Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý thuyết về cơ chế quản lý vốn tập trung tại ngân hàng thương mại. Chương 3: Thực trạng cơ chế quản lý vốn tập trung tại Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Á. Chương 4: Giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý vốn tập trung tại Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Á.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu Ý nghĩa khoa học: Hệ thống hoá những lý thuyết cơ bản về các cơ chế quản lý vốn hiện nay của các NHTM để làm cơ sở phân tích, so sánh các cơ chế quản lý vốn 123doc 4 mà các NHTM hiện đang áp dụng. Ý nghĩa thực tiễn: Trên cơ sở phân tích thực trạng cơ chế quản lý vốn tập trung tại NH TMCP Nam Á, Tác giả đã đánh giá những kết quả đạt được và những tồn tại trong quá trình triển khai cơ chế tại ngân hàng, từ đó, Tác giả đề xuất những giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý vốn tập trung tại NH TMCP Nam Á.
123doc 5 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ VỐN TẬP TRUNG Trong chương 2, Tác giả sẽ tổng hợp những lý thuyết cơ bản liên quan đến cơ chế quản lý vốn tập trung. Với những lý thuyết cơ sở này, tác giả mong rằng sẽ giúp người đọc có được những kiến thức về các cơ chế quản lý vốn, công tác quản trị nguồn vốn, tầm quan trọng của việc lựa chọn cơ chế quản lý nguồn vốn đối với việc quản trị rủi ro của ngân hàng thương mại.1 Cơ chế quản lý vốn tập trung tại Ngân hàng thương mại 2.1 Sự cần thiết của cơ chế quản lý vốn tập trung Thực tế, mặc dù các NHTM đã thực hiện tốt công tác quản trị tài sản Có, quản trị tài sản Nợ nhưng hoạt động kinh doanh của NHTM vẫn gặp rủi ro. Xảy ra điều này là do tồn tại sự không cân xứng về kỳ hạn giữa tài sản Có và tài sản Nợ của ngân hàng.
Hoạt động quản trị Tài sản – Nợ của NHTM quản trị mối liên kết, mối quan hệ giữa Tài sản – Nợ của ngân hàng, giúp cho NHTM có thể tận dụng sự thay đổi của các điều kiện kinh doanh nhằm tìm kiếm và tối đavề lợi nhuận.Để hoạt động quản trị Tài sản – Nợ đạt hiệu quả, thực hiện được mục tiêu tối đa hóa giá trị ròng của NHTM, các NHTM cần áp dụng cơ chế quản lý vốn tập trung, cơ chế này thông qua hệ thống định giá điều chuyển vốn nội bộ (Funds Transfer Pricing) sẽ là công cụ quản trị tài sản Nợ- Có an toàn, hiệu quả và hiện đại. Một hệ thống định giá điều chuyển vốn nội bộ“ đo lường” giá trị của các sản phẩm được đưa ra bởi một đơn vị lợi nhuận, tới các đơn vị chịu trách nhiệm khác trong một ngân hàng. Chi phí mua, bán vốn nội bộ được đo lường bởi giá chuyển giao được ghi nhận trong doanh thu của đơn vị chịu trách nhiệm đưa ra sản phẩm (giá bán) và chi phí cho các đơn vị kinh doanh chịu trách nhiệm nhận sản phẩm (giá mua).2 Nguyên tắc thực hiện Cơ chế Quản lý vốn tập trung Để xây dựng được một hệ thống định giá vốn điều chuyển nội bộ FTP hiệu quả, ngân hàng phải xây dựng được các nguyên tắc cơ bản. Các nguyên tắc đó phải nhấn mạnh được các đặc trưng cơ bản của hệ thống định giá vốn điều chuyển nội bộ (Lukasz Kugiel ,2009).
