Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Chương 5: Kết luận và Gợi ý các chính sách 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐẶC ĐIỂM HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ ĐẾN NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 KHÁI NIỆM QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP Khái niệm về Quản trị doanh nghiệp có nhiều quan điểm khác nhau, tùy thuộc vào mục tiêu của nghiên cứu, thể chế hay hệ thống pháp lý của một quốc gia. Theo Ntim (2018), có 2 nhóm quan điểm chính về quản trị doanh nghiệp. Nhóm quan điểm thứ nhất liên quan đến các hành vi của các doanh nghiệp, các các giải pháp về năng lực quản lý, khả năng tăng trưởng, cấu trúc vốn, cấu trúc sở hữu và quản trị, các hành vi đối với cổ đông và các bên liên quan khác.
Nhóm quan điểm thứ hai liên quan đến vấn đề pháp luật, đó là các quy tắc quản trị doanh nghiệp tuân thủ theo các quy định của hệ thống pháp luật, hệ thống tư pháp, thị trường vốn, thị trường tài sản và thị trường lao động. Nhóm quan điểm thứ nhất phù hợp hơn đối với các nghiên cứu về các doanh nghiệp trong phạm vi một quốc gia. Lúc này, hành vi của các doanh nghiệp dưới góc độ quản trị doanh nghiệp là nghiên cứu, phân tích, đánh giá các vấn đề liên quan cấu trúc sở hữu, cấu trúc của HĐQT trong việc kiểm soát rủi ro và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, mối quan hệ giữa chính sách thù lao, quản lý, vai trò của các cổ đông, những người có liên quan và hiệu quả hoạt động. Đối với các nghiên cứu so sánh, loại quan điểm thứ hai là hợp lý hơn bởi vì cho thấy sự khác biệt trong hệ thống pháp lý ảnh hưởng đến hành vi của doanh nghiệp và những nhà đầu tư ở các quốc gia khác nhau.
Các định nghĩa về quản trị DN được nhiều tác giả đưa ra và có sự khác biệt (Claessens, 2003). Các định nghĩa này tương ứng với các quan điểm được đưa ra từ năm 1992 tập trung vào việc thiết lập các hướng dẫn quản lý và kiểm soát các công ty, hướng hành động của họ để đảm bảo các nhà đầu tư rằng các nguồn lực đầu tư của họ được quản lý để đạt được lợi nhuận và hiệu quả. 7 Cadbury (1992) cho rằng quản trị doanh nghiệp như một tập hợp các cơ chế mà qua đó các doanh nghiệp hoạt động khi quyền sở hữu được tách ra khỏi quyền quản lý. Như vậy, theo định nghĩa này, quản trị doanh nghiệp sẽ bao gồm mối quan hệ giữa các cổ đông, chủ nợ và nhà quản lý doanh nghiệp; giữa thị trường tài chính, các tổ chức và doanh nghiệp; và giữa nhân viên và doanh nghiệp.
Ngoài ra, quản trị doanh nghiệp cũng sẽ bao gồm vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp liên quan đến văn hóa và môi trường. Nhưng đề xuất do Paz-Ares (2004) đưa ra phân biệt quản trị DN tùy thuộc vào việc nó được áp đặt cho DN hay tự nguyện đảm nhận. Nó gọi là quản trị DN bên ngoài hoặc thể chế (được áp đặt từ bên ngoài bởi hệ thống luật pháp và mạng lưới các tổ chức của một quốc gia nhất định) và quản trị DN nội bộ hoặc theo hợp đồng (tự nguyện đảm nhận từ bên trong bởi mỗi DN). Allayannis, Lel và Miller (2012) cũng có sự khác biệt tương tự trong một nghiên cứu về lý do nắm giữ các công cụ phái sinh ngoại hối, đề cập đến quản trị DN ở cấp quốc gia và quản trị công ty ở cấp DN.
Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (OECD, 2004) cho rằng Quản trị DN là hệ thống do mà các tập đoàn kinh doanh được chỉ đạo và kiểm soát. Đây là tập hợp các quy tắc xác định mối quan hệ giữa các bên liên quan, ban giám đốc và hội đồng quản trị của một DN và ảnh hưởng đến cách thức hoạt động của công ty đó. Ở cấp độ cơ bản nhất, quản trị DN giải quyết các vấn đề phát sinh từ sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền kiểm soát. Nhưng quản trị DN không chỉ đơn giản là thiết lập mối quan hệ rõ ràng giữa cổ đông và người quản lý.
