Luận án tiến sĩ chính sách nhà nước đối với đầu tư theo hình thức đối tác công tư trong xây dựng đường bộ việt nam

Luận án phân tích chính sách nhà nước về đầu tư đối tác công tư trong xây dựng đường bộ tại Việt Nam, đề xuất giải pháp cải thiện hiệu quả.

Chuyên ngành

Quản Lý Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

162
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐẦU TƯ THEO HÌNH THỨC ĐỐI TÁC CÔNG TƯ TRONG XÂY DỰNG ĐƯỜNG BỘ

1.1. Các công trình nghiên cứu nước ngoài

1.2. Các công trình nghiên cứu trong nước

1.3. Khoảng trống nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐẦU TƯ THEO HÌNH THỨC ĐỐI TÁC CÔNG TƯ TRONG XÂY DỰNG ĐƯỜNG BỘ

2.1. Hình thức ĐTCT trong đầu tư xây dựng đường bộ

2.2. Khái niệm và đặc trưng của đầu tư theo hình thức ĐTCT trong xây dựng đường bộ

2.3. Các yêu cầu cơ bản của đầu tư theo hình thức ĐTCT trong xây dựng đường bộ

2.4. Phân loại đầu tư theo hình thức ĐTCT trong xây dựng đường bộ

2.5. Chu trình đầu tư theo hình thức ĐTCT trong xây dựng đường bộ

2.6. CSNN đối với đầu tư theo hình thức ĐTCT trong xây dựng đường bộ

2.6.1. Khái niệm CSNN đối với đầu tư theo hình thức ĐTCT trong xây dựng đường bộ

2.6.2. Mục tiêu CSNN đối với đầu tư theo hình thức ĐTCT trong xây dựng đường bộ

2.6.3. Nguyên tắc CSNN đối với đầu tư theo hình thức ĐTCT trong xây dựng đường bộ

2.7. Các bộ phận cấu thành của CSNN đối với đầu tư theo hình thức ĐTCT trong xây dựng đường bộ

2.8. Các nhân tố ảnh hưởng tới CSNN đối với đầu tư theo hình thức ĐTCT trong xây dựng đường bộ

2.9. Kinh nghiệm quốc tế về CSNN đối với đầu tư theo hình thức ĐTCT trong xây dựng đường bộ và bài học cho Việt Nam

2.9.1. Kinh nghiệm của các nước phát triển

2.9.2. Kinh nghiệm của Trung Quốc

2.9.3. Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Khung nghiên cứu

3.2. Quy trình nghiên cứu

3.3. Phương pháp thu thập, xử lý và phân tích dữ liệu

3.3.1. Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp

3.3.2. Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp

3.4. Phương pháp xử lý dữ liệu

3.5. Phương pháp phân tích

4. CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐẦU TƯ THEO HÌNH THỨC ĐỐI TÁC CÔNG TƯ TRONG XÂY DỰNG ĐƯỜNG BỘ VIỆT NAM

4.1. Thực trạng đầu tư theo hình thức ĐTCT trong xây dựng đường bộ Việt Nam

4.2. Thực trạng kết cấu hạ tầng đường bộ Việt Nam

4.3. Nhu cầu đầu tư xây dựng đường bộ Việt Nam

4.4. Đầu tư theo hình thức ĐTCT trong xây dựng đường bộ Việt Nam

4.5. Thực trạng CSNN đối với đầu tư theo hình thức ĐTCT trong xây dựng đường bộ Việt Nam

4.6. Hình thức thể hiện CSNN đối với đầu tư theo hình thức ĐTCT trong xây dựng đường bộ Việt Nam

4.7. Mục tiêu CSNN đối với đầu tư theo hình thức ĐTCT trong xây dựng đường bộ Việt Nam

4.8. Nguyên tắc thực hiện mục tiêu CSNN đối với đầu tư theo hình thức ĐTCT trong xây dựng đường bộ Việt Nam

4.9. Chính sách lựa chọn và chuẩn bị đầu tư theo hình thức ĐTCT

4.10. Chính sách lựa chọn loại hình hợp đồng đầu tư theo hình thức ĐTCT

4.11. Chính sách lựa chọn nhà đầu tư theo hình thức ĐTCT

4.12. Chính sách phân bổ rủi ro giữa nhà nước và tư nhân

4.13. Chính sách ưu đãi và đảm bảo đầu tư

4.14. Đánh giá CSNN đối với đầu tư theo hình thức ĐTCT trong xây dựng đường bộ Việt Nam

