Chương 1 đã giới thiệu tổng quan về đề tài và mục tiêu nghiên cứu. Chương 2 sẽ tiếp tục trình bày vắn tắt về cơ sở lý thuyết, tập trung vào những khái niệm quan trọng dùng trong nghiên cứu, phát biểu giả thuyết. Từ đó, mô hình nghiên cứu được đề xuất.1 MỘT SỐ ĐỊNH NGHĨA 2.1 Định nghĩa Công nghệ tự phục vụ - Self-service technologies (SSTs) Trong thời gian gần đây, các công nghệ tự phục vụ đã trở nên phổ biến hơn với người dùng, đặc biệt là trong những ngành dịch vụ khách hàng. Ngày càng có nhiều khách hàng tương tác với công nghệ để tạo ra kết quả dịch vụ thay vì tương tác với nhân viên của công ty dịch vụ.
Bằng cách triển khai công nghệ tự phục vụ, các công ty có thể áp dụng các lợi ích năng suất của thông tin và công nghệ vào hoạt động kinh doanh (Amin và cộng sự, 2019) Theo Meuter và cộng sự (2000) định nghĩa công nghệ tự phục vụ - Self-service technologies (SST) là “giao diện công nghệ cho phép khách hàng nhận được dịch vụ mà không có sự tham gia trực tiếp của nhân viên công ty dịch vụ”. Các công nghệ tự phục vụ (SST) hoặc các giao diện công nghệ cho phép khách hàng tạo ra lợi ích cho chính họ mà không cần sự hiện diện của nhân viên của tổ chức (Beatson và cộng sự, 2007). Sau một thời gian, công nghệ tự phục vụ (SST) được phát triển khái niệm là khách hàng có thể sử dụng mà không cần phải tham gia với khách hàng hoặc nhân viên khác (Klier và cộng sự, 2016; Robertson và cộng sự, 2016). Việc áp dụng công nghệ tự phục vụ (SST) đã được các doanh nghiệp coi là yếu tố quan trọng trong việc kiểm soát chi phí và cải thiện trải nghiệm của khách hàng (Considine & Cormican, 2016).
Theo Grewal & Levy (2009) và Musso (2010), dưới sự phát triển của tiếp thị đa kênh, đa đối tượng nên SST có vai trò cực kỳ quan trọng, các công ty cung cấp sự kết hợp của các giao diện SST để cung cấp các dịch vụ khách hàng một cách hoàn hảo. Ví dụ khách hàng của dịch vụ hàng không không chỉ đặt chỗ mà còn có thể trả 9 tiền mua vé bằng cách làm thủ tục trực tuyến qua Internet và điện thoại di động. Khách hàng có thể nhận vé lên máy bay tại các ki-ốt của sân bay và lấy thông tin chuyến bay trên thiết bị di động của họ. Một ví dụ khác về các ngân hàng cung cấp dịch vụ qua Internet, ATM và các kênh di động (Lin và Hsieh, 2011).
Nhiều dịch vụ đã được các ngân hàng cung cấp thông qua Internet, đường dây nóng hoặc qua “hệ thống điện thoại tương tác”, khách hàng có thể tự tạo tài khoản tiết kiệm,… Một ví dụ khác về công nghệ tự phục vụ là trong ngành khách sạn. Công nghệ tự phục vụ đã được triển khai ở những khách sạn khá sớm, tuy nhiên hình thức này vẫn còn sự tương tác qua lại giữa khách hàng với nhân viên khi khách hàng sử dụng những ki-ot tự phục vụ xung quanh quầy lễ tân. Theo Shaw (2004), trong khi mọi người chưa quen với loại hình dịch vụ tự phục vụ, một số khách sạn tiên phong đã triển khai ki-ốt tự nhận phòng để kiểm tra phản ứng của khách hàng. Các công nghệ tự phục vụ đã giúp chia sẻ khối lượng công việc của quầy lễ tân và tăng tốc dịch vụ, do đó các chủ khách sạn muốn bổ sung thêm dịch vụ cho các ki-ốt.
