Nghiên cứu tác động của đặc điểm hội đồng quản trị đến nợ xấu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Báo cáo nghiên cứu nghiên cứu khoa học đề tài cấp cơ sở tác động của đặc điểm hội đồng quản trị đến nợ xấu của các, thống kê phân tích số liệu, đánh giá xu hướng phát triển trong

Chuyên ngành

Quản trị ngân hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

báo cáo nghiên cứu khoa học

2022

79
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

1.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1.2. MỤC TIÊU VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

1.2.1. Mục tiêu nghiên cứu

1.2.2. Câu hỏi nghiên cứu

1.3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.5. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

1.6. KẾT CẤU ĐỀ TÀI

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐẶC ĐIỂM HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ ĐẾN NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

2.1. KHÁI NIỆM QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP

Tóm tắt

I. Giới thiệu

Nghiên cứu này tập trung vào tác động của đặc điểm hội đồng quản trị (HĐQT) đến nợ xấu của các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam. Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 đã làm bộc lộ những yếu kém trong quản trị ngân hàng, đặc biệt là vai trò của HĐQT trong việc kiểm soát rủi ro và giảm nợ xấu. Nghiên cứu nhằm mục đích đánh giá tác động của các yếu tố thuộc về HĐQT đến nợ xấu, từ đó đưa ra các gợi ý chính sách giúp các NHTM xây dựng cơ cấu HĐQT hợp lý hơn.

1.1 Lý do chọn đề tài

Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 đã làm bộc lộ những yếu kém trong quản trị ngân hàng, đặc biệt là vai trò của HĐQT trong việc kiểm soát rủi ro và giảm nợ xấu. Nghiên cứu này nhằm mục đích đánh giá tác động của các yếu tố thuộc về HĐQT đến nợ xấu, từ đó đưa ra các gợi ý chính sách giúp các NHTM xây dựng cơ cấu HĐQT hợp lý hơn.

1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

Mục tiêu chính của nghiên cứu là xác định và đo lường tác động của đặc điểm HĐQT đến nợ xấu của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2012-2020. Các câu hỏi nghiên cứu tập trung vào mức độ và chiều hướng tác động của các yếu tố HĐQT đến nợ xấu, cũng như các giải pháp để xây dựng cơ cấu HĐQT hợp lý hơn.

II. Cơ sở lý thuyết

Nghiên cứu dựa trên các lý thuyết về quản trị doanh nghiệpnợ xấu của NHTM. Các lý thuyết chính bao gồm lý thuyết đại diện và lý thuyết phụ thuộc nguồn lực, giúp giải thích mối quan hệ giữa đặc điểm HĐQTnợ xấu. Nghiên cứu cũng tổng hợp các kết quả nghiên cứu thực nghiệm trước đây về mối quan hệ này.

2.1 Khái niệm quản trị doanh nghiệp

Quản trị doanh nghiệp được định nghĩa là hệ thống các cơ chế mà qua đó doanh nghiệp được chỉ đạo và kiểm soát. Nó bao gồm mối quan hệ giữa các cổ đông, chủ nợ và nhà quản lý, cũng như các vấn đề liên quan đến trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.

2.2 Cơ sở lý thuyết về nợ xấu

Nợ xấu là khoản nợ mà ngân hàng không thể thu hồi được, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh doanh và lợi nhuận của ngân hàng. Các yếu tố bên trong và bên ngoài đều có thể tác động đến nợ xấu, trong đó đặc điểm HĐQT là một yếu tố quan trọng.

III. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng với các mô hình hồi quy như Pooled OLS, FEM, REM, FGLS và SGMM để đánh giá tác động của đặc điểm HĐQT đến nợ xấu. Dữ liệu được thu thập từ 30 NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2012-2020.

3.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng dữ liệu từ báo cáo tài chính và báo cáo thường niên của 30 NHTM Việt Nam, cùng với dữ liệu kinh tế vĩ mô từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Các biến số được tính toán và phân tích bằng phần mềm Stata.

3.2 Phương pháp phân tích

Các phương pháp hồi quy được sử dụng để đánh giá tác động của đặc điểm HĐQT đến nợ xấu. Kiểm định Hausman được sử dụng để lựa chọn mô hình phù hợp giữa FEM và REM. Phương pháp FGLS và SGMM được áp dụng để xử lý các vấn đề nội sinh và khuyết tật trong mô hình.