4.15. Đánh giá việc thực hiện mục tiêu của CSNN đối với đầu tư theo hình thức ĐTCT trong xây dựng đường bộ Việt Nam

4.16. Điểm mạnh của CSNN đối với đầu tư theo hình thức ĐTCT trong xây dựng đường bộ Việt Nam

4.17. Hạn chế của CSNN đối với đầu tư theo hình thức ĐTCT trong xây dựng đường bộ Việt Nam

4.18. Nguyên nhân hạn chế của CSNN đối với đầu tư theo hình thức ĐTCT trong xây dựng đường bộ Việt Nam

5. CHƯƠNG 5: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐẦU TƯ THEO HÌNH THỨC ĐỐI TÁC CÔNG TƯ TRONG XÂY DỰNG ĐƯỜNG BỘ VIỆT NAM

5.1. Bối cảnh quốc tế và trong nước ảnh hưởng đến việc hoàn thiện CSNN đối với đầu tư theo hình thức ĐTCT trong xây dựng đường bộ Việt Nam

5.1.1. Bối cảnh quốc tế

5.1.2. Bối cảnh trong nước

5.2. Quan điểm hoàn thiện CSNN đối với đầu tư theo hình thức ĐTCT trong xây dựng đường bộ Việt Nam

5.3. Giải pháp hoàn thiện CSNN đối với đầu tư theo hình thức ĐTCT trong xây dựng đường bộ Việt Nam

5.3.1. Giải pháp về mục tiêu và nguyên tắc thực hiện mục tiêu

5.3.2. Giải pháp về chính sách lựa chọn và chuẩn bị đầu tư theo hình thức ĐTCT

5.3.3. Giải pháp về chính sách lựa chọn loại hình hợp đồng đầu tư theo hình thức ĐTCT

5.3.4. Giải pháp về chính sách lựa chọn nhà đầu tư theo hình thức ĐTCT

5.3.5. Giải pháp về chính sách phân bổ rủi ro giữa nhà nước và tư nhân

5.3.6. Giải pháp về chính sách ưu đãi và đảm bảo đầu tư

5.3.7. Điều kiện để thực hiện giải pháp

5.3.7.1. Về phía nhà nước
5.3.7.2. Về phía nhà đầu tư tư nhân
5.3.7.3. Về phía người sử dụng đường bộ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1: PHIẾU ĐIỀU TRA DOANH NGHIỆP

PHỤ LỤC 2: PHIẾU PHỎNG VẤN CÁN BỘ QUẢN LÝ, NGƯỜI SỬ DỤNG ĐƯỜNG BỘ, TỔ CHỨC TƯ VẤN VÀ ĐÀO TẠO VỀ CHÍNH SÁCH NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐẦU TƯ THEO HÌNH THỨC ĐTCT TRONG XÂY DỰNG ĐƯỜNG BỘ

PHỤ LỤC 3: TỔNG HỢP CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ THEO HÌNH THỨC ĐTCT TRONG XÂY DỰNG ĐƯỜNG BỘ DO BỘ GTVT LÀ CQNNCTQ

Tóm tắt

I. Tổng quan về chính sách nhà nước đối với đầu tư PPP trong xây dựng đường bộ

Chính sách nhà nước về đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) trong xây dựng đường bộ Việt Nam đã được hình thành nhằm giải quyết những thách thức trong việc huy động vốn cho phát triển hạ tầng giao thông. Đầu tư PPP được coi là một giải pháp hiệu quả để thu hút nguồn lực từ khu vực tư nhân, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp lý như Nghị định 63/2018/NĐ-CP để tạo hành lang pháp lý cho việc thực hiện các dự án PPP. Theo đó, các hình thức hợp đồng như BOT, BTO, BT được áp dụng rộng rãi trong lĩnh vực xây dựng đường bộ. Điều này không chỉ giúp giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước mà còn tạo điều kiện cho các nhà đầu tư tư nhân tham gia vào quá trình phát triển hạ tầng giao thông.

