CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Viễn thông là một ngành kinh tế kỹ thuật, hạ tầng cơ sở, đóng vai trò vừa là dịch vụ liên lạc, vừa là một phương tiện, nền tảng để chuyển tải nhiều loại hình dịch vụ khác về thông tin truyền thông. Đây là một ngành đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế, có liên quan đến tất cả các ngành trong quá trình sản xuất, thương mại và đầu tư., cũng như liên quan đến đời sống nhân dân và giữ vững an ninh quốc phòng. Tổng quan tình hình nghiên cứu lĩnh vực viễn thông trong và ngoài nước Dịch vụ viễn thông là một ngành nghề mới mẻ, tuy nhiên nó mang lại lợi nhuận cao, do đó nhiều công ty, tổ chức rất quan tâm nghiên cứu về vấn đề phát triển kinh doanh sản phẩm viễn thông di động. Cho đến nay việc nghiên cứu chiến lược phát triển xoay quanh mảng đề tài viễn thông di động đã được rất nhiều luận án, giáo trình, công trình khoa học nghiên cứu, cụ thể: 1.
Ngoài nước Các vấn đề về lý thuyết cạnh tranh, định hướng phát triển, định hướng tiếp thị, quản lý chiến lược của Porters, đánh giá khả năng phát triển dựa vào nguồn lực cho các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông đã được nghiên cứu trong luận án tiến sỹ của Kamiru (2015). Nội dung của luận án là ảnh hưởng của các chiến lược marketing trong việc tạo lợi thế cạnh tranh giữa các nhà cung cấp dịch vụ di động tại Kenya. Nội dung của luận án phù hợp với nghiên cứu ở Việt Nam. Các nội dung lý thuyết trong luận án này đã được hệ thống rất tốt.
Bài viết tập trung vào ba câu hỏi. (1) Khái niệm phân chia kỹ thuật số được áp dụng đối với loại bất bình đẳng nào? (2) Có gì mới về sự bất bình đẳng trong việc tiếp cận và sử dụng ICTs so với các tài nguyên khan hiếm và các nguồn tài nguyên phi vật chất khác? (3) Có những loại bất bình đẳng mới tồn tại hay gia tăng trong xã hội thông tin không? Kết quả nghiên cứu phân chia kỹ thuật số được phân loại dưới bốn dạng tiếp cận tiếp theo: động lực, thể chất, kỹ năng và cách sử dụng. Quan sát thấy có sự chuyển đổi sự chú ý từ việc tiếp cận vật lý đến các kỹ năng và cách sử dụng. Về khía cạnh tiếp cận 11 thể chất, sự phân chia dường như đang tập trung ở các nước phát triển nhất; liên quan đến kỹ năng kỹ thuật số và việc sử dụng các ứng dụng phân chia kéo dài hoặc mở rộng.Trong số những thiếu sót của nghiên cứu phân chia kỹ thuật số là thiếu lý thuyết, khái niệm, cách tiếp cận liên ngành, nghiên cứu định tính và nghiên cứu theo chiều dọc.
Vì thế, bài luận án này sẽ phân tích thêm để bổ sung cho những thiếu sót mà những nghiên cứu trước để lại. Avila (2017) đã nghiên cứu về sự khuếch tán và mối quan hệ cạnh tranh của dịch vụ điện thoại di động ở Guatemala. Bài phân tích thực nghiệm của Avila được đăng trên Tạp chí danh tiếng Chính sách Viễn thông. Bài phân tích tập trung vào các yếu tố bên ngoài, các yếu tố liên quan đến nền kinh tế như GDP bình quân đầu người, dân số, nhân khẩu học, v.; thị trường như đầu tư, số lượng nhà khai thác, thuế quan, các quy định trong phát triển dịch vụ viễn thông, v.; và công nghệ như giới thiệu công nghệ số, số lượng các đường dây, v.
