Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu - Chương 2: Cơ sở lý luận về thị trường tiền tệ - Chương 3: Thực trạng phát triển thị trường tiền tệ Việt Nam trong bối cảnh tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng - Chương 4: Giải pháp phát triển thị trường tiền tệ Việt Nam 9 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nƣớc Về sự phát triển của TTTT: Mối quan hệ tương tác giữa phát triển TTTT với hiệu quả điều hành CSTT của NHTW cũng như vai trò của NHTW trong việc quản lý, phát triển TTTT chưa được đề cập nhiều trong các nghiên cứu. Chủ yếu mới chỉ dừng lại ở việc liệt kê các vai trò chung nhất của NHTW đối với TTTT (Tô Thị Ánh Dương, 2016); hoặc đánh giá vai trò của NHTW trong việc phát triển một thị trường bộ phận trên TTTT như TTTT liên ngân hàng (Trần Thị Thanh Hòa, 2012; Đỗ Văn Độ, 2013). Ngoài ra, cơ chế tác động thông qua lãi suất (là một phần hoạt động trên TTTT) trong điều hành CSTT của NHTW lần đầu được đề cập trong nghiên cứu của Nguyễn Thanh Nhàn (2014).
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Thanh (2008) nhận định phát triển TTTT là giải pháp có tính quyết định trong việc hoàn thiện cơ chế tác động của CSTT; theo đó, việc phát triển TTTT góp phần giảm sự phân tách, luận chuyển vốn trên thị trường nói chung. Cũng có không nhiều nghiên cứu đề cập và phân tích mối quan hệ giữa TTTT với các thị trường khác của hệ thống tài chính. Đến nay, mới chỉ có 2 nghiên cứu đề đến nội dung này (Đặng Thị Nhàn, 2005 và Tô Thị Ánh Dương, 2016). Theo đó, cả hai tác giả đều không đi sâu phân tích mối quan hệ và tác động qua lại giữa TTTT với từng thị trường bộ phân khác trong hệ thống tài chính; tuy nhiên, đều khẳng định có mối quan hệ mật thiết, gắn bó hữu cơ giữa các thị trường và việc xem xét môi quan hệ giữa chúng là cần thiết để đảm bảo sự phát triển hài hòa, ổn định của hệ thống tài chính, qua đó góp phần ổn định kinh tế vĩ mô; đặt nền móng cho những nghiên cứu sâu hơn về sau.
Khá nhiều nghiên cứu đề cập đến các giải pháp phát triển TTTT tại Việt Nam như nghiên cứu của Vũ Thị Kim Liên (1996), Nguyễn Đức Thảo (2004), Ngô Hướng (2005), Đặng Thị Nhàn (2005), Nguyễn Thị Kim Thanh (2008), Nguyễn Thị Thành (2013), Tô Thị Ánh Dương (2016). Tuy nhiên, những nghiên cứu này phần lớn chỉ dừng lại ở việc đưa ra các giải pháp phát triển thị trường tài chính nói chung trong đó có TTTT; hoặc các giải pháp phát triển TTTT nằm trong tổng thể giải pháp của một đối tượng nghiên cứu nhất định (Nguyễn Thị Hồng, 2015; Nguyễn Thị Kim Thanh, 2008; Lê Đình Hợp, 2003; Ngô Hướng, 2005). Chưa có nghiên cứu nào đưa ra được các giải pháp phát triển TTTT dựa trên việc đánh giá tổng thể các tiêu chí 10 và nhân tố ảnh hưởng đển sự phát triển của thị trường; đặc biệt xét trên giác độ quản lý và điều hành của NHNN trong bối cảnh mới. Về khái niệm, chức năng và cấu trúc của TTTT: Khái niệm và định nghĩa về TTTT được đề cập khá đầy đủ trong nhiều nghiên cứu(Vũ Thị Kim Liên, 1996; Nguyễn Thị Nhung, 2002; Đặng Thị Nhàn, 2005; Nguyễn Đình Quang, 2009; Trần Thị Thanh Hòa, 2012; Nguyễn Thị Thành, 2013; Tô Thị Ánh Dương, 2016).