1.1. Khái niệm và đặc trưng của đầu tư PPP

Đầu tư PPP trong xây dựng đường bộ được hiểu là hình thức hợp tác giữa nhà nước và khu vực tư nhân trong việc đầu tư, xây dựng và quản lý các công trình hạ tầng giao thông. Đặc trưng của hình thức này bao gồm việc chia sẻ rủi ro giữa các bên, sự tham gia của khu vực tư nhân trong việc quản lý và vận hành công trình, cũng như việc áp dụng các tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư. Đầu tư PPP không chỉ giúp tăng cường nguồn lực tài chính mà còn nâng cao chất lượng công trình thông qua việc áp dụng công nghệ và quản lý hiện đại từ phía nhà đầu tư tư nhân.

1.2. Các hình thức đầu tư PPP trong xây dựng đường bộ

Các hình thức đầu tư PPP phổ biến trong xây dựng đường bộ bao gồm BOT (Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao), BTO (Xây dựng - Chuyển giao - Vận hành) và BT (Xây dựng - Chuyển giao). Mỗi hình thức có những ưu điểm và nhược điểm riêng, phù hợp với từng loại dự án và điều kiện cụ thể. Hình thức BOT thường được áp dụng cho các dự án lớn, có khả năng thu hồi vốn qua phí sử dụng, trong khi BTO và BT thường phù hợp với các dự án có tính chất công cộng cao, ít khả năng thu hồi vốn trực tiếp từ người sử dụng.

II. Thực trạng chính sách nhà nước đối với đầu tư PPP trong xây dựng đường bộ

Thực trạng chính sách nhà nước đối với đầu tư PPP trong xây dựng đường bộ Việt Nam hiện nay cho thấy nhiều điểm mạnh nhưng cũng tồn tại không ít hạn chế. Chính phủ đã có những nỗ lực đáng kể trong việc xây dựng khung pháp lý cho đầu tư PPP, tuy nhiên, việc thực thi chính sách còn gặp nhiều khó khăn. Một số dự án PPP đã được triển khai thành công, nhưng vẫn còn nhiều dự án chưa đạt được kỳ vọng do thiếu sự đồng bộ trong quy trình lựa chọn nhà đầu tư và phân bổ rủi ro. Hơn nữa, sự thiếu minh bạch trong các hợp đồng PPP cũng là một vấn đề cần được giải quyết để thu hút thêm nhà đầu tư tư nhân.

2.1. Đánh giá thực trạng đầu tư PPP trong xây dựng đường bộ

Đầu tư PPP trong xây dựng đường bộ đã có những bước tiến đáng kể trong thời gian qua. Nhiều dự án lớn đã được triển khai, góp phần cải thiện hạ tầng giao thông. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều dự án gặp khó khăn trong việc huy động vốn và thực hiện đúng tiến độ. Các nhà đầu tư thường gặp phải rủi ro trong việc thu hồi vốn, do đó cần có chính sách rõ ràng hơn về phân bổ rủi ro giữa nhà nước và tư nhân.

2.2. Những hạn chế trong chính sách đầu tư PPP

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong việc xây dựng chính sách đầu tư PPP, nhưng vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế. Các quy định về lựa chọn nhà đầu tư chưa thực sự minh bạch, dẫn đến tình trạng cạnh tranh không công bằng. Hơn nữa, việc phân bổ rủi ro giữa nhà nước và tư nhân chưa được quy định rõ ràng, gây khó khăn cho các nhà đầu tư trong việc xác định trách nhiệm của mình. Điều này cần được khắc phục để tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển đầu tư PPP trong xây dựng đường bộ.

