CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ VÀ TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Vốn của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm tổng quát về ngân hàng thương mại Để đưa ra một định nghĩa về ngân hàng thương mại, người ta phải dựa vào tính chất mục đích hoạt động của nó trên thi trường tài chính và đôi khi còn kết hợp với tính chất, mục đích, đối tượng hoạt động.
Ngân hàng đầu tiên ra đời ở Ý vào thời kỳ phục hưng. Các ngân hàng có nguồn gốc từ những người đổi tiền. Từ “ngân hàng-bank” có nguồn gốc từ từ “banca” trong tiếng Ý nghĩa là cái ghế băng nới những người đổi tiền để tiến hành các hoạt đông kinh doanh. Những người làm người đổi tiền là những nhà giàu nên thường có két sắt an toàn do đó họ nhận luôn việc giữ các đồ vật quý cho những người chủ sở hữu nó, tránh gây mất mát.
Đổi lại, người chủ sở hữu phải trả cho người giữ một khoản tiền công. Khi công việc này mang lại nhiều lợi ích cho những người gửi, các đồ vật cần gửi ngày càng đa dạng hơn, các vật có giá trị như vậy là tiền, dần dần, ngân hàng là nơi giữ tiền cho những người có tiền. Khi xã hội phát triển, thương mại phát triển, nhu cầu về tiền ngày càng lớn, tức là phát sinh nhu cầu vay tiền ngày càng lớn trong xã hội. Khi nắm trong tay một lượng tiền, những người giữ tiền nhận thấy thường xuyên có người gửi tiền vào và có người rút tiền ra.
Tuy nhiên những người gửi tiền không rút tiền cùng một lúc nên thường xuyên có số dư. Và những người giữ tiền nảy ra ý định cho vay số tiền đó. Từ đó phát sinh nghiệp vụ đầu tiên nhưng cơ bản nhất của ngân hàng nói chung, đó là huy động vốn và cho vay vốn. Với mỗi quốc gia khác nhau, hình thành khái niệm khác nhau về NHTM.
Ở Mỹ: NHTM là một công ty kinh doanh chuyên cung cấp các dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành tài chính. Ở Pháp: NHTM là những xí nghiệp hay cơ sở nào thường xuyên nhận tiền của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dung cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính. 7 Theo điều 4, Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 của Việt Nam thì NHTM được định nghĩa như sau: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Trong đó, hoạt động ngân hàng được định nghĩa là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một số nghiệp vụ như: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
NHTM có ba chức năng cơ bản đó là: - NHTM là một trung gian tài chính: NHTM là cầu nối giữa người dư thừa vốn và người đang có nhu cầu vốn. Với hoạt động chủ yếu là chuyển tiết kiệm thành đầu tư, các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu, tức là chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập chính vì thế họ cần phải bổ sung thêm vốn; bên cạnh đó lại tồn tại các cá nhân và tổ chức tạm thời thặng dư trong chi tiêu, tức là thu nhập hiện tại của họ lớn hơn chi tiêu và họ có tiền để tiết kiệm. Hai nhóm này tồn tại hoàn toàn độc lập với ngân hàng và điều tất yếu sẽ xảy ra đó là nguồn vốn hợp lí sẽ được chảy từ nơi thừa vốn sang nơi thiếu vốn. Đây chính là chức năng trung gian của ngân hàng.
Một điều quan trọng nữa là để thực hiện được tốt chức năng này thì việc tìm hiểu thông tin cân xứng là khả năng đảm bảo hiệu quả cho hoạt động của ngân hàng. - NHTM có chức năng tạo phương tiện thanh toán: Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh tế có khả năng huy động tiền gửi lớn nhất , tại đây tất cả các nguồn gửi ngắn, trung và dài hạn đều được tập hợp. Sở dĩ có thể khẳng định rằng NHTM tạo tiền cho nền kinh tế bởi vì khi khách hàng đem tiền đến gửi tại ngân hàng thì sau khi để lại một tỉ lệ dự trữ theo quy định thì số tiền còn lại được đem cho vay. Và cứ thế nguồn vốn được quay vòng một cách đều đặn và liên tục đem lại thu nhập cho ngân hàng.Như vậy qua các nghiệp vụ kế toán, ngân hàng đã góp một vai trò quan trọng trong việc tạo tiền cho nền kinh tế.
- NHTM là trung gian thanh toán:NHTM nhận tiền gửi của doanh nghiệp cũng đồng thời là nơi doanh nghiệp đến vay hay thực hiện bất kỳ một hoạt động thanh 8 toán, chuyển tiền nào. Ta đã biết mục đích của doanh nghiệp luôn là tối đa hoá giá trị tài sản của họ, doanh nghiệp hoạt động được là phải có vốn. Vốn để mua sắm trang thiết bị, vốn đẻ tiến hành sản xuất. Ngân hàng là tổ chức luôn đáp ứng được tốt nhất nhu cầu đó, là đơn vị thu chi và thanh toán hộ cho doanh nghiệp.
