CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MUA BÁN NỢ VÀ THỊ TRƯỜNG MUA BÁN NỢ 1.Cơ sở lý luận về mua bán nợ 1. Định nghĩa hoạt động mua bán nợ * Theo Từ điển kinh tế (Dictionary of Economic–Christopher Pass & Bryan Lones): Mua bán nợ là một sự dàn xếp tài chính, qua đó một công ty tài chính chuyên nghiệp (công ty mua nợ) mua lại các khoản nợ của một công ty với số tiền ít hơn giá trị của khoản nợ đó. Lợi nhuận phát sinh từ sự chênh lệch giữa tiền thu được của số nợ đã mua và giá mua thực tế của món nợ đó. Lợi ích của công ty bán nợ là nhận được tiền ngay thay vì phải chờ đến lúc con nợ trả nợ, hơn nữa lại tránh được những phiền toái và các chi phí trong việc theo đuổi các con nợ chậm trả.
* Theo Từ điển thuật ngữ Ngân hàng – Hans Klaus: Mua bán nợ là một loại hình tài trợ dưới dạng tín dụng chuyển nhượng nợ. Một công ty chuyển toàn bộ hay một phần khoản nợ cho một công ty tài chính chuyên nghiệp (công ty mua nợ, thông thường là một công ty trực thuộc ngân hàng). Công ty này đảm nhận việc thu các khoản nợ và theo dõi các khoản phải thu để hưởng thủ tục phí và có lúc ứng trước các khoản nợ. * Tiến sĩ kinh tế Edward W.
Reed và Edward K. Gill cho rằng: Mua bán nợ là việc mua lại các khoản nợ. Các công ty mua nợ mua các khoản nợ của khách hàng trên cơ sở không truy đòi và tiến hành một số các dịch vụ khác ngoài việc ứng trước các khoản nợ. Công ty mua nợ đánh giá mức tín dụng trong hiện tại và tương lai của khách hàng (người bán) và xác lập các hạn mức tín dụng ứng trước.
Các khách hàng được yêu cầu gửi trực tiếp cho công ty mua nợ bản sao hoá đơn. Khoản ứng trước thường từ 80% - 90% trị giá hoá đơn. * Định nghĩa về hoạt động mua bán nợ theo Quyết định số 59/2006/QĐ-NHNN ngày21/12/2006 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định như sau: Mua, bán nợ là việc chuyển nhượng khoản nợ, theo đó, bên bán nợ chuyển giao quyền chủ nợ của khoản nợ cho bên mua nợ và nhận thanh toán từ bên mua nợ. 123doc 5 Nói cách khác, hoạt động mua bán nợ là quan hệ hợp đồng mua bán gồm hai chủ thể chính, là bên mua nợ và bên bán nợ.
Đối tượng của Hợp đồng mua bán nợ là các khoản nợ Tổ chức tín dụng đã cho khách hàng vay nay được chuyển quyền chủ nợ từ bên bán nợ sang bên mua nợ. Bên bán nợ nhận thanh toán từ bên mua nợ. Việc bán nợ có thể theo nguyên tắc có truy đòi hoặc không có truy đòi. Quyền đòi nợ sau khi chuyển giao có thể tiếp tục mua đi bán lại trên thị trường hoặc có thể chuyển thành tài sản góp vốn khi thành lập doanh nghiệp hoặc làm tài sản bảo đảm khi thực hiện nghĩa vụ.