Tuy nhiên, có nhiều công nghệ tự phục vụ hơn trong ngành khách sạn, chẳng hạn như hệ thống tự đặt phòng và hệ thống tự trả phòng trên website khách sạn, quầy bar mini tự phục vụ trong phòng, hệ thống đặt dịch vụ phòng,… Ngành hàng không cũng đã triển khai công nghệ tự phục vụ vào việc tăng trải nghiệm khách hàng cũng như tối ưu hoá vận hành chuỗi công việc. Công nghệ tự phục vụ trong ngành hàng không (Airport SST) đã xuất hiện cách đây hơn 20 năm, nhưng với số lượng sử dụng hạn chế. Airport SST có nhiều hình thức bao gồm: ki-ốt thông tin (nhà ga độc lập cung cấp thông tin, hàng hóa và dịch vụ của sân bay), ki-ốt bán vé (mua vé máy bay, kiểm tra hành lý và theo dõi tình trạng chuyến bay), ki-ốt CUSS (giảm ùn tắc và giúp giảm hàng dài, nhà ga dùng chung với nhiều hãng hàng không), ki-ốt bán lẻ (khách hàng có thể mua hàng hóa và dịch vụ trước hoặc sau chuyến bay) (Abdelaziz, 2010). Công nghệ tự phục vụ đã trở thành một dịch vụ tin cậy trong việc đáp ứng nhu cầu của cả khách hàng và hãng hàng không.
Theo Hiệp hội Vận tải Hàng không Quốc tế (IATA), 73 triệu trong số 2 tỷ hành khách đi máy bay đã sử dụng Airport SST vào năm 2004, trong khi thời gian làm thủ tục CUSS trung bình mất 2,5 10 phút so với 3,5 phút tại quầy làm thủ tục của nhân viên dịch vụ truyền thống (Fiorino, 2005). Theo Beatson (2007) công nghệ tự phục vụ tại sân bay (Airport SST) được sử dụng để giảm chi phí và tăng doanh thu đồng thời cải thiện dịch vụ khách hàng, cho phép khách hàng dễ dàng sử dụng và thuận tiện trong khi tiết kiệm thời gian với các giao dịch nhanh hơn. SITA cũng báo cáo rằng tỷ lệ đăng ký trực tuyến hiện là 61% trong khi tỷ lệ đăng ký ki-ốt là 71% (Koumelis, 2010). Đối với ngành ngân hàng, các hình thức của công nghệ tự phục vụ trong ngành ngân hàng cần có hệ thống máy tính/máy móc để vận hành dịch vụ, bao gồm máy ATM, ngân hàng qua điện thoại, ngân hàng di động, dịch vụ tin nhắn ngắn (SMS), ngân hàng qua internet và thanh toán trực tuyến.
Dịch vụ dựa trên công nghệ tốt trở thành trụ cột quan trọng trong việc nâng cao sự hài lòng và uy tín của khách hàng (Kumar & Mittal, 2015). • Internet banking (ngân hàng trực tuyến): đề cập đến các hệ thống cho phép khách hàng truy cập vào tài khoản và thông tin chung về các sản phẩm và dịch vụ của ngân hàng thông qua máy tính cá nhân (PC) hoặc thiết bị cầm tay di động. Ngân hàng trực tuyến dựa trên nền tảng của Internet, ngân hàng trực tuyến đại diện cho quá trình đổi mới vì sự phát triển công nghệ liên quan đến việc cải thiện các thủ tục hoạt động. • ATM (máy rút tiền tự động): giúp giảm thiểu thời gian cần thiết để điền một tờ kê khai, một mã nhận dạng sau đó được truyền đến máy tính trung tâm của ngân hàng thông qua một liên kết giao tiếp.
Mã PIN ngăn chặn truy cập gian lận theo sau bởi máy tính cho phép máy ATM hoàn tất giao dịch theo yêu cầu của người dùng. Máy ATM có kết nối mạng liên ngân hàng cho phép người dùng đến ngân hàng nơi tài khoản của họ được đặt. Điều này mang lại sự thuận tiện đặc biệt cho việc đi lại vì họ có thể rút tiền tại các địa điểm mà ngân hàng của chính họ không có chi nhánh. Điều này bao gồm việc rút tiền với tỷ giá hối đoái tốt hơn so với các cục ngoại hối.