Theo Lukasz Kugiel trong Fund Transfer Pricing in a Commercial Bank. MSC in Finance and International Business, có một số nguyên tắc quan trọng mà khi ngân hàng ứng dụng hệ thống định giá vốn điều chuyển nội bộ cần tuân thủ như sau: - Quản lý vốn tập trung và thống nhất: Nguồn vốn phải được quản lý theo nguyên tắc tập trung, toàn ngân hàng có một bảng tổng kết tài sản thống nhất và duy nhất chứ không tồn tại nghiệp vụ cân đối vốn riêng tại từng đơn vị kinh doanh qua cơ chế quản lý vốn tập trung. - Tất cả các mục trong bảng cân đối kế toán đều phải được định giá vốn điều chuyển. Điều này Có nghĩa là, toàn bộ Tài sản có sẽ phải trả chi phí điều chuyển vốn nội bộ và toàn bộ Tài sản nợ và vốn tự có sẽ nhận được thu nhập điều chuyển vốn nội bộ.
- Các mức lãi suất FTP sẽ do bộ phận quản lý vốn tại Hội sở tính toán xác định. Bộ phận quản lý vốn thường hiểu rõ những giá trị thị trường của vốn. Do đó, bộ phận này có trách nhiệm xác định tỷ suất lãi FTP và tỷ suất thu nhập FTP. Việc định giá vốn điều chuyển phải được Ủy ban quản lý Tài sản Nợ - Có rà soát lại định kỳ xem nó có được xác định chính xác hay không.
- Các mức lãi suất FTP áp dụng phải giúp các ngân hàng tránh được rủi ro chênh lệch. Rủi ro chênh lệch phải được định giá tập trung và quản lý bởi bộ phận quản lý vốn. Các bộ phận kinh doanh phải nhận được hoặc trả phần thu nhập FTP / phí FTP phản ánh được giá trị kỳ hạn của vốn. Các mức lãi suất phải được lựa chọn từ đường cong lợi suất FTP để phù hợp với kỳ hạn tái định giá của các Tài sản có bị tính phí hoặc các Tài sản nợ được trả phí và bộ phận quản lý vốn sẽ đưa ra đường cong lợi suất 123doc 7 FTP phù hợp với ngân hàng của mình.3 Ưu điểm và nhược điểm của Cơ chế Quản lý vốn tập trung: Ưu điểm: - Tập trung việc quản lý các rủi ro thanh khoản, rủi ro ngoại hối và rủi ro lãi suất về Hội sở quản lý Rủi ro thanh khoản, rủi ro ngoại hối và rủi ro lãi suất là các rủi ro chính trong hoạt động kinh doanh ngân hàng.
Khi áp dụng cơ chế quản lý vốn phân tán, các ĐVKD tự chịu trách nhiệm về việc quản lý rủi ro trong hoạt động của mình nên sẽ dẫn đến sự phân tán trong chiến lược hoạt động kinh doanh, từ đó Hội sở không kiểm soát được thường xuyên hoạt động của các ĐVKD. Với cơ chế quản lý vốn tập trung, các ĐVKD chỉ tập trung vào công việc kinh doanh, toàn bộ rủi ro nêu trên chuyển về Hội sở chính quản lý. - Hạn chế tình trạng thừa/ thiếu thanh khoản Trong cơ chế quản lý vốn tập trung, mọi giao dịch của ĐVKD đều phải tập trung về Hội sở chính thông qua Trung tâm vốn. Tức là, khi ĐVKD huy động được nguồn tiền gửi thì thực hiện bán toàn bộ về Trung tâm vốn, khi có nhu cầu sử dụng vốn như: thanh toán, đầu tư, cho vay,… ĐVKD thực hiện mua lại vốn từ Trung tâm vốn.