Hơn ai hết để làm được điều này ngân hàng luôn có đầy đủ thông tin về tài chính, về môi trường kinh doanh, về tình hình trong và ngoài nước để phục vụ tốt nhất nhu cầu của doanh nghiệp- khách hàng của họ. Ngân hàng luôn là điểm tựa vững chắc cho doanh nghiệp. Bên cạnh đó ngân hàng cũng chính là trung gian thanh toán cho các cá nhân và tổ chức trong nền kinh tế. Khái niệm về vốn của ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính với các chức năng cơ bản là: trung gian tín dụng, trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền.
Để thực hiện được các chức năng này và đi vào hoạt động một cách có hiệu quả và có lợi nhuận thì đòi hỏi ngân hàng thương mại phải có một lượng vốn hoạt động nhất định. Các nhà kinh tế đã đưa ra khái niệm về vốn của ngân hàng thương mại như sau: Vốn của ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do ngân hàng thương mại tạo lập hoặc huy động được dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác. Khái niệm trên đã nói đầy đủ những thành phần tạo nên vốn của ngân hàng thương mại. Về thực chất vốn của ngân hàng thương mại là bao gồm các nguồn tiền tệ của chính bản thân ngân hàng và của những người có vốn tạm thời nhàn rỗi.
Họ chuyển tiền vào ngân hàng với các mục đích khác nhau: hoặc lấy lãi, hoặc nhờ thu, nhờ chi hay là dùng các sản phẩm dịch vụ khác của ngân hàng. Đây chính là họ chuyển quyền sử dụng vốn cho ngân hàng và số tiền mà ngân hàng phải trả hay làm các dịch vụ chính là cái giá của quyền sử dụng các giá trị tiền tệ đó. Nhờ việc có được nguồn vốn, các ngân hàng có thể tiến hành kinh doanh: cho vay, bảo lãnh, cho thuê. Nói chung vốn của ngân hàng chi phối toàn bộ hoạt động của ngân hàng và quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng thương mại.
Do đó huy động vốn là một trong những nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng thương mại nhằm thu hút vốn từ các tổ chức và cá nhân nhằm phục vụ mục đích 9 kinh doanh của mình. Huy động vốn được hiểu là hoạt động nhận tiền của các tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận. Hoạt động huy động vốn là hoạt động khởi đầu cho các hoạt động khác trong ngân hàng thương mại. Hoạt động huy động vốn ngày càng mở rộng thì uy tín cũng như vị thế của ngân hàng sẽ càng ngày càng được khẳng định, ngân hàng sẽ chủ động được trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình.
Cơ cấu vốn của ngân hàng thương mại Vốn là cơ sở và nền tảng cho mọi hoạt động của ngân hàng. Đây là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản có của ngân hàng, nó được xác định từ nhiều nguồn khác nhau. Để thuận lợi cho mọi quá trình vận hành và xác định người ta đã chia ra thành hai loại vốn cơ bản đó là vốn chủ sở hữu và vốn vay.1 Vốn chủ sở hữu Ngân hàng hay bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào muốn thành lập và hoạt động được phải có một lượng vốn nhất định. Vốn này có vai trò quyết định trong quá trình tiến hành đăng kí kinh doanh, quá trình thành lập hay quá trình hình thành nên tài sản, trang thiết bị, nhà xưởng, hay máy móc thiết bị…cho mỗi tổ chức.
Ngân hàng thương mại cũng vậy, nguồn vốn chủ sở hữu là điều kiện tiên quyết cho mọi vấn đề. Nguồn vốn chủ sở hữu của ngân hàng được cụ thể thành các loại như sau: a. Nguồn vốn hình thành ban đầu Theo tính chất của mỗi ngân hàng mà nguồn vốn hình thành ban đầu khác nhau. Ngân hàng thương mại nhà nước là Ngân hàng được sở hữu bởi nhà nước, vốn do ngân sách nhà nước cấp.
Ngân hàng cổ phần là ngân hàng có số vốn góp do các cổ đông hợp sức lại, Ngân hàng liên doanh do các bên liên doanh góp vốn, Ngân hàng tư nhân là vốn thuộc sở hữu tư nhân. Vốn hình thành ban đầu hay vốn tự có là điều kiện pháp lý cơ bản, là xuất phát điểm cơ bản cho mọi hoạt động của ngân hàng và cũng đồng thời là yếu tố tài chính 10 quan trọng để đảm bảo các khoản nợ đối với khách hàng, là niềm tin của khách hàng đối với ngân hàng. Tuy vậy Ngân hàng lại là một doanh nghiệp kinh doanh một loại hàng hoá đặc biệt, rất nhạy cảm - đó chính là vốn. Nguồn vốn ban đầu của ngân hàng thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn.
Song qua đây nó lại cho ta thấy được thực lực của ngân hàng, quy mô và uy tín của ngân hàng, và hơn hết nó là cơ sở để thu hút các nguồn vốn khác cho họ. Hiện nay các NHTM Việt Nam đều có quy mô nhỏ, vốn hình thành ban đầu thấp, tỷ lệ vốn tự có/ tài sản có của phần lớn các ngân hàng là <5% trong khi đó tiêu chuẩn của thế giới tối thiểu là 8 %. Đây chính là yêu cầu đặt ra đối với các ngân hàng nước ta trong thời kỳ hội nhập.