Luận văn thạc sĩ kinh tế nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng ngoại thương việt nam thông qua hoạt động quản trị quan hệ khách hàng crm trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

Chuyên đề nghiên cứu Nâng cao năng lực cạnh tranh ngân hàng ngoại thương Việt ..., cập nhật xu hướng mới, giá trị tham khảo cao cho chuyên gia chuyên

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ Kinh Tế

2007

143
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về CRM

Quản trị quan hệ khách hàng (CRM) là một chiến lược quan trọng trong ngành ngân hàng, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Năng lực cạnh tranh của ngân hàng ngoại thương Việt Nam phụ thuộc vào khả năng duy trì và phát triển mối quan hệ với khách hàng. Việc áp dụng CRM giúp ngân hàng hiểu rõ hơn về nhu cầu và mong muốn của khách hàng, từ đó tạo ra các dịch vụ phù hợp. Theo nghiên cứu, chi phí để giữ một khách hàng cũ thấp hơn nhiều so với việc thu hút khách hàng mới. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển lòng trung thành của khách hàng. Các ngân hàng cần xây dựng một môi trường làm việc hiệu quả, nơi mà nhân viên có thể phục vụ khách hàng tốt nhất. Việc này không chỉ giúp tăng cường lòng trung thành mà còn mở rộng thị trường và thị phần.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của CRM

CRM không chỉ là một phần mềm mà còn là một triết lý quản lý. Nó yêu cầu doanh nghiệp phải có sự lãnh đạo chiến lược và văn hóa kinh doanh phù hợp. CRM giúp doanh nghiệp phân đoạn khách hàng và đưa ra các giải pháp tối ưu cho từng nhóm. Đặc điểm nổi bật của CRM là việc tập trung vào khách hàng, từ đó tạo ra các mối quan hệ bền vững. Doanh nghiệp cần phải thay đổi cách thức hoạt động để phù hợp với yêu cầu của khách hàng trong thời đại công nghệ thông tin. Việc áp dụng công nghệ thông tin trong CRM giúp ngân hàng nâng cao hiệu quả hoạt động và cải thiện dịch vụ khách hàng.

II. Thực trạng hoạt động CRM tại Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam

Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam đã triển khai nhiều hoạt động CRM nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, thực trạng cho thấy vẫn còn nhiều thách thức. Việc áp dụng CRM chưa đồng bộ và thiếu sự đầu tư vào công nghệ thông tin. Nhiều ngân hàng vẫn sử dụng các phương pháp truyền thống trong quản lý khách hàng, dẫn đến việc không thể đáp ứng kịp thời nhu cầu của thị trường. Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập kinh tế, ngân hàng cần phải cải thiện quy trình quản lý quan hệ khách hàng để giữ chân khách hàng cũ và thu hút khách hàng mới. Việc này không chỉ giúp tăng cường thị phần mà còn nâng cao hiệu quả kinh doanh.

2.1. Đánh giá hoạt động CRM

Hoạt động CRM tại Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam đã có những bước tiến nhất định, nhưng vẫn cần cải thiện. Các chính sách về quản lý quan hệ khách hàng chưa thực sự hiệu quả. Nhiều khách hàng vẫn chưa hài lòng với dịch vụ, điều này ảnh hưởng đến lòng trung thành của họ. Ngân hàng cần phải đầu tư vào công nghệ và đào tạo nhân viên để nâng cao chất lượng dịch vụ. Việc cải thiện dịch vụ khách hàng không chỉ giúp ngân hàng giữ chân khách hàng mà còn tạo ra giá trị bền vững cho doanh nghiệp.

III. Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh qua CRM

Để nâng cao năng lực cạnh tranh, Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam cần triển khai một số giải pháp cụ thể. Đầu tiên, ngân hàng cần đầu tư vào công nghệ thông tin để cải thiện quy trình CRM. Việc này sẽ giúp ngân hàng thu thập và phân tích dữ liệu khách hàng một cách hiệu quả hơn. Thứ hai, ngân hàng cần xây dựng một môi trường làm việc tích cực, nơi mà nhân viên được khuyến khích phục vụ khách hàng tốt nhất. Cuối cùng, ngân hàng cần phát triển các chương trình khuyến mãi và dịch vụ khách hàng để thu hút và giữ chân khách hàng. Những giải pháp này không chỉ giúp ngân hàng nâng cao năng lực cạnh tranh mà còn tạo ra giá trị bền vững trong dài hạn.