Đối với nợ có tài sản bảo đảm, việc chuyển nhượng quyền đòi nợ bao gồm cả chuyển nhượng các quyền, lợi ích gắn với bảo đảm của khoản nợ như quyền phát mại tài sản thế chấp, cầm cố, quyền yêu cầu bên bảo lãnh trả nợ thay… 1.2 Đặc điểm mua bán nợ Các khoản nợ được mua, bán: là khoản nợ ngân hàng hoặc các khoản nợ thương mại, có thể là khoản nợ trong chuẩn hoặc khoản nợ dưới chuẩn. Bên bán nợ là tất cả các cá nhân, tổ chức có nhu cầu bán nợ Bên mua nợ là các tổ chức và cá nhân có nhu cầu mua khoản nợ từ bên bán nợ, để trở thành chủ sở hữu mới của khoản nợ. Bên nợ là các tổ chức, cá nhân có khoản nợ được mua, bán. Bên môi giới là các tổ chức kinh tế, tổ chức tín dụng làm chức năng trung gian, dàn xếp việc mua, bán nợ giữa các bên mua, bán nợ và được hưởng phí dịch vụ môi giới theo thỏa thuận; Giá trị khoản nợ được mua, bán là tổng giá trị nợ gốc, nợ lãi (kể cả lãi phạt) và các chi phí khác liên quan đến khoản nợ (nếu có) tại thời điểm mua, bán nợ.
Giá mua, bán nợ là số tiền bên mua nợ phải thanh toán cho bên bán nợ theo hợp đồng mua, bán nợ. Bán nợ có truy đòi là việc mua, bán nợ mà bên bán nợ cam kết bảo đảm khả năng thanh toán khoản nợ của bên nợ và thỏa thuận với bên mua nợ trong thường hợp bên nợ không trả nợ khi đến hạn thanh toán, thì bên mua nợ có quyền truy đòi thanh toán khoản nợ đối với bên bán nợ, bên bán nợ phải chịu trách nhiệm thanh toán khoản nợ đó cho bên mua nợ. 123doc 6 Hợp đồng mua, bán nợ là văn bản thỏa thuận giữa bên mua nợ, bên bán nợ và các bên có liên quan (nếu có) về việc mua bán nợ, chuyển quyền chủ nợ từ bên bán nợ sang bên mua nợ và các thỏa thuận khác liên quan.2 Cơ sở lý luận về thị trường mua bán nợ 1.1 Thị trường mua bán nợ Thị trường mua bán nợ là nơi diễn ra các hoạt động mua bán các khoản nợ trên thị trường tài chính và được phân ra thành 2 loại như sau: * Thị trường mua bán nợ sơ cấp: là hoạt động mua bán nợ giữa chủ nợ và các nhà đầu tư mua nợ; các bên tham gia gồm có bên bán nợ, khách nợ và bên mua nợ. * Thị trường mua bán nợ thứ cấp: là hoạt động mua bán các khoản nợ giữa các nhà đầu tư trên thị trường; các bên tham gia trên thị trường bao gồm có bên bán nợ, khách nợ, bên mua nợ và các nhà đầu tư mua bán nợ.2 Các bên tham gia mua bán nợ trên thị trường Mua bán nợ là việc chuyển quyền đòi nợ từ chủ thể bán nợ (chủ nợ cũ) sang chủ thể mua nợ (chủ nợ mới).
Công ty mua nợ đảm bảo việc thu nợ, tránh các rủi ro về không trả nợ hoặc không có khả năng trả nợ của khách nợ. Từ đó hình thành một quan hệ tài chính liên quan tới ba bên gồm bên mua nợ, bên bán nợ và khách nợ. Chi tiết các bên tham gia vào hoạt động mua bán nợ gồm: 1.1 Tổ chức tín dụng và Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản *Các tổ chức tín dụng và ngân hàng đầu tư: Hầu hết các Ngân hàng thương mại tham gia bán nợ và một phần mua nợ nhằm tái cơ cấu danh mục đầu tư, tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh. Đặc biệt, khi hoạt động tín dụng của các ngân hàng mang nhiều rủi ro cao, tỷ lệ nợ xấu lớn thì việc phát triển nghiệp vụ mua bán nợ của Ngân hàng thương mại nhằm thu hồi vốn ngay tăng tính thanh khoản, giảm thiểu rủi ro tín dụng.