III. Giải pháp hoàn thiện chính sách nhà nước đối với đầu tư PPP trong xây dựng đường bộ

Để hoàn thiện chính sách nhà nước đối với đầu tư PPP trong xây dựng đường bộ, cần có những giải pháp đồng bộ và hiệu quả. Trước hết, cần nâng cao tính minh bạch trong quy trình lựa chọn nhà đầu tư và ký kết hợp đồng. Các tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư cần được công khai và rõ ràng hơn để tạo điều kiện cho các nhà đầu tư tham gia. Bên cạnh đó, cần có các chính sách ưu đãi hợp lý để khuyến khích khu vực tư nhân tham gia vào các dự án PPP. Cuối cùng, việc tăng cường quản lý và giám sát các dự án PPP cũng là một yếu tố quan trọng để đảm bảo hiệu quả đầu tư.

3.1. Nâng cao tính minh bạch trong quy trình đầu tư

Tính minh bạch trong quy trình đầu tư là yếu tố quan trọng để thu hút nhà đầu tư. Cần công khai các thông tin liên quan đến dự án, từ quy trình lựa chọn nhà đầu tư đến các điều khoản trong hợp đồng. Điều này không chỉ giúp tăng cường niềm tin của nhà đầu tư mà còn giảm thiểu tình trạng tham nhũng và lãng phí trong đầu tư công.

3.2. Chính sách ưu đãi cho nhà đầu tư tư nhân

Chính sách ưu đãi cần được thiết kế một cách hợp lý để khuyến khích nhà đầu tư tư nhân tham gia vào các dự án PPP. Các ưu đãi có thể bao gồm miễn giảm thuế, hỗ trợ tài chính, hoặc các điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận đất đai. Điều này sẽ tạo động lực cho các nhà đầu tư tham gia vào việc xây dựng hạ tầng giao thông, góp phần phát triển kinh tế đất nước.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐẦU TƯ THEO HÌNH THỨC ĐỐI TÁC CÔNG TƯ TRONG XÂY DỰNG ĐƯỜNG BỘ Hình thức ĐTCT được sử dụng phổ biến tại các nước trên thế giới từ những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX. Kể từ năm 1992, khi Chính phủ Vương quốc Anh đưa ra “Sáng kiến tài chính tư nhân” nhằm khuyến khích hình thức ĐTCT trong cung ứng dịch vụ công, nhiều mô hình tương tự được áp dụng tại nhiều nước phát triển và sau đó là các quốc gia đang phát triển. Đến nay ĐTCT đã thể hiện là một phương thức có triển vọng trong cung cấp hàng hóa công cộng, và vì vậy thu hút mối quan tâm của các nhà khoa học. Trong quá trình tổng quan nghiên cứu, tác giả tổng hợp được nhiều công trình nghiên cứu liên quan tới đầu tư theo hình thức ĐTCT cũng như CSNN đối với đầu tư theo hình thức ĐTCT trong xây dựng đường bộ.

Các công trình nghiên cứu nước ngoài Về mặt khoa học, lý luận, các nghiên cứu tập trung vào việc làm rõ khái niệm ĐTCT (Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), 2002; Widdus, 2005; LiYaning, Qiping và Eddie, 2009), động cơ của nhà nước và tư nhân khi tham gia vào ĐTCT (Maskin và Tirole, 2007; Carmona, 2010), đặc điểm của ĐTCT (Ngân hàng Châu Á (ADB), 2008; Yongjian, Xinping và Shouqing, 2008), loại hình ĐTCT (Yescombe, 2007; ADB, 2008; V. Brook, 2010), các yếu tố tác động tới sự phát triển ĐTCT (Martin, D. và cộng sự, 2010; Abdul-Aziz và P. Dưới giác độ thực tiễn, công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu, tư vấn quốc tế tập trung vào việc khảo sát thực trạng, phân tích và đánh giá tình hình thực hiện và đưa ra khuyến nghị cho các nước đang phát triển.