3.1. Đề xuất giải pháp cụ thể

Ngân hàng cần xây dựng một chiến lược CRM rõ ràng, bao gồm việc phân tích dữ liệu khách hàng để hiểu rõ hơn về nhu cầu của họ. Việc này sẽ giúp ngân hàng phát triển các sản phẩm và dịch vụ phù hợp. Đồng thời, ngân hàng cũng cần chú trọng đến việc đào tạo nhân viên để họ có thể phục vụ khách hàng một cách tốt nhất. Cuối cùng, ngân hàng cần thường xuyên đánh giá và cải tiến quy trình CRM để đảm bảo rằng nó luôn phù hợp với yêu cầu của thị trường.

09/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I. Tổng quan về quản trị quan hệ khách hàng (CRM) Chương II. Thực trạng hoạt động CRM tại Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam Chương III. Giải pháp và kiến nghị nâng cao khả năng cạnh tranh thông qua hoạt động CRM tại Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam.

1 CHƢƠNG I TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ QUAN 1HỆ KHÁCH HÀNG (CRM) 1. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA CRM Trong nền kinh tế cạnh tranh ngày nay các công ty đều ra sức giữ khách hàng của mình. Họ đều vấp phải một thực tế là chi phí để thu hút một khách hàng mới có thể lớn gấp năm, sáu lần chi phí để giữ một khách hàng cũ luôn hài lòng. Marketing tấn công thƣờng tốn kém hơn marketing phòng ngự, vì nó đòi hỏi nhiều công sức và chi phí để làm cho khách hàng đang hài lòng từ bỏ những ngƣời cung ứng hiện có của mình.

Nhƣng, lý thuyết và thực tiễn marketing cổ điển lại tập trung vào nghệ thuật thu hút khách hàng mới chứ không phải là giữ khách hàng hiện có. Nó cũng nhấn mạnh đến việc tạo ra giao dịch chứ không phải là những mối quan hệ. Tuy nhiên, ngày nay đã có nhiều công ty nhận thức đƣợc tầm quan trọng của việc giữ khách hàng hiện có để biến họ thành những khách hàng trung thành. Trên cơ sở đó, Marketing có một hình thức mới: marketing quan hệ.

Các doanh nghiệp cũng bắt đầu làm quen với một khái niệm mới đã đƣợc thực chứng đó là khái niệm: quản trị quan hệ khách hàng (Customer Relationship Management - CRM). Tuy nhiên, trƣớc khi tìm hiểu bản chất của CRM và cách thức doanh nghiệp có thể triển khai hoạt động này ta sẽ tìm hiểu một số khái niệm có liên quan. Các khái niệm cơ bản * Khách hàng Tuỳ theo hoàn cảnh và mục đích nghiên cứu mà ngƣời ta đã đƣa ra nhiều cách định nghĩa khác nhau về khách hàng. Với phạm vi và tính chất nghiên cứu của đề tài này, khách hàng đƣợc tiếp cận nhƣ sau: “Khách hàng là ngƣời sử dụng hoặc tiếp nhận sản phẩm, dịch vụ của một cá nhân hoặc một tổ chức”[28].

Với định nghĩa trên thì khách hàng đƣợc hiểu khá rộng. Ở đây, khách hàng không chỉ bao gồm những ngƣời mua hàng của doanh nghiệp mà còn bao gồm tất cả những ngƣời sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp. Khách hàng còn là những 2 ngƣời trong cùng doanh nghiệp tiếp nhận sản phẩm, dịch vụ của những cá nhân, phòng ban trong doanh nghiệp đó. * Quan hệ khách hàng Theo Từ điển tiếng Việt do TS.

Hoàng Phê làm chủ biên thì “Quan hệ là sự gắn liền về mặt nào đó giữa hai hay nhiều sự việc khác nhau khiến sự vật này có biến đổi, thay đổi thì có thể tác động đến sự vật kia” [14]. Định nghĩa này cho ta thấy quan hệ khách hàng là quan hệ mà trong đó doanh nghiệp và khách hàng ràng buộc lẫn nhau. Sự biến đổi của một trong hai yếu tố hoặc doanh nghiệp hoặc khách hàng sẽ ảnh hƣởng đến yếu tố còn lại. Đây là mối quan hệ hai chiều, đôi bên cùng có lợi.

Dựa trên mức độ giữ liên lạc giữa doanh nghiệp và khách hàng ta có thể chia quan hệ khách hàng thành năm mức độ quan hệ nhƣ sau[9, tr.59]: Cơ bản: nhân viên bán hàng bán sản phẩm nhƣng không tiếp xúc với khách hàng thêm nữa. Có lặp lại: nhân viên bán hàng bán xong sản phẩm có khuyến khích khách hàng liên hệ lại khi có bất kỳ câu hỏi hay điều khiếu nại gì. Có trách nhiệm: sau khi bán hàng ít lâu nhân viên bán hàng liên lạc lại với khách hàng để kiểm tra xem sản phẩm có đáp ứng đƣợc những mong đợi của khách hàng không. Nhân viên bán hàng cũng đề nghị khách hàng góp ý cải tiến sản phẩm hoặc nêu lên những điều cụ thể đã làm họ thất vọng.