IV. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố như tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập và tỷ lệ thành viên nữ trong HĐQT có tác động có ý nghĩa thống kê đến nợ xấu. Các yếu tố khác như cổ đông nhà nước, quy mô HĐQT và vai trò kiêm nhiệm của CEO không có tác động đáng kể.

4.1 Thực trạng nợ xấu của các NHTM Việt Nam

Tỷ lệ nợ xấu của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2012-2020 có xu hướng giảm dần, nhưng vẫn còn ở mức cao so với các nước trong khu vực. Điều này cho thấy sự cần thiết phải cải thiện quản trị ngân hàng, đặc biệt là cơ cấu HĐQT.

4.2 Kết quả hồi quy

Kết quả hồi quy theo phương pháp SGMM cho thấy tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập và tỷ lệ thành viên nữ trong HĐQT có tác động tích cực đến việc giảm nợ xấu. Các yếu tố khác như cổ đông nhà nước và quy mô HĐQT không có tác động đáng kể.

V. Kết luận và hàm ý chính sách

Nghiên cứu kết luận rằng đặc điểm HĐQT có tác động đáng kể đến nợ xấu của các NHTM Việt Nam. Các gợi ý chính sách bao gồm việc tăng cường tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập và thành viên nữ trong HĐQT, cũng như cải thiện quản trị rủi ro để giảm nợ xấu.

5.1 Gợi ý chính sách

Các NHTM nên xây dựng cơ cấu HĐQT hợp lý hơn bằng cách tăng cường tỷ lệ thành viên độc lập và thành viên nữ. Điều này sẽ giúp cải thiện hiệu quả quản trị và giảm nợ xấu.

5.2 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

Nghiên cứu có một số hạn chế như phạm vi dữ liệu hẹp và chưa xem xét các yếu tố vĩ mô khác. Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng phạm vi dữ liệu và xem xét thêm các yếu tố tác động đến nợ xấu.

21/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Chương 5: Kết luận và Gợi ý các chính sách 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐẶC ĐIỂM HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ ĐẾN NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 KHÁI NIỆM QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP Khái niệm về Quản trị doanh nghiệp có nhiều quan điểm khác nhau, tùy thuộc vào mục tiêu của nghiên cứu, thể chế hay hệ thống pháp lý của một quốc gia. Theo Ntim (2018), có 2 nhóm quan điểm chính về quản trị doanh nghiệp. Nhóm quan điểm thứ nhất liên quan đến các hành vi của các doanh nghiệp, các các giải pháp về năng lực quản lý, khả năng tăng trưởng, cấu trúc vốn, cấu trúc sở hữu và quản trị, các hành vi đối với cổ đông và các bên liên quan khác.

Nhóm quan điểm thứ hai liên quan đến vấn đề pháp luật, đó là các quy tắc quản trị doanh nghiệp tuân thủ theo các quy định của hệ thống pháp luật, hệ thống tư pháp, thị trường vốn, thị trường tài sản và thị trường lao động. Nhóm quan điểm thứ nhất phù hợp hơn đối với các nghiên cứu về các doanh nghiệp trong phạm vi một quốc gia. Lúc này, hành vi của các doanh nghiệp dưới góc độ quản trị doanh nghiệp là nghiên cứu, phân tích, đánh giá các vấn đề liên quan cấu trúc sở hữu, cấu trúc của HĐQT trong việc kiểm soát rủi ro và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, mối quan hệ giữa chính sách thù lao, quản lý, vai trò của các cổ đông, những người có liên quan và hiệu quả hoạt động. Đối với các nghiên cứu so sánh, loại quan điểm thứ hai là hợp lý hơn bởi vì cho thấy sự khác biệt trong hệ thống pháp lý ảnh hưởng đến hành vi của doanh nghiệp và những nhà đầu tư ở các quốc gia khác nhau.

Các định nghĩa về quản trị DN được nhiều tác giả đưa ra và có sự khác biệt (Claessens, 2003). Các định nghĩa này tương ứng với các quan điểm được đưa ra từ năm 1992 tập trung vào việc thiết lập các hướng dẫn quản lý và kiểm soát các công ty, hướng hành động của họ để đảm bảo các nhà đầu tư rằng các nguồn lực đầu tư của họ được quản lý để đạt được lợi nhuận và hiệu quả. 7 Cadbury (1992) cho rằng quản trị doanh nghiệp như một tập hợp các cơ chế mà qua đó các doanh nghiệp hoạt động khi quyền sở hữu được tách ra khỏi quyền quản lý. Như vậy, theo định nghĩa này, quản trị doanh nghiệp sẽ bao gồm mối quan hệ giữa các cổ đông, chủ nợ và nhà quản lý doanh nghiệp; giữa thị trường tài chính, các tổ chức và doanh nghiệp; và giữa nhân viên và doanh nghiệp.