Bài báo bao gồm các vấn đề chính của viễn thông nội bộ trong một tổ chức. Nó làm nổi bật những lợi ích của việc thực hiện nguyên tắc phát triển kinh doanh dịch vụ viễn thông cho một công ty. Bài báo xác định mục tiêu và trình bày các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển dịch vụ viễn thông được lựa chọn nghiên cứu. Trong bài viết, bạn cũng có thể tìm ra các hướng dẫn để thực hiện nghiên cứu trong bối cảnh phát triển chiến lược kinh doanh dịch vụ viễn thông.
Một số lĩnh vực nghiên cứu đã được lựa chọn trong quá trình lập kế hoạch và thực hiện các giả định chiến lược đã được Avila trình bày trong bài báo. Các yếu tố hạn chế việc thực hiện hiệu quả chiến lược phát triển kinh doanh dịch vụ viễn thông đã được thảo luận. Bài báo sẽ là một tài liệu tham khảo quan trọng cho việc nghiên cứu tình hình kinh doanh dịch vụ viễn thông trong luận án này. Bài đánh giá về sự cạnh tranh của phân phối HAP trong dịch vụ di động tại các nước đang phát triển do Viện Nghiên cứu của hãng Orange – hãng lớn viễn thông của Pháp công bố được đồng nghiên cứu bởi Reynaud và Gourhant (2011).
Theo đó, tại nông thôn và các nước đang phát triển, HAP được nghiên cứu như là một công nghệ thay thế hoặc bổ sung nhanh để cung cấp các dịch vụ viễn thông ở các vùng nông thôn tại các nước đang phát triển. Trong các khu vực rộng lớn này, 12 với mật độ sử dụng thấp, việc thu hút dịch vụ viễn thông có thể sẽ bị chậm lại bởi lợi nhuận dịch vụ, do đó lần lượt giới hạn bởi doanh thu trung bình tương đối thấp của mỗi người dùng. Các nhà khai thác viễn thông đang đối mặt với những thách thức ngày càng tăng trong kỷ nguyên số. Các công cụ truyền thông dựa trên Internet như Weixin, Weibo và Twitter đã làm giảm đáng kể lợi nhuận truyền thống của các nhà khai thác viễn thông đối với các cuộc gọi thoại và tin nhắn thoại, và họ đang cố gắng để tránh trở thành các kênh dữ liệu đơn giản trong kỷ nguyên số.
Bài đánh giá này sẽ góp phần giúp luận án đưa ra những bài học kinh nghiệm hữu ích khi nghiên cứu tình hình kinh doanh dịch vụ viễn thông tại Việt Nam. Một nghiên cứu điển hình khác tại Hàn Quốc trong lĩnh vực dịch vụ viễn thông của Kang và các cộng sự (2017) nói về dịch vụ di động, chính sách của chính phủ và thị trường cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ di động tại Hàn Quốc. Theo đó, các chính sách của chính phủ có thể ảnh hưởng đáng kể đến việc áp dụng các dịch vụ do các nhà cung cấp công nghệ truyền thông và sự cạnh tranh giữa các nhà cung cấp dịch vụ. Bài viết cung cấp các số liệu về tỷ lệ chi phí truyền thông đối với thu nhập dùng một lần ở các nước thành viên OECD (4 nước đứng đầu và 4 nước đứng cuối), tỷ lệ chi tiêu cho ICT của hộ gia đình và tỷ lệ sử dụng 3G, chi tiêu hàng tháng của hộ gia đình về viễn thông, các công ty viễn thông chính của một số nước OECD, sự chênh lệch giá của điện thoại thông minh giữa các nước OECD.