Mặc dù không có một định nghĩa chuẩn thống nhất, nhưng tựu chung lại, những khái niệm/định nghĩa về TTTT trong các nghiên cứu trên đều có những điểm chung như sau: (i) Là một bộ phận của thị trường tài chính; (ii) Là nơi thực hiện việc mua, bán và chuyển giao các khoản vốn ngắn hạn với các công cụ giao dịch thường có kỳ hạn từ một năm trở xuống; (iii) Đáp ứng những yêu cầu vay vốn ngắn hạn và cung cấp thanh khoản hay tiền mặt cho người đi vay và cho nền kinh tế; và (iv) Là nơi vốn khả dụng ngắn hạn dư thừa tạm thời của tổ chức tài chính, của các tổ chức khác và của các cá nhân được chào mua bởi những người đi vay bao gồm các tổ chức, các cá nhân và cả Chính phủ. Ngoài những điểm chung nói trên, một số nghiên cứu còn nhận định, TTTT là sự phát triển cao hơn của thị trường tiền gửi truyền thống (còn gọi là thị trường tín dụng) (Nguyễn Thị Nhung, 2002 và Nguyễn Đình Quang, 2009). Theo Nguyễn Đình Quang (2009), TTTT là điểm tựa cho NHTW tiến hành các hoạt động tiền tệ khi theo đuổi các mục tiêu của CSTT, tạo ra một kênh cho sự can thiệp của NHTW nhằm tác động đến giá và lượng của thanh khoản trên thị trường tài chính, từ đó truyền dẫn những động lực của CSTT đến nền kinh tế thực2. Tô Thị Ánh Dương (2016) chỉ ra ranh giới giữa TTTT và thị trường chứng khoán truyền thống trong một nước hay giữa thị trường nội địa với thị trường vốn quốc tế đang bị mờ dần cùng với quá trình tự do hóa kinh tế - tài chính, gia tăng các hoạt động đổi mới tài chính và công nghệ thông tin – truyền thông.
Đặc biệt, tác giả cho rằng, TTTT còn tồn tại với tư cách là thị trường thứ cấp cho các công cụ nợ kể cả các công cụ nợ dài hạn3. Chức năng của TTTT cũng được hệ thống hóa một cách khá đầy đủ. Theo đó, chức năng tài trợ cho vốn lưu động cho doanh nghiệp của TTTT lần đầu tiên được đề cập đến tại nghiên cứu của Đặng Thị Nhàn (2005). Trên cơ sở nghiên cứu này, Nguyễn Đình Quang (2009) đã chỉ ra 05 chức năng cơ bản của TTTT, trong đó 2 Ổn định thị trường tiền tệ: Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam, trang 4.
3 Phát triển TTTT Việt Nam, trang 29 11 bao gồm cả chức năng tài trợ vốn cho vay trung và dài hạn mà Đặng Thị Nhàn (2005) đã đề cập, cụ thể: (i) Chức năng luân chuyển vốn từ những người có thặng dư vốn đến những người thiếu vốn để dùng cho mục đích đầu tư hoặc tiêu dùng thông qua các tổ chức trung gian, qua đó góp phần sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của xã hội; (ii) Cung cấp một cơ chế tạo lập điểm cân bằng cho nguồn vốn dư thừa và thiếu hụt tạm thời, theo đó cung và cầu về vốn ngắn hạn sẽ gặp nhau và giá cả (lãi suất) sẽ được xác định theo cơ chế thị trường; (iii) Cung cấp một điểm tựa cho sự can thiệp của NHTW để tác động đến thanh khoản của nền kinh tế thông qua cơ chế truyền dẫn của CSTT; (iv) Góp phần tài trợ vốn cho vay trung và dài hạn khi các công cụ nợ dài hạn được giao dịch ngắn hạn trên thị trường này; (v) Giúp Chính phủ có khả năng huy động vốn để bù đắp ngân sách một cách hiệu quả hơn, với chi phí thấp. Cấu trúc và phân loại TTTT có sự khác nhau tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu của từng tác giả. Phần lớn các nghiên cứu đều thống nhất ba thị trường bộ phận trong TTTT, trong đó thị