Thông tin này sẽ giúp công ty không ngừng cải tiến sản phẩm của mình. Có lặp lại nhiều lần: thỉnh thoảng nhân viên bán hàng liên lạc với khách hàng để góp ý về cách sử dụng sản phẩm tốt hơn hay giới thiệu sản phẩm mới công dụng hơn. Cộng tác: công ty thƣờng xuyên giữ liên lạc với khách hàng, tƣ vấn cho khách hàng hay giúp khách hàng đạt kết quả cao hơn. * Quản trị quan hệ khách hàng Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về quản trị quan hệ khách hàng (Customer Relationship Management - CRM) nhƣng một trong những định nghĩa có hƣớng tiếp cận phù hợp có thể nêu ra đây là định nghĩa của công ty CRM (UK) Ltd : 3 “Quản trị quan hệ khách hàng là việc thiết lập, duy trì, phát triển và tối đa hoá lợi ích lâu dài của khách hàng và doanh nghiệp.

Một chiến lƣợc CRM thành công là một chiến lƣợc tập trung vào việc thấu hiểu các nhu cầu và mong muốn của khách hàng và cố gắng đạt đƣợc nó nhờ việc đặt những nhu cầu đó vào vị trí trung tâm của doanh nghiệp và bằng cách kết hợp chúng với chiến lƣợc, với con ngƣời, công nghệ và quy trình kinh doanh của doanh nghiệp”[20]. Từ các định nghĩa trên ta có thể rút ra rằng quản trị quan hệ khách hàng là một hoạt động gắn liền với hình thức kinh doanh dựa trên mối quan hệ thông qua các hoạt động nhận biết, xây dựng, duy trì và củng cố mối quan hệ giữa doanh nghiệp với khách hàng. Thực chất của việc kinh doanh dựa trên mối quan hệ là mối quan hệ phi mua bán đƣợc xây dựng trên cơ sở của mối quan hệ mua bán, nhằm đảm bảo cho quan hệ mua bán có thể đƣợc tiếp tục không ngừng đƣợc xác lập và phát triển. Các loại khách hàng Khách hàng dựa trên định nghĩa đã nêu trong phần 1.

có thể phân ra thành hai loại đó là khách hàng nội bộ và khách hàng bên ngoài. * Khách hàng nội bộ “Khách hàng nội bộ là những cá nhân hoặc phòng ban trong một tổ chức nhận đƣợc sản phẩm hoặc dịch vụ từ cá nhân hoặc phòng ban khác trong cùng tổ chức đó”[28]. * Khách hàng bên ngoài “Khách hàng bên ngoài là các cá nhân hoặc các tổ chức nhận đƣợc hàng hoá hoặc dịch vụ của doanh nghiệp thƣờng thông qua trao đổi, mua bán. Khách hàng bên ngoài có thể là các doanh nhân, các đối tác, ngân hàng, đối thủ cạnh tranh và các cơ quan chính quyền”[28].

Quá trình hình thành và phát triển CRM 1. Hoàn cảnh ra đời CRM Thế giới đang chuyển mình mạnh mẽ từ thời đại công nghiệp sang thời đại công nghệ thông tin. Những thay đổi diễn ra nhanh chóng dƣới tác động của những tiến bộ khoa học công nghệ, của làn sóng toàn cầu hoá, và tự do hoá. Những thay 4 đổi này đang ngày càng tác động mạnh mẽ tới hoạt động Marketing cũng nhƣ hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp.

Trƣớc hết, là sự thay đổi về khách hàng: khác với trƣớc đây, khách hàng ngày nay có thể mua hàng trực tuyến ở bất cứ nơi đâu: cơ quan, văn phòng, ở nhà… thông qua những tiện ích của mạng internet, điện thoại cầm tay hay các công cụ hiện đại khác. Các thông tin về sản phẩm, dịch vụ, giá cả, nhà cung cấp… cũng đƣợc thu thập một cách đơn giản chỉ với động tác “nhấn chuột”. Chính vì vậy, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng trở lên gay gắt. Họ phải tranh giành từng phần nhỏ khách hàng và khi đã hầu nhƣ không còn phân đoạn khách hàng bị bỏ trống nữa họ phải làm mọi cách để giữ chân các khách hàng hiện hữu của mình trƣớc đối thủ cạnh tranh.