Quản trị DN liên quan đến một tập hợp các mối quan hệ giữa ban giám đốc DN, hội đồng quản trị, cổ đông và các bên liên quan khác. Quản trị DN cũng cung cấp cấu trúc mà thông qua đó các mục tiêu của DN được thiết lập và các phương tiện để đạt được các mục tiêu đó và việc giám sát hoạt động được xác định. Youssef (2007) cho rằng quản trị DN là quy trình được thực hiện bởi hội đồng quản trị và các ủy ban liên quan của hội đồng quản trị, thay mặt và vì lợi ích của Cổ đông của công ty và các bên liên quan, để cung cấp định hướng, quyền hạn và giám sát cho ban lãnh đạo, nó có nghĩa là làm thế nào để tạo ra sự cân bằng giữa các thành viên hội đồng quản trị với lợi ích của họ và lợi ích của cổ đông và các bên liên quan khác 8 Castrillón (2021) kết luận rằng mục đích cuối cùng của việc quản trị tốt doanh nghiệp là tăng giá trị cho nó và đảm bảo rằng những người đóng góp trực tiếp hoặc gián tiếp vào DN có thể tham gia vào việc gia tăng giá trị. Vì lý do này, các thông lệ tốt thiết lập các điều kiện để bảo vệ và thưởng công bằng cho các cổ đông đối với phần vốn đã góp; khen thưởng công nhân lao động đóng góp trí tuệ; cung cấp cho khách hàng các sản phẩm và dịch vụ chất lượng cao hơn và giá cả tốt hơn; trả công thỏa đáng cho các nhà cung cấp trong việc cung cấp sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ và cung cấp cho họ những đảm bảo hoặc sự tin tưởng rằng họ sẽ được thanh toán kịp thời; cung cấp cho các chủ nợ rằng các nguồn lực mà họ đã cho công ty vay sẽ được khôi phục và họ sẽ được đền bù xứng đáng; nó cũng bao gồm trách nhiệm đối với xã hội nói chung, do đó bao gồm cả việc tuân thủ các nghĩa vụ thuế.
Ngoài ra, quản trị DN có thể được định nghĩa là một tập hợp các cơ chế giải quyết các vấn đề đại diện do sự phân chia giữa quyền sở hữu và quyền kiểm soát. Những cơ chế này đảm bảo sự vận hành tốt của sự chỉ đạo và kiểm soát của các tập đoàn (Jensen và Meckling 1976; Shleifer và Vishny 1997). Như đã đề cập bởi Laeven (2013), quản trị DN của các ngân hàng khác với quản trị của các tổ chức phi tài chính. Các đặc điểm khác biệt của các ngân hàng làm trầm trọng thêm các vấn đề quản trị và có thể làm giảm hiệu quả của các cơ chế quản trị thông thường (Caprio và Levine 2002; Levine 2004; Laeven 2013).
Trong điều kiện ngân hàng không rõ ràng và không chắc chắn, các nhà quản lý thường có thể thiết kế các gói thù lao cho phép họ thu được lợi nhuận khi làm tổn hại đến hoạt động dài hạn của ngân hàng (John và cộng sự, 2016). Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, quản trị DN trong ngân hàng chủ yếu tập trung vào cách các cơ chế quản trị nội bộ quan trọng tương tác để giảm thiểu rủi ro và tối đa hóa giá trị của ngân hàng. Cơ chế quản trị nội bộ là các biện pháp được dùng để giám sát, kiểm soát tình hình của ngân hàng, thông qua đó các ngân hàng được vận hành hiệu quả nhằm mang lại thành quả cao, đáp ứng quyền lợi của cổ đông và những người có liên quan (Cadbury, 1992). Quan điểm này cho thấy rằng trong để mang lại thành quả tốt cho ngân 9 hàng và tối đa hóa lợi ích của chủ sở hữu, cơ chế quan trọng của quản trị công ty trong ngân hàng cần xem xét bao gồm cấu trúc HĐQT của ngân hàng.2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Khái niệm về nợ xấu của ngân hàng thương mại Theo Berger & DeYoung (1997), nợ xấu là nợ quá hạn thanh toán ít nhất 90 ngày hoặc đang trong tình trạng nghi ngờ.
Theo ngân hàng Trung ương liên minh Châu Âu (2018), nợ xấu trong các ngân hàng thương mại bao gồm: - Nợ không thể thu hồi được, gồm: + Những khoản nợ đã hết hiệu lực hoặc những khoản nợ không có căn cứ đòi bồi thường từ nợ; + Những khoản nợ mà khách hàng chấm dứt hoạt động kinh doanh, thanh lý tài sản hoặc kinh doanh bị thua lỗ và tài sản còn lại không đủ để trả nợ. - Nợ có thể thu nhưng không thanh toán đầy đủ cho ngân hàng: Đây là những khoản nợ không có tài sản thế chấp hoặc có tài sản thế chấp nhưng không đủ để trả nợ. Theo quan điểm của quỹ tiền tệ quốc tế (IMF, 2005): “Một khoản vay được coi là không sinh lời (nợ xấu) khi quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi 90 ngày trở lên; khi các khoản lãi đã quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, cơ cấu lại, hoặc trì hoãn theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy những dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không thể hoàn trả nợ đầy đủ (người vay phá sản)”. Với quan điểm này, nợ xấu được tiếp cận dựa trên thời gian trả hạn quá nợ và khả năng trả nợ của khách hàng.
Khả năng trả nợ của khách hàng ở đây có thể là toàn bộ số gốc và lãi hoặc một phần gốc và lãi. Tại Việt Nam: Hiện nay, khái niệm nợ xấu theo quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng, ban hành theo Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/1/2013 10 của Thống đốc NHNN Việt Nam và có một số sửa đổi trong Thông tư số 09/2014/TT- NHNN ngày 18/3/2014 của Thống đốc NHNN.