Trong khi đó, các ngân hàng đầu tư lại là những người mua nợ chủ yếu trên thị trường do có kinh nghiệm và kỹ năng trong ngành tài chính. * Các công ty mua quản lý nợ và khai thác tài sản thuộc TCTD: 123doc 7 Nhằm tái cơ cấu các Ngân hàng, tránh sự sụp đổ của hệ thống Ngân hàng, chính phủ các nước đều cho phép thành lập thêm các công ty mua bán nợ, xử lý nợ nhằm mua lại các khoản nợ xấu của Ngân hàng. Các công ty này có thể trực thuộc Ngân hàng thương mại (tiếp nhận, mua bán nợ từ chính các Ngân hàng thương mại này) hoặc trực thuộc Chính phủ (tiếp nhận, mua bán nợ từ tất cả các Ngân hàng). Việc tạo ra các công ty này nhằm mua bán, xử lý nợ để Ngân hàng có thể tập trung vào hoạt động kinh doanh nòng cốt của mình.
Còn các công ty sau khi mua nợ của Ngân hàng sẽ tập trung vào xử lý khoản nợ thông qua hoàn thiện hồ sơ khoản nợ, bán tài sản bảo đảm, cơ cấu lại nợ hoặc chuyển nợ thành vốn góp hoặc tiếp tục bán lại nợ.2 Các công ty đầu tư, quản lý quỹ Các Công ty này tham gia mua nợ nhằm tái cơ cấu, đánh bóng khoản nợ và tiếp tục bán lại các khoản nợ này một lần nữa. Mặt khác, các công ty đầu tư mua nợ nhằm chuyển thành chủ nợ lớn nhất có tính chi phối tại doanh nghiệp hoặc chuyển nợ thành vốn góp doanh nghiệp.3 Các cá nhân, tổ chức mua nợ Đối với các chủ thể này, việc mua nợ với giá chiết khấu và thu đòi đủ toàn bộ khoản nợ từ khách nợ là hoạt động kinh doanh chính. Đối với các cá nhân tổ chức này, lợi nhuận được hình thành từ phần chênh lệch giữa giá mua nợ và giá trị thu đòi từ khoản nợ. Đây là các công ty có nghiệp vụ thu nợ tốt, có thông tin khách hàng, có kỹ thuật đánh giá khách hàng và đánh giá khoản nợ.
Từ đó, họ có thể đưa ra giá mua khoản nợ đảm bảo khoản nợ có khả năng thu hồi và thu nợ có lợi nhuận.3 Vai trò của hoạt động mua bán nợ đối với thị trường vốn Theo Giáo Sư Peter S.Rose (Mỹ), ảnh hưởng của mua bán nợ đối với thị trường vốn được thể hiện qua sơ đồ sau: Ngân hàng thương mại Thị trường vốn, thị trường tiền tệ Tổng dư nợ tín dụng trên sổ Thu nhập bán nợ Các cá nhân và tổ chức đầu tư sách giảm xuống khi bán nợ các mua khoản nợ hay khoản phải HĐTD. Ngân hàng có thể có Bán các khoản nợ thu từ khoản nợ. thu nhập từ việc bán các khoản hoặc khoản phải thu vay. “Ảnh hưởng của mua bán nợ đối với thị trường vốn” 123doc 8 Như vậy, việc mua bán nợ làm luân chuyển vốn trên thị trường.
Ngân hàng có thể huy động vốn từ thị trường thông qua việc bán các khoản nợ của mình. Các tổ chức mua nợ thì mua các khoản nợ này và coi đó là các khoản đầu tư mới của mình. Nhiều ngân hàng phát triển mảng kinh doanh các khoản nợ thậm chí còn hơn nghiệp vụ cho vay truyền thống. Từ chứng khoán hóa các khoản nợ, các nhà đầu tư chuyển sang mua bán các khoản nợ quốc gia của các nước đang phát triển.
Người mua các khoản nợ này là những công ty, tổ chức đầu tư có kinh nghiệm, am hiểu tình hình phát triển, kinh tế của các nước này. Việc mua các khoản nợ này đều đem lại lợi nhuận lớn do tình hình kinh tế của các nước này hồi phục hoặc do chính phủ các nước này mua lại khoản nợ của họ.