Thứ hai, đó là sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin: những công nghệ tiên tiến cho phép truyền và thu thập thông tin nhanh và đơn giản đã tác động mạnh mẽ tới cả doanh nghiệp và khách hàng. Khách hàng có thể chìm ngập trong hàng loạt các thông tin từ sách, báo, đài, tivi, internet, và rất nhiều, rất nhiều các phƣơng tiện truyền thông khác nữa. Do đó, khách hàng có đầy đủ thông tin hơn, hiểu biết hơn về sản phẩm và doanh nghiệp. Quyền lực của ngƣời mua lên cao hơn bao giờ hết.

Và doanh nghiệp phải đối mặt với xu thế giảm sút lòng trung thành của khách hàng. Thứ ba, lối sống đang ngày càng thay đổi dẫn đến những thay đổi lớn trong mô hình tiêu dùng: ngày nay, nhiều phụ nữ tham gia vào lực lƣợng lao động hơn, số ngƣời già tăng lên, số lƣợng hộ độc thân cũng tăng lên, nếp sống công nghiệp gấp gáp… Ngƣời tiêu dùng bận rộn hơn, ít thời gian dành cho việc mua sắm cũng nhƣ thực hiện các dịch vụ nên nhu cầu có một nhà cung cấp quen thuộc đáp ứng đƣợc các yêu cầu nhƣ: nhanh chóng, tin cậy, thuận tiện luôn đƣợc đặt ra. Bên cạnh đó, quá trình toàn cầu hoá và tự do hoá thƣơng mại một lần nữa lại làm gay gắt hơn sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp. Không còn tồn tại cái gọi là “biên giới quốc gia” và “cạnh tranh trong nƣớc” mà chỉ còn tồn tại khái niệm “biên giới mềm” với sự cạnh tranh đa quốc gia của các doanh nghiệp mà ẩn mình đằng sau là các chính phủ các nƣớc.

5 Các doanh nghiệp sau nhiều năm tiến hành các biện pháp marketing truyền thống nhƣ quảng cáo trên các phƣơng tiện thông tin đại chúng, gửi thƣ chào hàng tới hàng loạt khách hàng và chờ khách hàng kéo đến mua sản phẩm, dịch vụ đã thấy các biện pháp này không còn đạt đƣợc kết quả nhƣ mong đợi. Những dịch vụ tự động ngày càng gia tăng nhƣng vẫn không làm thay đổi mức độ thoả mãn của khách hàng. Trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin ngày nay, sự cạnh tranh chỉ đơn giản là một động tác ấn chuột trên máy tính. Các công ty đều nhanh chóng nhận thấy thƣơng hiệu không phải là tài sản mà lòng trung thành của khách hàng với thƣơng hiệu mới là giá trị thực sự.

Có khách hàng trung thành, doanh nghiệp mới đảm bảo có một tƣơng lai bền vững và phát triển. Và điều này thúc đẩy sự ra đời một lý thuyết marketing và quản lý mới đó là quản trị quan hệ khách hàng. Các lý thuyết thúc đẩy sự ra đời của CRM Bên cạnh những thay đổi của công nghệ, của đời sống và môi trƣờng kinh doanh thì sự ra đời của những lý thuyết marketing mới cùng với những con số thống kê kinh tế cũng tạo nền tảng và tiền đề cho sự ra đời của lý thuyết quản trị quan hệ khách hàng. Trong cuốn “Quản trị quan hệ khách hàng” do giáo sƣ Paul Gray khoa công nghệ thuộc trƣờng Claremont Mỹ xuất bản năm 2001 đã đề cập đến những con số thống kê sau [19, tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nâng cao năng lực cạnh tranh ngân hàng ngoại thương Việt Nam qua CRM trong hội nhập kinh tế" tập trung vào việc sử dụng hệ thống quản lý quan hệ khách hàng (CRM) để cải thiện khả năng cạnh tranh của ngân hàng ngoại thương Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu. Tác giả phân tích các yếu tố chính ảnh hưởng đến sự cạnh tranh của ngân hàng, đồng thời đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm tối ưu hóa quy trình phục vụ khách hàng và nâng cao chất lượng dịch vụ. Độc giả sẽ nhận thấy rằng việc áp dụng CRM không chỉ giúp ngân hàng hiểu rõ hơn về nhu cầu của khách hàng mà còn tạo ra những lợi thế cạnh tranh bền vững.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các khía cạnh khác liên quan đến năng lực cạnh tranh trong ngành ngân hàng, hãy tham khảo bài viết Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại Việt Nam để có cái nhìn sâu sắc hơn về các chiến lược cạnh tranh. Ngoài ra, bài viết Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng công thương Việt Nam cũng sẽ cung cấp cho bạn những thông tin hữu ích về cách thức các ngân hàng khác đang cải thiện vị thế của mình. Cuối cùng, bạn có thể tham khảo Các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập của các ngân hàng thương mại Việt Nam đến năm 2010 để hiểu rõ hơn về bối cảnh và thách thức mà ngành ngân hàng đang đối mặt.