Ngoài ra, quản trị doanh nghiệp cũng sẽ bao gồm vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp liên quan đến văn hóa và môi trường. Nhưng đề xuất do Paz-Ares (2004) đưa ra phân biệt quản trị DN tùy thuộc vào việc nó được áp đặt cho DN hay tự nguyện đảm nhận. Nó gọi là quản trị DN bên ngoài hoặc thể chế (được áp đặt từ bên ngoài bởi hệ thống luật pháp và mạng lưới các tổ chức của một quốc gia nhất định) và quản trị DN nội bộ hoặc theo hợp đồng (tự nguyện đảm nhận từ bên trong bởi mỗi DN). Allayannis, Lel và Miller (2012) cũng có sự khác biệt tương tự trong một nghiên cứu về lý do nắm giữ các công cụ phái sinh ngoại hối, đề cập đến quản trị DN ở cấp quốc gia và quản trị công ty ở cấp DN.

Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (OECD, 2004) cho rằng Quản trị DN là hệ thống do mà các tập đoàn kinh doanh được chỉ đạo và kiểm soát. Đây là tập hợp các quy tắc xác định mối quan hệ giữa các bên liên quan, ban giám đốc và hội đồng quản trị của một DN và ảnh hưởng đến cách thức hoạt động của công ty đó. Ở cấp độ cơ bản nhất, quản trị DN giải quyết các vấn đề phát sinh từ sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền kiểm soát. Nhưng quản trị DN không chỉ đơn giản là thiết lập mối quan hệ rõ ràng giữa cổ đông và người quản lý.

Quản trị DN liên quan đến một tập hợp các mối quan hệ giữa ban giám đốc DN, hội đồng quản trị, cổ đông và các bên liên quan khác. Quản trị DN cũng cung cấp cấu trúc mà thông qua đó các mục tiêu của DN được thiết lập và các phương tiện để đạt được các mục tiêu đó và việc giám sát hoạt động được xác định. Youssef (2007) cho rằng quản trị DN là quy trình được thực hiện bởi hội đồng quản trị và các ủy ban liên quan của hội đồng quản trị, thay mặt và vì lợi ích của Cổ đông của công ty và các bên liên quan, để cung cấp định hướng, quyền hạn và giám sát cho ban lãnh đạo, nó có nghĩa là làm thế nào để tạo ra sự cân bằng giữa các thành viên hội đồng quản trị với lợi ích của họ và lợi ích của cổ đông và các bên liên quan khác 8 Castrillón (2021) kết luận rằng mục đích cuối cùng của việc quản trị tốt doanh nghiệp là tăng giá trị cho nó và đảm bảo rằng những người đóng góp trực tiếp hoặc gián tiếp vào DN có thể tham gia vào việc gia tăng giá trị. Vì lý do này, các thông lệ tốt thiết lập các điều kiện để bảo vệ và thưởng công bằng cho các cổ đông đối với phần vốn đã góp; khen thưởng công nhân lao động đóng góp trí tuệ; cung cấp cho khách hàng các sản phẩm và dịch vụ chất lượng cao hơn và giá cả tốt hơn; trả công thỏa đáng cho các nhà cung cấp trong việc cung cấp sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ và cung cấp cho họ những đảm bảo hoặc sự tin tưởng rằng họ sẽ được thanh toán kịp thời; cung cấp cho các chủ nợ rằng các nguồn lực mà họ đã cho công ty vay sẽ được khôi phục và họ sẽ được đền bù xứng đáng; nó cũng bao gồm trách nhiệm đối với xã hội nói chung, do đó bao gồm cả việc tuân thủ các nghĩa vụ thuế.

Ngoài ra, quản trị DN có thể được định nghĩa là một tập hợp các cơ chế giải quyết các vấn đề đại diện do sự phân chia giữa quyền sở hữu và quyền kiểm soát. Những cơ chế này đảm bảo sự vận hành tốt của sự chỉ đạo và kiểm soát của các tập đoàn (Jensen và Meckling 1976; Shleifer và Vishny 1997). Như đã đề cập bởi Laeven (2013), quản trị DN của các ngân hàng khác với quản trị của các tổ chức phi tài chính. Các đặc điểm khác biệt của các ngân hàng làm trầm trọng thêm các vấn đề quản trị và có thể làm giảm hiệu quả của các cơ chế quản trị thông thường (Caprio và Levine 2002; Levine 2004; Laeven 2013).