Định nghĩa này là một cách hoạt động phù hợp vì nó không chỉ bao gồm các dịch vụ cơ bản như sao kê tài khoản ngân hàng và chuyển tiền mà còn có các tùy chọn thanh toán điện tử cũng như các dịch vụ tài chính dựa trên thông tin (ví dụ: cảnh báo về hạn mức tài khoản hoặc số dư tài khoản, quyền truy cập vào môi giới chứng khoán). Công nghệ trong điện thoại di động đã được cải thiện với tốc độ chóng mặt trong thập kỷ qua. Nhiều dịch vụ tài chính phức tạp đã được thêm vào chức năng của điện thoại di động. Hệ thống ngân hàng di động cho phép người dùng lưu trữ tiền tệ trong một tài khoản có thể truy cập thông qua điện thoại di động với điều kiện có một tài khoản ngân hàng có thể được liên kết (Sujan, 2009).
Các công nghệ tự phục vụ sẽ cải thiện chất lượng dịch vụ mà các công ty cung cấp cho khách hàng của họ. Các dịch vụ được thực hiện dễ dàng hơn và có thể quản lý được nhờ công nghệ. Các công nghệ tự phục vụ sẽ mang lại sự thuận tiện cho khách hàng cũng như tiết kiệm thời gian cho khách hàng. Qua những ví dụ về công nghệ tự phục vụ ở trên, ta có thể hiểu khát quát về công nghệ tự phục vụ là gì, công nghệ tự phục vụ cũng được nhiều tác giả khác nghiên cứu và phát triển, họ cho rằng công nghệ tự phục vụ ở những nghiên cứu trước đây sử dụng khái niệm mang tính toàn diện, thay vì từng ngành là khác nhau về sự ảnh hưởng của công nghệ tự phục vụ đến khách hàng (Klier và cộng sự, 2016; Robertson và cộng sự, 2016).
Điều này cho thấy công nghệ tự phục vụ luôn được phát triển liên tục qua từng năm với việc sử dụng ngày càng nhiều của Internet. Công nghệ tự phục vụ được ứng dụng vào thực tiễn một số ngành như ngân hàng thương mại, khách sạn, hàng không như thế nào, song song đó cho thấy công nghệ tự phục vụ đang dần dần phổ biến và được khách hàng lựa chọn và tin dùng bởi những ưu điểm trên.2 Định nghĩa về Chất lượng dịch vụ của công nghệ tự phục vụ (Service quality of self-service technologies) Để công ty có thể đưa sản phẩm của mình đến với khách hàng, công ty cần phải có dịch vụ. Các dịch vụ này phụ thuộc vào loại sản phẩm và sẽ khác nhau ở các tổ chức 12 khác nhau. Dịch vụ được định nghĩa theo nhiều cách, tùy thuộc vào lĩnh vực mà thuật ngữ được sử dụng sẽ khác nhau.
Dịch vụ được định nghĩa là “bất kỳ hành động hoặc hiệu suất vô hình nào mà một bên cung cấp cho bên khác mà không dẫn đến quyền sở hữu bất kỳ thứ gì” (Kotler & Keller, 2009). Dịch vụ thực chất là những lợi ích vô hình và cung cấp giá trị cho người tiêu dùng. Khác với hàng hóa vật chất, dịch vụ có những đặc điểm riêng biệt, bao gồm tính vô hình, tính không đồng nhất cũng như tính không thể tách rời (Amin và cộng sự, 2019). Chất lượng được định nghĩa là tổng thể các tính năng và đặc điểm của sản phẩm hoặc dịch vụ có khả năng đáp ứng các nhu cầu đã nêu hoặc ngụ ý (Kotler và cộng sự, 2002).
Rõ ràng là chất lượng cũng liên quan đến giá trị, điều này có thể gợi lên sự hài lòng hoặc không hài lòng từ phía người dùng.