trường liên ngân hàng đóng vai trò quan trọng nhất, bao gồm: (i) thị trường nội tệ liên ngân hàng (còn gọi là thị trường cho vay, gửi tiền giữa các TCTD/thị trường 2); (ii) thị trường ngoại tệ liên ngân hàng (còn gọi là thị trường ngoại hối và tỷ giá/thị trường hối đoái); (iii) thị trường mua bán GTCG (thị trường đấu thầu tín phiếu Kho bạc, thị trường trái phiếu chính quyền địa phương và trái phiếu doanh nghiệp, thị trường GTCG do các TCTD phát hành). Ngoài ra, một số nghiên cứu cũng đề cập đến một số thị trường khác như là thị trường bộ phận của TTTT như thị trường tín dụng (Vũ Thị Kim Liên, 1996); thị trường tiền gửi và thị trường hối đoái (Nguyễn Thị Nhung, 2002); thị trường chứng khoán – không bao gồm việc giao dịch các nguồn vốn dài hạn mà còn các nguồn vốn tài trợ ngắn hạn (Nguyễn Đức Thảo, 2004); thị trường phái sinh và nghiệp vụ thị trường mở (Tô Thị Ánh Dương, 2016 và Nguyễn Đình Quang, 2009); cho vay tái cấp vốn và chiết khấu; dự trữ bắt buộc (Nguyễn Đình Quang, 2009); thị trường giao dịch giữa hệ thống NHTM với nền kinh tế/thị trường 1 (Tô Thị Ánh Dương, 2016).
Một số ý kiến khác và cho rằng TTTT theo nghĩa rộng bao gồm cả thị trường tín dụng ngắn hạn căn cứ vào Luật NHNN 2010 (Tô Thị Ánh Dương, 2016); tuy nhiên cũng có ý kiến không nhất trí gộp thị trường tín dụng như là một bộ phận của TTTT để đảm bảo nhất quán và cũng thống nhất với định nghĩa ghi trong luật rằng TTTT là nơi mua bán những GTCG ngắn hạn (Nguyễn Đình Quang, 2009). 12 Về các tham viên tham gia, hàng hóa vàcông cụ trên TTTT: Việc phân tích và đánh giá vai trò của các thành viên tham gia TTTT được đề cập khá đầy đủ và chi tiết tại các nghiên cứu (Vũ Thị Kim Liên, 1996; Nguyễn Đình Quang, 2009; Tô Thị Ánh Dương, 2016). Một số nghiên cứu khác tập trung phân tích vai trò của các thành viên tham gia một thị trường bộ phận trên TTTT (thường là TTTT liên ngân hàng), như nghiên cứu của Trần Thị Thanh Hòa (2012) và Đỗ Văn Độ (2013). Theo đó, có thể thấy tất cả các thành viên trong nền kinh tế từ Chính phủ cho đến doanh nghiệp và cá nhân nhất đều có thể tham gia TTTT.
NHTW với vai trò thực thi CSTT và các TCTD, có thể cả các tổ chức tài chính phi ngân hàng là hai thành phần tham gia tích cực và đóng vai trò then chốt trên TTTT Việt Nam. Việc nghiên cứu về các hàng hóa, công cụ giao dịch trên TTTT thường được đề cập trong các nghiên cứu về thị trường tài chính nói chung, trong đó TTTT là một thị trường bộ phận (Ngô Hướng, 2005; Lê Đình Hợp, 2003). Một số ít nghiên cứu khác, phân tích trực tiếp đặc điểm của các công cụ giao dịch trên TTTT như các nghiên cứu của Đặng Thị Nhàn (2005), Nguyễn Đình Quang (2009), và gần đây nhất là Tô Thị Ánh Dương (2016). Theo đó, các hàng hóa, công cụ tài chính thường được giao dịch trên TTTT bao gồm các loại sau: tín phiếu Kho bạc (Treasury bills hay T-bills); tín phiếu NHTW; trái phiếu Chính phủ; trái phiếu chính quyền địa phương; các chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng được (negociabel certificates of deposits – CDs); các hợp đồng mua lại (repurchase agreements – REPO); thương phiếu (commercial paper – CP); chấp phiếu ngân hàng (banker‟s acceptances – BA); lệnh phiếu (promisory note); hối phiếu (bill of exchange).