán phát sinh). - Là công cụ tài chính trung và dài hạn.
- Được pháp luật bảo hộ thông qua luật chứng khoán của TTCK. 9 Luan van TTCK vốn là thị trường có tính công khai và mở đối với mọi thành phần nếu có nhu cầu. Có ba nhóm chủ thể tham gia chính trên thị trường là: chủ thể phát hành, NĐT và các tổ chức hoạt động khác, tất cả đều có mối liên hệ và tác động bổ trợ nhau tạo nên TTCK thống nhất. - Chủ thể phát hành.
Chính phủ: Thông thường Chính phủ phát hành trái phiếu khi có nhu cầu cần huy động vốn để bù đắp bội chi ngân sách, hay tài trợ cho những dự án phát triển kinh tế xã hội của quốc gia và địa phương. Các doanh nghiệp: Thường phát hành cổ phiếu nếu là công ty cổ phần hoặc phát hành trái phiếu công ty. Doanh nghiệp hoạt động trên TTCK không chỉ với mục đích thành lập công ty huy động vốn, cổ phần hóa, lợi nhuận mà còn tham gia mua bán chứng khoán do các công ty khác phát hành nhằm sáp nhập, thủ tiêu hay kiểm soát đối thủ cạnh tranh. NĐT cá nhân: Họ có thể là cá nhân trong hoặc ngoài nước.
Giá trị đầu tư của họ thường không lớn khi tính trên đầu người, nhưng số lượng NĐT trên TTCK chiếm tỷ trọng rất lớn, nên đây là một trong những chủ thể quan trọng của thị trường. NĐT tổ chức: Là các NĐT chuyên nghiệp trên thị trường. Họ thường mua ban chứng khoán với số lượng lớn và thường có uy tín trên thị trường. Đó có thể là các CTCK, Quỹ đầu tư và Công ty quỹ, Tổ chức bảo hiểm và Hiệp hội tiết kiệm.
- Các tổ chức hoạt động khác. Cơ quan quản lý: Thông thường cơ quan quản lý TTCK ở các nước là UBCK, có thể trực thuộc Chính phủ, Quốc hội hay Bộ tài chính tùy vào đặc điểm kinh tế xã hội của mỗi nước. Ngoài ra, việc quản lý thị trường còn được giao cho các tổ chức tụ quản lý như SGDCK, Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán. 10 Luan van Các tổ chức khác: Như Tổ chức định mức tín nhiệm với nhiệm vụ đánh giá, trung tâm thanh toán bù trừ và lưu trữ chứng khoán.2 Chức năng và nguyên tắc hoạt động của Thị trường Chứng khoán.1 Chức năng của Thị trường Chứng khoán.
Là công cụ huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế: Thông qua TTCK, các doanh nghiệp và Chính phủ có thể chủ động huy động vốn trực tiếp bằng việc phát hành chứng khoán. Ngoài ra, TTCK còn là công cụ thu hút vốn đầu tư nước ngoài bên cạnh hình thức phổ biến như liên doanh, đầu tư theo hợp đồng. Như vậy nhờ tính đa dạng, linh hoạt và chi phí thấp của TTCK mà xu hướng huy động vốn qua TTCK ngày càng tăng, đóng góp không nhỏ vào quy mô vốn đầu tư cho nền kinh tế. Là nơi cung cấp môi trường đầu tư cho các NĐT: Hiện nay có hai hình thức đầu tư mà các NĐT thường sử dụng, đó là đầu tư vào tài sản như bất động sản, đá quý và đầu tư tài chính như gửi ngân hàng, mua bán chứng khoán.
Xu hướng của NĐT trong điều kiện kinh tế ngày càng phát triển, là các NĐT thường đầu tư vào tài sản tài chính hơn là đầu tư vào tài sản thực, nhờ tính đa dạng và phong phú của tài sản trên thị trường tài chính, mà đặc biệt là đầu tư trên TTCK. Như vậy, TTCK là nơi cung cấp các cơ hội đầu tư có lựa chọn cho công chúng, tạo điều kiện về vốn cho sự nghiệp phát triển kinh tế quốc gia. Là nơi cung cấp khả năng thanh toán cho chứng khoán: Tính thanh khoản là một trong những yếu tố thúc đẩy sự luân chuyển trên TTCK. Hơn nữa, một chứng khoán chất lượng hay không được thể hiển qua khả năng thanh khoản của nó.