Trong điều kiện ngân hàng không rõ ràng và không chắc chắn, các nhà quản lý thường có thể thiết kế các gói thù lao cho phép họ thu được lợi nhuận khi làm tổn hại đến hoạt động dài hạn của ngân hàng (John và cộng sự, 2016). Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, quản trị DN trong ngân hàng chủ yếu tập trung vào cách các cơ chế quản trị nội bộ quan trọng tương tác để giảm thiểu rủi ro và tối đa hóa giá trị của ngân hàng. Cơ chế quản trị nội bộ là các biện pháp được dùng để giám sát, kiểm soát tình hình của ngân hàng, thông qua đó các ngân hàng được vận hành hiệu quả nhằm mang lại thành quả cao, đáp ứng quyền lợi của cổ đông và những người có liên quan (Cadbury, 1992). Quan điểm này cho thấy rằng trong để mang lại thành quả tốt cho ngân 9 hàng và tối đa hóa lợi ích của chủ sở hữu, cơ chế quan trọng của quản trị công ty trong ngân hàng cần xem xét bao gồm cấu trúc HĐQT của ngân hàng.2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Khái niệm về nợ xấu của ngân hàng thương mại Theo Berger & DeYoung (1997), nợ xấu là nợ quá hạn thanh toán ít nhất 90 ngày hoặc đang trong tình trạng nghi ngờ.

Theo ngân hàng Trung ương liên minh Châu Âu (2018), nợ xấu trong các ngân hàng thương mại bao gồm: - Nợ không thể thu hồi được, gồm: + Những khoản nợ đã hết hiệu lực hoặc những khoản nợ không có căn cứ đòi bồi thường từ nợ; + Những khoản nợ mà khách hàng chấm dứt hoạt động kinh doanh, thanh lý tài sản hoặc kinh doanh bị thua lỗ và tài sản còn lại không đủ để trả nợ. - Nợ có thể thu nhưng không thanh toán đầy đủ cho ngân hàng: Đây là những khoản nợ không có tài sản thế chấp hoặc có tài sản thế chấp nhưng không đủ để trả nợ. Theo quan điểm của quỹ tiền tệ quốc tế (IMF, 2005): “Một khoản vay được coi là không sinh lời (nợ xấu) khi quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi 90 ngày trở lên; khi các khoản lãi đã quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, cơ cấu lại, hoặc trì hoãn theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy những dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không thể hoàn trả nợ đầy đủ (người vay phá sản)”. Với quan điểm này, nợ xấu được tiếp cận dựa trên thời gian trả hạn quá nợ và khả năng trả nợ của khách hàng.

Khả năng trả nợ của khách hàng ở đây có thể là toàn bộ số gốc và lãi hoặc một phần gốc và lãi. Tại Việt Nam: Hiện nay, khái niệm nợ xấu theo quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng, ban hành theo Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/1/2013 10 của Thống đốc NHNN Việt Nam và có một số sửa đổi trong Thông tư số 09/2014/TT- NHNN ngày 18/3/2014 của Thống đốc NHNN.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tác động của đặc điểm hội đồng quản trị đến nợ xấu ngân hàng thương mại Việt Nam là một nghiên cứu chuyên sâu về mối quan hệ giữa cấu trúc và đặc điểm của hội đồng quản trị với tình trạng nợ xấu trong các ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Tài liệu này phân tích các yếu tố như quy mô hội đồng, tính độc lập, trình độ chuyên môn của thành viên, và cách chúng ảnh hưởng đến quản lý rủi ro tín dụng. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho các nhà quản lý ngân hàng, nhà nghiên cứu, và những người quan tâm đến cải thiện hiệu quả hoạt động ngân hàng.

Để mở rộng kiến thức về các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng, bạn có thể tham khảo Những nhân tố ảnh hưởng đến quyết định vay vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam, nghiên cứu này tập trung vào các yếu tố tác động đến quyết định vay vốn của khách hàng cá nhân. Ngoài ra, Phân tích tình hình cho vay đối với doanh nghiệp ngành xây dựng tại ngân hàng TMCP Quân đội cung cấp cái nhìn chi tiết về hoạt động cho vay trong một lĩnh vực cụ thể. Cuối cùng, Phát triển cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam là tài liệu lý tưởng để hiểu rõ hơn về chiến lược tín dụng dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.