CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. LÝ THUYẾT VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Theo Fitch (1997) thì “RRTD là một loại rủi ro mà ngân hàng không thể nhận được khoản thanh toán của người vay với khoản nợ như đã thỏa thuận trong hợp đồng, dẫn đến sai hạn trả nợ và nghĩa vụ trả nợ. Điều này tạo điều kiện hình thành RRTD tại NHTM, đây là một loại rủi ro song song với rủi ro lãi suất tại ngân hàng”.
Theo Ủy ban Basel về Giám sát ngân hàng (2006) thì “RRTD là một trong những rủi ro xảy ra trong quá trình cấp tín dụng, nó được phát sinh khi khách hàng được cấp tín dụng không muốn hay không có khả năng để thanh toán các khoản nợ đúng hạn với ngân hàng. RRTD là rủi ro mà ngân hàng phải hứng chịu sự thất thoát tài sản khi bên khách hàng được cấp tín dụng không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ vô điều kiện như trên hợp đồng, trong đó bao gồm cả gốc và lãi của khoản vay ”. Theo Nguyễn Thị Thu Phương (2015) thì “RRTD tại NHTM được hình thành từ việc mà khách hàng vay tiền không sẵn sàng hoặc không có năng lực để thanh toán các khoản gốc và lãi vay như đúng thời hạn mà đã giao kết với ngân hàng. RRTD không chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay mà còn bao gồm nhiều hoạt động mang tính chất tín dụng khác của ngân hàng như bảo lãnh, cam kết, chấp nhận tài trợ thương mại, cho vay ở thị trường liên ngân hàng, tín dụng thuê mua, đồng tài trợ.
và RRTD có thể do bản thân ngân hàng gây ra, cũng có thể thuộc về phía khách hàng, hoặc do các nguyên nhân khách quan khác”. Theo Nguyễn Thị Kim Nhung và cộng sự (2017) “RRTD là thuật ngữ phổ biến được sử dụng trong hoạt động cấp tín dụng của các NHTM hay trên thị trường tài chính. Đây được xem là rủi ro mà khách hàng không thể chi trả được khoản nợ vay của mình với 8 ngân hàng khi đã đến hạn thanh toán. Điều đó dẫn đến ngân hàng hay còn được gọi là bên cho vay phải chịu rủi ro này khi chấp nhận hợp đồng tín dụng.
Biểu hiện chính của RRTD là khách hàng chậm trả nợ, trả không đầy đủ hoặc không trả nợ khi đến hạn kể cả gốc và lãi. Do đó, tạo ra những tổn thất rất lớn về tài chính cũng như thu nhập trong hoạt động kinh doanh của NHTM”. Tóm lại, từ những định nghĩa trên thì đối với luận văn này thì RRTD được hiểu là rủi ro rủi ro xuất hiện trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng với bên vay gồm có: các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp và các cá nhân, khi người đi vay này sai hẹn hoặc không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán khoản tiền gốc và lãi. Sự sai hẹn này có thể là do khách hàng trả chậm, chỉ trả một phần hoặc không có khả năng chi trả cho ngân hàng như đúng nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng với bất kỳ lý do nào sẽ gây ra những tổn thất, mất mát to lớn về mặt tài chính và khó khăn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Là một loại rủi ro được cho là phức tạp và khó xử lý nhất có thể xảy ra trong các hoạt động của ngân hàng. Nếu không được phát hiện và giải quyết kịp thời, RRTD có khả năng sẽ khiến NHTM phải đối mặt với hàng loạt các rủi ro khác, dẫn đến các bất ổn khó lường trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, không chỉ gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng về lợi nhuận, nguồn vốn cho ngân hàng mà còn gây ra những bất ổn về kinh tế - xã hội. Trong trường hợp tình hình nợ xấu căng thẳng khiến ngân hàng rơi vào tình trạng mất cân bằng nguồn vốn, mất khả năng thanh toán có thể dẫn đến phá sản, làm mất lòng tin đối với người gửi tiền, ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng sau này. Phân loại rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Theo Nguyễn Văn Tiến (2015) thì RRTD được phân thành 2 loại gồm rủi ro danh mục và rủi ro giao dịch.
Rủi ro giao dịch 9 Rủi ro này có nguyên nhân từ những hạn chế trong quá trình giao dịch, đánh giá khách hàng trước khi quyết định cho vay, xem xét và phê duyệt hồ sơ vay, theo dõi khoản vay và quá trình thực hiện giao dịch. Rủi ro giao dịch có 3 thành phần chính gồm: Rủi ro lựa chọn: Khả năng xảy ra rủi ro trong quá trình các tổ chức cung cấp dịch vụ tín dụng đánh giá và định giá khoản vay nhằm tìm ra phương án vay vốn phù hợp và mang lại hiệu quả tốt nhất cho khách hàng, từ đó hỗ trợ họ trong quá trình đưa ra quyết định cho vay. Rủi ro bảo đảm: Đây được xem là những nguy cơ phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo trong trong điều khoản của hợp đồng tín dụng, liên quan đến các loại TSĐB, đối tượng đảm bảo, cách thức và mức độ cho vay đối với giá trị tài sản thực của TSĐB đem thế chấp. Rủi ro nghiệp vụ: Rủi ro này liên quan đến các hoạt động quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, chủ yếu dựa trên hệ thống đánh giá rủi ro và kĩ thuật xử lý các khoản vay có dấu hiệu suy giảm về chất lượng tín dụng.