Các báo cáo nghiên cứu thực tiễn rất đa dạng, có thể kể đến Sahni (2006), Ho Paul (2006), Banks (2008a), Kauffmann (2008), Tanaka (2008) và các tổ chức quốc tế như ADB, WB v. Theo phạm vi không gian, ADB khẳng định ĐTCT đã tồn tại ở đa số các quốc gia đang phát triển. Mặc dù vậy, khả năng thu hút nguồn vốn thành công lại chỉ tập trung vào một số nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil, Ba Lan. Trái với kỳ vọng của chính phủ nhiều nước, ĐTCT có thể phát triển ở những nước này, nhưng lại kém phát triển ở những nước khác.

luan an 8 Theo lĩnh vực hoạt động, ĐTCT được thiết lập trong cung cấp các dịch vụ công và đầu tư vào việc xây dựng công trình kết cấu hạ tầng. Các lĩnh vực phát triển mạnh của ĐTCT là giao thông, môi trường, năng lượng, viễn thông (ADB, 2008). Tại các nước Đông Á và Thái Bình Dương, vốn đầu tư theo hình thức ĐTCT vào lĩnh vực năng lượng chiếm 35% (đạt 63 tỉ đô la) trong khu vực, lĩnh vực viễn thông chiếm 30% (đạt 54 tỉ đô la), lĩnh vực giao thông chiếm 25% (đạt 46 tỉ đô la) giai đoạn 2000 - 2009 (Lâm Văn Triển, 2010). Mặc dù những điểm tích cực và lợi ích của ĐTCT trong phát triển kết cấu hạ tầng đang tiếp tục là động lực chính cho việc tăng cường ứng dụng mô hình này trong tương lai, Smith (2008) đã chỉ ra những thất bại trong đầu tư bằng phương thức ĐTCT vào xây dựng kết cấu hạ tầng tại các nước đang phát triển giai đoạn 1990-2006 và khẳng định sự ủng hộ và cam kết về mặt chính trị có ý nghĩa sống còn đảm bảo sự thành công và bền vững cho các hợp đồng theo ĐTCT.

Đến lượt mình, yếu tố chính trị lại phụ thuộc vào sự độc lập về mặt chính sách, tính tin cậy và ổn định của khung pháp lý và hợp đồng, phát triển thị trường vốn, các giải pháp hạn chế rủi ro. Những thách thức chính đối với ĐTCT trong một nền kinh tế mới nổi được Banks (2008b) đưa ra bao gồm: nhà đầu tư tư nhân thiếu năng lực về mặt chuyên môn để tiến hành ĐTCT, nhà nước không đủ năng lực và kỹ năng cần thiết cho quản lý ĐTCT, ĐTCT có thể đồng nghĩa với việc nhà nước mất kiểm soát. Ở cấp độ ngành, Finlayson (2008) cho thấy rằng ĐTCT không thể áp dụng cho mọi dự án đầu tư. Những yêu cầu đặt ra để có thể áp dụng hình thức ĐTCT là: (i) quy mô đầu tư phải đủ lớn để bù đắp chi phí giao dịch cao, (ii) yêu cầu đối với đầu ra phải được xác định rõ, (iii) nhà đầu tư tư nhân phải đủ năng lực cạnh tranh để có thể đấu thầu và thực hiện đầu tư, (iv) ĐTCT tối đa hóa hiệu quả vốn đầu tư, (v) đảm bảo nguyên tắc phân chia rủi ro cho bên có năng lực quản lý tối ưu.

ĐTCT trong xây dựng đường bộ cũng được nghiên cứu trên giác độ thực tiễn ở nhiều nước. Reeves (2005) đã xác định một số tiêu chí kinh tế để đánh giá đầu tư đường bộ theo mô hình ĐTCT bao gồm mức độ cạnh tranh để phục vụ thị trường tốt hơn, tính hiệu quả và nâng cao giá trị đồng tiền, phân bổ rủi ro, đổi mới và tái cơ cấu tài chính. Singh (2006) và Chung (2010) đã nghiên cứu về kiểm soát rủi ro tài chính trong giai đoạn khai thác công trình. Nghiên cứu kinh nghiệm thực hiện đầu tư xây dựng đường phục vụ hoạt động mặt đất cho sân bay Brisbane (Queensland, Australia), Banks (2008a) cho rằng những yêu cầu để áp dụng ĐTCT thành công cho đầu tư xây dựng đường bộ là: (i) cam kết luan an 9 chính trị mạnh mẽ, (ii) có luận chứng kinh tế đúng đắn, (iii) tìm hiểu kỹ thị trường trước khi tiến hành quá trình đấu thầu và (iv) năng lực của nhóm cán bộ chuẩn bị đầu tư.

Pascual (2008) nghiên cứu dự án đường cao tốc theo hình thức ĐTCT tại Phi-lip- pin và chỉ ra rằng, điều kiện tiên quyết để đi đến thành công của đầu tư là việc thể chế hóa ĐTCT, thể hiện ở khung pháp lý và chính sách đủ mạnh và một chương trình truyền thông toàn diện. Các nghiên cứu liên quan đến chính sách của nhà nước đối với đầu tư theo hình thức ĐTCT thường tập trung vào nhà nước (chủ thể ban hành và tổ chức thực thi chính sách), khu vực tư nhân (đối tượng chính sách) và các chính sách bộ phận đối với đầu tư theo hình thức ĐTCT. Theo Yescombe (2007), ADB (2008), nhà nước là lực lượng quyết định sự phát triển của ĐTCT, có trách nhiệm tạo môi trường cho ĐTCT bao gồm khung chính sách, khung pháp lý, thống nhất các quy định pháp luật, thủ tục đấu thầu, nguồn vốn và các công cụ tài chính, trọng tài, giải quyết tranh chấp, giám sát và đánh giá. ĐTCT được thúc đẩy bởi động lực từ phía nhà nước do trách nhiệm đảm bảo hạ tầng giao thông vận tải cho sự phát triển của nền kinh tế - xã hội trong giới hạn nguồn lực hạn hẹp (Maskin và Tirole, 2007), tuy nhiên phương thức này cũng đòi hỏi xác định được một cách rõ ràng về vai trò, trách nhiệm và rủi ro đặt ra đối với nhà nước (ADB, 2008).

Jui-Sheng Chou và cộng sự (2012) trong nghiên cứu về các nhân tố quan trọng và phân bổ rủi ro chính sách ĐTCT sử dụng phương pháp phân tích giá trị trung bình (MVA) và phân tích nhân tố (CFA) để tính toán mức độ quan trọng tương đối và khả năng giải thích của hai nhóm yếu tố trong chính sách ĐTCT là nhóm yếu tố thành công chủ yếu và nhóm yếu tố về phân bổ rủi ro giữa nhà nước và tư nhân Từ phía khu vực nhà đầu tư tư nhân, động lực tham gia vào ĐTCT được quyết định bởi kỳ vọng có được lợi nhuận hợp lý một cách lâu dài, bền vững cùng với các cơ hội kinh doanh mới (Yescombe, 2007). Để có thể tham gia vào hợp đồng ĐTCT, đối tác tư nhân phải có năng lực tài chính đủ mạnh, lựa chọn được dự án đầu tư tốt, kiên trì theo đuổi lợi ích hợp lý dài hạn. Khi tham gia vào ĐTCT, khu vực tư nhân cần tiến hành những biện pháp nhằm nâng cao giá trị đồng tiền đầu tư (Banks, 2008b). Mức độ tham gia của khu vực tư nhân cũng phụ thuộc vào việc xác định được rõ ràng vai trò, trách nhiệm lợi nhuận và rủi ro tương xứng với kết quả và những đóng góp.