Tuy Hàn Quốc và Việt Nam có mức sống chênh lệch, nhưng hướng nghiên cứu trong bài viết của Kang và các công sự cũng có thể được học tập để nghiên cứu tình hình kinh doanh dịch vụ viễn thông tại Việt Nam, chẳng hạn như tỷ lệ sử dụng 3G, chi phí các gói cước viễn thông áp dụng cho các nhà mạng lớn tại Việt Nam, v.v… Về sự hợp tác và các chiến lược vi mô trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ viễn thông, nền tảng viễn thông, hệ sinh thái viễn thông, chiến lược kinh doanh dịch vụ viễn thông, Karhu và các cộng sự (2014) đã có bài phân tích sự khác biệt về cạnh tranh và hợp tác giữa các hệ sinh thái viễn thông sử dụng mạng lưới chiến lược. Theo đó, việc Apple ra mắt hệ điều hành iOS và thị trường App Store tương biến thị trường di động cạnh tranh thành hiện thực, và Apple trở thành công ty hàng đầu trong lĩnh 13 vực phát triển. Sự phát triển này đã khiến các nhà cung cấp dịch vụ di động như Nokia phải đổi mới phát triển và thu hút các nhà phát triển mới như Google và Microsoft tham gia thị trường với giới thiệu nền tảng di động của riêng họ. Liên quan đến dịch vụ ứng dụng, khai thác mạng viễn thông, các cửa hàng ứng dụng và ngành công nghiệp viễn thông, tác giả Wang và Chang (2016) đã trình bày mô hình và phân tích cho các dịch vụ ứng dụng viễn thông, quan điểm của các nhà khai thác mạng viễn thông.
Sự thành công của App Store của Apple đã thúc đẩy nhiều nhà khai thác mạng viễn thông nắm lấy cơ hội phát triển các cửa hàng ứng dụng. Tuy nhiên, việc tìm kiếm một chiến lược thành công mang lại sự khác biệt có ý nghĩa trong một thị trường ứng dụng viễn thông ngày càng cạnh tranh là một thách thức lớn đối với các tập đoàn đa quốc gia, hiểu được hành vi khuếch tán của các dịch vụ ứng dụng viễn thông. Các nội dung có liên quan bao gồm: Hệ sinh thái ứng dụng trên thiết bị di động, viễn cảnh các tập đoàn đa quốc gia, góc nhìn của người dùng cuối, viễn cảnh của nhà phát triển, đánh giá tài liệu về dịch vụ ứng dụng trên thiết bị di động. Bài viết phân tích thực trạng thị trường ứng dụng trên điện thoại di động tại Đài Loan và phân tích chính sách bao gồm hai chiến lược bao gồm địa phương hóa và nâng cao chất lượng dịch vụ cho các tập đoàn đa quốc gia.
Xem xét các mối quan hệ cạnh tranh tồn tại trong thị trường viễn thông bằng cách sử dụng lý thuyết thích hợp về sự hài lòng cá nhân và các khía cạnh hệ thống hài lòng là các vấn đề được đề cập trong công trình nghiên cứu của Lee, Y. Các dịch vụ viễn thông mới (3G và VoIP) một phần thay thế các dịch vụ viễn thông cũ (điện thoại bàn gia đình và 2G) trong việc cung cấp sự hài lòng cao hơn trong giải trí. Các kết quả cũng chứng minh rằng VoIP không áp đặt hiệu quả chuyển dịch cạnh tranh trên các dịch vụ cố định tại nhà bao gồm 2G, và 3G. Nghiên cứu này được áp dụng để phân tích sự phát triển của dịch vụ viễn thông của Việt Nam từ năm 2010 đến nay.
Qua đó cho thấy, sự phát triển mạnh mẽ của dịch vụ viễn thông, đặc biệt là sự phát triển của 3G đã thúc đẩy sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ viễn thông trong nước. Sức ép cạnh tranh đã buộc 14 các nhà mạng trong nước phải không ngừng sáng tạo và phát triển để có thể giữ vững được thị phần trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và sự xâm nhập của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ viễn thông nước ngoài vào Việt Nam. Một ví dụ về thực trạng tổng quan về điện thoại di động ở Ấn Độ được trình bày bởi Gupta và Jain (2016).