Ngoài ra tập trung vào sự cố hệ thống hoặc thậm chí là những hành vi gian lận trong quá trình thực hiện quy trình hay quy định của tín dụng. Rủi ro danh mục Rủi ro này phát sinh bắt nguồn từ các hạn chế trong việc quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, loại rủi ro gắn liền với danh mục cho vay không hiệu quả của NHTM. Gốc rễ của vấn đề này nằm trong việc đặt quá nhiều tài sản hoặc khoản nợ vào cùng một lĩnh vực kinh tế, ngành hoặc sản phẩm cụ thể. Rủi ro danh mục được chia thành 2 loại: Rủi ro nội tại: Là rủi ro phát sinh do các yếu tố, đặc điểm riêng biệt, mang tính độc đáo bên trong từng cá thể vay mượn hoặc trong môi trường kinh tế do tính chất hoạt động hoặc mục đích sử dụng khoản vay của khách hàng mang lại.
Rủi ro nội tại có thể 10 là cơ chế hoạt động, tình hình tài chính tổng quát của thị trường bị quá tải trong việc cung cấp tín dụng, kiểm soát nội bộ. Rủi ro tập trung: Phát sinh do một ngân hàng thực hiện những chính sách cấp tín dụng không đúng đắn, tập trung phạm vi nguồn vốn quá mức vào một nhóm khách hàng cụ thể; một ngành kinh tế nhất định, hoặc một lĩnh vực cụ thể trong một vùng địa lý nhất định, hoặc cùng một loại hình cho vay có mức độ rủi ro cao. Rủi ro này đến từ sự không đa dạng hóa và tăng cường tập trung cho các yếu tố quan trọng của ngân hàng. Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Theo Phan Thị Thu Hà (2013) thì hoạt động tín dụng của NHTM được xem là xương sống của nền kinh tế, mặt hác hoạt động này đem lại lớn nhất cho NHTM và nó gần như có mặt trong tất cả các khía cạnh của thị trường.
Do đó, RRTD xuất hiện không chỉ phát sinh từ nội bộ ngân hàng mà còn từ các khía cạnh khác ngoài tổ chức. Cụ thể đó là: 1. Nguyên nhân từ phía ngân hàng Năng lực nghiệp vụ và phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ ngân hàng: Có thể nói, nhân tố con người là nhân tố có vai trò đặc thù và chưa thể thay thế ở thời điểm hiện tại với bất kì một ngành nghề kinh doanh nào. Trong cục diện nền kinh tế, ngân hàng được coi là một ngành chủ chốt, có ảnh hưởng rất lớn đến việc lưu chuyển tiền tệ, làm tiền đề cho các hoạt động kinh doanh khác có cơ hội mở rộng phát triển.
Chính vì vậy, cán bộ ngân hàng đặc biệt là cán bộ tín dụng không chỉ cần có trình độ chuyên môn được đào tạo bài bản, có kinh nghiệm xem xét khách hàng, đánh giá khoản vay, thẩm định, phương án cho vay hiệu quả, đảm bảo tuân thủ theo các quy định pháp luật, luôn tỉnh táo trước những tình huống có thể xảy ra khi thực hiện nghiệp vụ cũng như đối mặt với khách hàng. Vấn đề về phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ ngân hàng thực sự đáng quan tâm trong thời điểm hiện tại. Hiện nay, tình trạng tham nhũng nghiêm 11 trọng đã xảy ra và nó đang trở thành nguyên nhân gốc rễ của nhiều vấn đề, đặc biệt là sự gia tăng của các vụ việc vi phạm trong lĩnh vực tín dụng. Những vụ việc này có tiềm năng gây ra những tác động rất lớn.
Chẳng hạn, nhân viên ngân hàng có thể tham gia vào việc làm giả hồ sơ vay, tăng giá trị tài sản thế chấp lên mức không hợp lý so với giá trị thực tế, hoặc thậm chí đánh giá tài sản của một dự án khác thay vì tài sản cụ thể trong hồ sơ. Tất cả những việc này dẫn tới việc cung cấp tín dụng mà không đảm bảo hiệu quả, và bỏ qua việc đánh giá rủi ro liên quan đến khách hàng. Từ đó dẫn đến các khoản vay của ngân hàng rơi vào tình trạng mất vốn, chuyển nhóm nợ gây ra những thiệt hại không nhỏ đến uy tín và hoạt động của ngân hàng. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng mà còn đảm bảo sự tin cậy từ phía khách hàng.
Để ngăn chặn tình trạng này, việc xây dựng và thực hiện các quy trình kiểm soát nội bộ cẩn thận và liên tục là cần thiết. Chính sách cho vay chưa rõ ràng, không phù hợp: Chính sách về việc cho vay của một ngân hàng được coi là phương châm hướng dẫn cho hoạt động tín dụng của ngân hàng đó, cung cấp sự hỗ trợ quan trọng cho những nhân viên tín dụng trong việc xác định hướng đúng khi thực hiện các nhiệm vụ. Để tối ưu hóa hoạt động cho vay và giảm thiểu RRTD, cần thiết phải xây dựng chính sách cho vay thống nhất, toàn diện và phù hợp với từng đặc điểm riêng của từng ngân hàng, giúp nhân viên tín dụng xác định đúng hướng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.