Việc mua bán trên TTCK hàng ngày đã góp phần tạo tính thanh khoản cho chính những loại chứng khoán này ngoài các yếu tố khác chi phối như cung cầu thị trường, thời hạn còn lại của chứng khoán hay các thủ tục, phí liên quan. Có chức năng đánh giá giá trị tài sản của doanh nghiệp và tình hình của bề kinh tế: TTCK là nơi đánh giá và biểu hiện giá trị tìa sản của doanh nghiệp và nền kinh tế một cách nhạy bén, công khai, kịp thời thông qua giá cả chứng khoán và chỉ số chứng khoán. Việc đánh giá này có thể tác động đến hoạt động cảu doanh nghiệp, tâm lý của NĐT qua đó tạo ra môi trường cạnh tranh.2 Nguyên tắc hoạt động của Thị trường Chứng khoán. Nguyên tắc trung gian: Nguyên tắc này đòi hỏi mọi hoạt động mua bán chứng khoán trên TTCK đều phải được thực hiện thông qua môi giới là trung gian.
Trên thị trường sơ cấp việc phát hành chứng khoán ra công chúng thường do các tổ chức trung gian như các NHTM, các CTCK hay Công ty bảo hiểm đảm nhiệm. Còn trên thị trường thứ cấp, thì không thể thiếu các nhà môi giới làm nhiệm vụ này. Nguyên tắc này giúp các NĐT giảm chi phí giao dịch, chi phí thông tin và nâng cao chất lượng dịch vụ. Nguyên tắc công khai: Tất cả các hoạt động có liên quan đến việc phát hành chứng khoán ra công chúng đều phải được công khai.
Đó là những thông tin về các loại chứng khoán, cơ cấu quản trị, tình hình tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh của công ty phát hành chứng khoán, số lượng và giá cả chứng khoán giao dịch cần được công khai. Bên cạnh đó, SGDCK phải công bố đầy đủ các thông tin về giao dịch trên thị trường. Nguyên tắc đấu giá: Giá cả chứng khoán được định ra trên nguyên tắc thị trường. Đó là căn cứ vào sự tác động qua lại của cung và cầu chứng khoán theo nguyên tắc đấu giá giữa lệnh mua và lệnh bán về các nội dung: giá, thời gian nhận lệnh và số lượng chứng khoán cần giao dịch.
Có hai hình thức đấu giá là đấu giá trực tiếp và đấu giá gián tiếp. Nguyên tắc tập trung: Các giao dịch chứng khoán chỉ diễn ra trên sở giao dịch và trên thị trường OTC dưới sự kiểm tra giám sát của cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức tự quản. Nguyên tắc cạnh tranh: Theo nguyên tắc này, giá cả trên TTCK phản ánh mối quan hệ cung cầu về chứng khoán và thể hiện tương quan cạnh tranh giữa các công ty với nhau. Trên TTCK sơ cấp, các nhà phát hành cạnh tranh với nhau để bán chứng khoán theo các mục tiêu của mình cho các NĐT, các NĐT thì được tự do chọn các chứng khoán theo mục đích của mình.
Trên thị trường thứ cấp, các NĐT cũng cạnh tranh tự do để tìm kiếm cho mình một lợi nhuận cao nhất, và giá cả được hình thành theo phương thức đấu giá.2 Ngân hàng Thương mại. Cho đến thời điểm hiện nay có rất nhiều khái niệm về NHTM: - Theo Cục Dự trữ Liên bang (FED) Mỹ: NHTM là một tổ chức tài chính dưới dạng một công ty cổ phần, hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, sẵn sàng cho viêc cho vay. - Đạo Luật Ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: “NHTM là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”. - Theo Luật Ngân hàng Đan Mạch năm 1930 định nghĩa về NHTM: “Những nhà băng thiết yếu gồm các nghiệp vụ ký thác, buôn bán vàng bạc, hành nghề thương mại và hành nghề địa ốc, các phương tiện tín dụng và hối phiếu, thực hiện các nghiệp vụ chuyển ngân, đứng ra bảo hiểm…” - Ở Việt Nam, theo điều 4 Luật Các Tổ chức Tín dụng 2010 quy định NHTM là loại hình Ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng, và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Từ những định nghĩa trên, tóm lại NHTM là một trong những định chế tài chính, mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội.2 Chức năng của Ngân hàng Thương mại. Chức năng trung gian tín dụng: đây được xem là chức năng quan trọng nhất của NHTM, nó quyết định sự duy trì và phát triển của Ngân hàng đồng thời là cơ sở để thực hiện các chức năng sau. Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn.