Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN KHU THƯƠNG MẠI TỰ DO 1.1 Khung khái niệm về Khu thương mại tự do Khái niệm khu thương mại tự do được manh nha từ những khu cảng tự do (Free Port - FP) đầu tiên đã xuất hiện từ Thế kỷ 16 với chức năng chủ yếu là phục vụ quan hệ mậu dịch giữa các quốc gia. Cho đến tận giữa Thế kỷ 20, hầu hết các khu thương mại tự do trên thế giới phát triển dưới hình thức các FEZ thương mại (trade-related FEZ). Cho tới nay, nhiều FEZ đã mang tính đa năng hơn và đa số các FEZ mới thành lập kể từ khi WTO ra đời đều là các FEZ toàn diện. Các khu tự do, khu kinh tế tự do, đặc khu kinh tế - gọi tắt là các FEZ – chính là sản phẩm của quá trình gia tăng quan hệ kinh tế quốc tế và khu vực.
Tuy nhiên, các khu thương mại tự do thường được xác lập trong một vùng lãnh thổ chính trị và địa lý nhất định trong một quốc gia hoặc tại các vùng xuyên biên giới giữa các quốc gia với nhau. Do nội hàm của các FEZ rất khác nhau, đặc biệt là về diện tích, phạm vi và cấp độ ‘tự do”, nên có thể khẳng định cho tới nay chưa có một định nghĩa thống nhất cho khái niệm “Khu thương mại Tự do” trong giới nghiên cứu lý luận và thực tiễn về mô hình FEZ. Song có một điểm chung là khái niệm FEZ dùng để chỉ một không gian kinh tế, thương mại cụ thể có môi trường đầu tư, kinh doanh “thoáng hơn” những quy định chung áp dụng ở cấp độ toàn nền kinh tế quốc dân. Theo Meng (2003), hiện có tới 66 thuật ngữ được dùng để chỉ khái niệm FEZ.
FIAS (2008) sử dụng khái niệm đặc khu kinh tế (SEZ) để chỉ tất cả các loại hình khác nhau của các “khu tự do” chức năng hay đa năng. Nghiên cứu này chọn khái niệm FEZ dùng thay thế cho các khái niệm còn lại, trừ các trường hợp phân tích cụ thể. Khái niệm Khu thương mại tự do (Free Trade Zone) xuất phát từ thuật ngữ khu kinh tế (Economic Zones), xuất hiện từ thập niên 70 của thế kỷ XX. Trong đó tiên phong nghiên cứu là các nhà kinh tế/ học giả: Hamada [1974], Rodriguez [1976] và Hamilton, Svensson [1980], Wall [1976], Fernstrom [1976], Ping [1979] and Diamond [1979].
Theo Công ước Kyoto sửa đổi năm 1999, một “khu vực tự do” (Free Zones) có nghĩa là một phần lãnh thổ của một bên ký kết mà bất kỳ hàng hóa nào được kể ra, nhìn theo góc độ thuế nhập khẩu và thuế quan, được coi là nằm ngoài lãnh thổ hải quan”.Theo Pavlov, Pavel V và các cộng sự , thực tiễn về sự phát triển các khu kinh tế chỉ ra rằng các 5 cách tiếp cận định nghĩa về khu kinh tế đến nay còn chưa thực sự thống nhất. Theo khái niệm của Ngân hàng Thế giới năm 1992: Khu vực thương mại tự do (free trade zone – FTZ), còn gọi là khu tự do (free zone) là khu vực bất động sản công nghiệp có ranh giới chuyên sản xuất để xuất khẩu và cung cấp cho các công ty ở trong đó môi trường thể chế cùng các điều kiện thương mại tự do. Theo Từ điển Britania (Anh), FTZ là khu vực mà trong đó hàng hóa có thể được sản xuất, chế tạo, dỡ hàng. và được tái xuất không có sự tham gia của cơ quan hải quan; đồng thời là khu vực mà một nhóm quốc gia đồng ý giảm hoặc loại bỏ các rào cản thương mại.
Khu vực thương mại tự do có thể được định nghĩa như là các trung tâm chế tạo có hàm lượng lao động cao gắn liền với việc nhập khẩu vật liệu hoặc các thành phần thô và xuất khẩu các sản phẩm máy móc. Khu vực thương mại tự do cũng là những khu vực xác định nơi các hãng được phép mang hàng hóa miễn thuế để lắp ráp, chế tạo và phân phối, chủ yếu nhằm để nhập khẩu vào nước chủ nhà hoặc để xuất khẩu ra nước ngoài. Khu vực này có tất cả thuộc tính của kho ngoại quan, khu bán lẻ tự do, cảng tự do và khu chế xuất. Quan niệm cũ về Khu thương mại Tự do: Trong nền thương mại thế giới kể từ sau Thế Chiến II, khi mức thuế quan còn cao thì các thuật ngữ như “Khu tự do” (Free Zone), “Khu phi thuế quan” (Duty Free Zone), Khu Thương mại Tự do (Free Trade Zone), “Khu Chế xuất” (Export Processing Zone).
được sử dụng khá đa dạng để chỉ một khu vực hay một không gian lãnh thổ xác định của một quốc gia (hoặc một vài quốc gia) có môi trường thương mại, thuế quan và kinh doanh khác tự do hơn, thông thoáng hơn so với mức áp dụng chung trong cả (các) quốc gia đó. Theo khái niệm nêu trong Công ước quốc tế về thuận lợi hoá và hài hoà hoá thủ tục hải quan ký tại TP. Kyoto ngày 18/05/1973, khái niệm “Vùng tự do” hay “Khu tự do” (Free Zone) được sử dụng để chỉ “một vùng lãnh thổ xác định của một quốc gia, trong đó hàng hoá được hưởng những đối xử ngoài phạm vi áp dụng của các quy định chung đối với lãnh thổ hải quan quốc gia, nghĩa là không thuộc diện bị đánh thuế quan và kiểm tra hải quan thông thường”. Theo Herbert Grubel (1984), một chuyên gia nghiên cứu về FEZ, một khu thương mại tự do (free economic zone) là “một khu vực địa lý xác định mà các hoạt động kinh tế trong đó không phải áp dụng những quy định điều tiết và thuế của chính 6 phủ như đang áp dụng chung cho toàn nền kinh tế quốc dân”.
Trong một nghiên cứu về các “Khu tự do” (Free Zone) tại Tây Á của Ủy ban Kinh tế-xã hội vùng Tây Á thuộc Liên Hợp Quốc (UN-ESCWA) năm 1995, Uỷ ban đã đưa ra khái niệm: “Khu thương mại tự do là khu vực được quy hoạch không phải áp dụng các mức thuế quan và kiểm soát nhập khẩu nhằm tạo một môi trường hấp dẫn đầu tư, công nghệ, xúc tiến xuất khẩu và cơ hội việc làm”. Quan các định nghĩa trên, có một đặc điểm chung nổi bật là quốc gia hình thành các khu vực kinh tế, thương mại tự do không áp dụng những luật lệ về thuế tiêu thụ đặc biêt, thuế quan hay các quy định hạn chế hoạt động ngoại thương đối với hàng hoá ra vào các khu tự do này cũng như các hoạt động kinh tế trong đó. Công ty Tài chính quốc tế (IFC) trong nghiên cứu của mình (FIAS, 2008) định nghĩa: “Các đặc khu kinh tế (SEZ) được định nghĩa khái quát là những khu vực được phân định ranh giới địa lý và được quản lý bởi một cơ quan duy nhất, cùng cấp các khuyến khích …đối với các doanh nghiệp có cơ sở vật chất nằm trong khu” (FIAS, 2008, trang 2). Theo định nghĩa của Hàn Quốc (IFEZ) vào cuối thập kỷ 1990, Khu Kinh tế Đặc biệt hay Đặc khu Kinh tế (Special Economic Zone – SEZ) là một vùng địa lý cụ thể (của quốc gia) có luật pháp kinh tế khác và tự do hơn so với các luật pháp kinh tế áp dụng chung cho quốc gia đó.
Mục đích hình thành FEZ thường là để tăng dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào một quốc gia nào đó. Như vậy, khái niệm và tiếp cận mục đích của FEZ/SEZ tại Hàn Quốc khá hẹp và cụ thể. Điều này xuất phát từ bối cảnh hậu khủng hoảng 1997-1999, lúc đó Chính phủ Hàn Quốc cho rằng cần phải có những nguồn lực đầu tư mới phục vụ tăng trưởng kinh tế hậu khủng hoảng, do đó quan điểm phát triển “các khu vực kinh tế tự do và đặc biệt” đã trở thành tư duy chiến lược của Chính phủ Hàn Quốc nhằm tăng tính hấp dẫn của nền kinh tế Hàn Quốc trong mắt các nhà đầu tư nước ngoài. Theo định nghĩa của Lít-va, quy định trong Luật về cơ sở hình thành Khu thương mại Tự do [Law on Basis of Creation of Free Economic Zone] ban hành ngày 28/06/1995, Khu thương mại Tự do là “một vùng lãnh thổ được quy hoạch cho các hoạt động kinh tế và tài chính, trong đó các điều kiện pháp lý và kinh tế đặc biệt về hoạt động của các chủ thể kinh tế được áp dụng.
Không một người dân sinh sống thường trú nào được ở trong vùng lãnh thổ này”. Định nghĩa này đưa ra năm 1995, 7 phản ánh quan niệm truyền thống về hình thành một khu thương mại tự do, theo đó chủ yếu tập trung vào những ưu đãi đặc biệt vào một vùng quy hoạch nhất định và chưa hề tính tới sự dịch chuyển lao động và tự nhiên nhân quốc tế, một đặc điểm và cấp độ quan trọng của các quan hệ kinh tế quốc tế. Luật Thuế của Liên bang Nga năm 1993 [the 1993 Tax Code of Russian Federation] thì tiếp cận hẹp hơn về khái niệm “Khu thương mại tự do” trên góc độ thuế quan và chế độ thuế, theo đó “Khu kinh tế tự do và các kho hàng tự do là các hệ thống chế độ thuế (tax regime) trong đó hàng nước ngoài được lưu kho và sử dụng trong ranh giới các vùng lãnh thổ hay khu nhà (mặt bằng) xác định mà không chịu thuế quan, các sắc thuế cũng như không phải áp dụng các biện pháp chính sách kinh tế đối với các hàng hoá nêu trên, và hàng hoá của Nga được lưu kho và sử dụng theo các điều kiện áp dụng cho hàng hoá xuất khẩu theo quy định của chế độ hải quan hàng xuất khẩu và theo trình tự quy định bởi Luật Thuế”. Theo điều khoản này thì cách tiếp cận Khu thương mại tự do ở đây gần với quan niệm về các “khu chế xuất”, khu kinh tế phù hợp với mô hình “đặc khu kinh tế - SEZ” của các thập kỷ 1980, 1990 của Thế kỷ XX.
Theo FIAS (2008), dù tồn tại dưới tên gọi hay khái niệm nào, về cơ bản có 5 loại hình đặc khu kinh tế, gồm (1) Khu Thương mại Tự do (FTZ); (2) Khu Chế xuất (EPZ); (3) Cảng Tự do (FP); (4) Khu doanh nghiệp (EZ); và (5) Khu Chế xuất mở rộng.