Từ góc độ đối tượng thụ hưởng và các bên khác có liên quan, nghiên cứu của ADB (2008) cho thấy rằng trong một số trường hợp, ĐTCT tập trung vào nhóm người có thu nhập thấp sẽ không đủ sức hấp dẫn đối với nhà đầu tư tư nhân. Những quan ngại từ phía người sử dụng, các nhà tài trợ và các tổ chức xã hội gợi luan an 10 ý những cách tiếp cận mới để phát triển ĐTCT trong việc đáp ứng nhu cầu của nhóm khách hàng thu nhập thấp, một mặt khuyến khích thúc đẩy khu vực tư nhân, mặt khác vẫn lưu ý đối tượng thụ hưởng là nhóm người thu nhập thấp, cân bằng rủi ro với lợi ích cho các bên. Tuy nhiên các nghiên cứu chưa xác định yếu tố có ảnh hưởng tới thái độ, hành vi và động cơ của khu vực nhà đầu tư tư nhân và các nhà tài trợ cũng như những gợi ý chính sách nhằm nâng cao về nhận thức và thúc đẩy sự tham gia của những tác nhân này vào ĐTCT. FelixVillalba-Romero, ChampikaLiyanage và AthenaRoumboutsos (2015) sử dụng nghiên cứu so sánh 4 tình huống điển hình về đầu tư xây dựng công trình đường bộ theo hình thức ĐTCT tại 4 quốc gia khác nhau là Hy Lạp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Vương quốc Anh và gợi ý thiết kế chính sách bền vững, hiệu quả cho ĐTCT trong xây dựng đường bộ.

Nhóm tác giả xem xét và so sánh các khía cạnh phát triển bền vững cơ bản (xã hội, môi trường và kinh tế) và các yếu tố quản lý đầu tư truyền thống (thời gian, chi phí và chất lượng), từ đó đưa ra gợi ý chính sách tập trung vào các yếu tố của giai đoạn xây dựng, đàm phán và tài trợ đầu tư theo hình thức ĐTCT để phát triển một cách bền vững. Sử dụng phương pháp nghiên cứu khám phá dựa trên nghiên cứu định tính, Amirullah (2014) đã tổng hợp, phân tích và đánh giá về chính sách của nhà nước đối với đầu tư theo hình thức ĐTCT tại 8 quốc gia Nam Á và chỉ ra rằng chính sách và quy định ĐTCT áp dụng mô hình khác nhau bao gồm hợp đồng quản lý, cho thuê, BOT, BOT-Toll, BOT-Annuity, BT, BTO, BLT, BOOT…, tuy nhiên lựa chọn mô hình nào tùy thuộc vào đặc điểm công trình đầu tư.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Chính sách nhà nước đối với đầu tư theo hình thức đối tác công tư trong xây dựng đường bộ tại Việt Nam" của tác giả Lê Hồng Minh, dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Thị Ngọc Huyền, trình bày những chính sách quan trọng của nhà nước liên quan đến mô hình đầu tư PPP (Public-Private Partnership) trong lĩnh vực xây dựng hạ tầng giao thông. Bài viết không chỉ phân tích các chính sách hiện hành mà còn chỉ ra những lợi ích mà mô hình này mang lại cho sự phát triển hạ tầng đường bộ tại Việt Nam, từ đó giúp độc giả hiểu rõ hơn về vai trò của đầu tư công tư trong việc cải thiện cơ sở hạ tầng và thúc đẩy kinh tế.

Để mở rộng thêm kiến thức về quản lý xây dựng và đầu tư, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ về quản lý xây dựng và đấu thầu hợp đồng cho công trình nông nghiệp tại Phú Thọ, nơi đề cập đến tổ chức đấu thầu và quản lý hợp đồng trong xây dựng. Bên cạnh đó, Hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình cũng là một tài liệu hữu ích, cung cấp cái nhìn sâu sắc về quản lý dự án đầu tư xây dựng. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư của khu vực tư nhân theo hình thức PPP trong lĩnh vực hạ tầng giao thông tại Việt Nam, giúp bạn nắm bắt được các yếu tố tác động đến đầu tư tư nhân trong mô hình PPP. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về chính sách và thực tiễn đầu tư trong lĩnh vực xây dựng tại Việt Nam.