Như vậy, với cơ chế quản lý vốn tập trung, Trung tâm vốn tại Hội sở đóng vai trò điều phối vốn giữa các chi nhánh trong toàn hệ thống một ngân hàng với nhau. Từ đó, các chi nhánh không cần quan tâm đến vấn đề thanh khoản và tình trạng thừa hoặc thiếu thanh khoản tại chi nhánh của mình cũng không còn. - Phương pháp quản lý vốn thống nhất nhưng không can thiệp vào hoạt động kinh doanh cụ thể của từng chi nhánh Điều này thể hiện qua việc Trung tâm vốn Hội sở định một giá điều chuyển vốn thống nhất cho các ĐVKD trong toàn hàng và thực hiện mua-bán vốn nội bộ với các ĐVKD mà không can thiệp cụ thể vào hoạt động cụ thể của từng ĐVKD. - Bộ máy quản lý vốn gọn nhẹ, hiện đại, loại bỏ được một số công tác báo 123doc 8 cáo thủ công Kết quả hoạt động kinh doanh của từng ĐVKD được thực hiện mỗi ngày thông qua hệ thống quản lý báo cáo của cơ chế quản lý vốn tập trung – Hệ thống báo cáo FTP.
Để ứng dụng được cơ chế quản lý vốn tập trung thông qua hệ thống định giá chuyển vốn nội bộ thì ngân hàng cần có hệ thống công nghệ thông tin để vận hành cơ chế thông suốt. Nhược điểm: - Hạn chế thao tác nghiệp vụ tại các chi nhánh: Với Cơ chế quản lý vốn tập trung , tất cả giao dịch về tiền tệ, dịch vụ ngân hàng, quản trị rủi ro được tập trung về Hội sở chính thông qua các Trung tâm. Do đó, trong tương lai, các ĐVKD chỉ đóng vai trò tiếp xúc khách hàng, tiếp nhận nhu cầu khách hàng để tồng hợp, thông tin về Hội sở, nói cách khác thì lúc này các ĐVKD sẽ trở thành kênh truyền dẫn thông tin khách khàng cho Hội sở. Vì vậy, các thao tác nghiệp vụ tại chi nhánh sẽ bị hạn chế dần, làm hạn chế trình độ chuyên môn nghiệp vụ, hạn chế kinh nghiệm thực tiễn, kinh nghiệm chuyên môn của các nhân viên ngân hàng tại ĐVKD.
- Chi phí ứng dụng cao Khi triển khai ứng dụng tại một ngân hàng ,cơ chế quản lý vốn tập trung phải được triển khai đồng bộ đến tất cả các ĐVKD của ngân hàng trên toàn quốc. Đối với những ngân hàng có mạng lưới hoạt động rộng lớn, việc đầu tư cho phát triển công nghệ để ứng dụng cơ chế quản lý vốn tập trung đòi hỏi phải có tiềm lực vốn rất lớn.2 Hệ thống định giá điều chuyển vốn nội bộ (FTP) 2.1 Khái niệm hệ thống định giá điều chuyển vốn nội bộ Định giá điều chuyển vốn nội bộ (còn được gọi là cơ chế FTP) là cơ chế quản lý vốn từ Trung tâm quản lý vốn đặt tại Hội sở chính của ngân hàng. Theo đó, các đơn vị kinh doanh trong ngân hàng thực hiện mua bán vốn với Hội sở chính thông qua trung tâm vốn. Hội sở chính sẽ mua toàn bộ tài sản Nợ của chi nhánh và bán vốn để chi 123doc 9 nhánh sử dụng cho tài sản Có.
Từ đó, thu nhập và chi phí của từng chi nhánh được xác định thông qua chênh lệch mua bán vốn với Hội sở chính. Các rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá được tập trung về Hội sở chính quản lý. Tiền gửi Ngân quỹ TRUNG TÂM MUA- Cho vay Vốn khác BÁN VỐN HỘI SỞ Đầu tư Vốn chủ sở TSCĐ hữu Sơ đồ 2.1 Mô tả cơ chế chuyển giao vốn nội bộ: (Nataliya Pushkina, 2013) Cụ thể theo hình 2.1, tất cả tài sản nợ như: tiền gửi, vốn chủ sở hữu, vốn khác… các ĐVKD sẽ bán về trung tâm vốn, tất cả tài sản có như: ngân quỹ, cho vay, đầu tư, TSCĐ….thì ĐVKD phải mua lại từ trung tâm vốn để sử dụng. Hoạt động mua- bán vốn giữa Trung tâm vốn và ĐVKD sẽ thông qua một hệ thống giá điều chuyển vốn nội bộ.