CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ DỊCH VỤ THANH TOÁN XUẤT KHẨU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về dịch vụ thanh toán xuất khẩu của Ngân Hàng Thương Mại 1. Khái niệm và đặc điểm của dịch vụ thanh toán xuất khẩu 1. Khái niệm thanh toán xuất khẩu Theo Điều 4.3, Luật các Tổ chức Tín Dụng của Việt Nam số 47/2010/QH12: “NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động NH và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận” Xuất khẩu, nhập khẩu là hai hoạt động cơ bản cấu thành nên hoạt động ngoại thương.
Đó là hoạt động lưu thông hàng hoá, dịch vụ giữa các quốc gia. Hoạt động XNK rất phong phú đa dạng nhưng cũng phức tạp hơn nhiều so với kinh doanh trong nước do chịu ảnh hưởng nhiều bởi các yếu tố chính sách, pháp luật, văn hóa, chính trị của các quốc gia. Nguyễn Văn Tiến: “Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và quyền hưởng lợi về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân nước này với tổ chức, cá nhân nước khác hay giữa một quốc gia với tổ chức kinh tế, thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan”. [Giáo trình Thanh toán quốc tế và Tài trợ ngoại thương, 2009] Theo giáo trình Thanh toán quốc tế của GS.
Đinh Xuân Trình: “Việc trao đổi các hoạt động kinh tế và thương mại giữa các quốc gia làm phát sinh các khoản thu và chi bằng tiền của nước này đối với một nước khác trong từng giao dịch hoặc trong từng định kỳ chi trả do hai nước quy định. Trong mối quan hệ chi trả này, các quốc gia phải cùng nhau quy định những yếu tố cấu thành cơ chế thanh toán giữa các quốc gia như quy định về chủ thể tham gia thanh toán, lựa chọn tiền tệ, các công cụ và các phương thức đòi và hoặc chi trả tiền tệ. Tổng hợp các yếu tố cấu thành cơ chế đó tạo thành thanh toán quốc tế giữa các quốc gia”.23] Trong hoạt động thương mại quốc tế, người xuất khẩu có trách nhiệm giao hàng và nhận tiền hàng. Người nhập khẩu có trách nhiệm nhận hàng và trả tiền 9 hàng.
Dịch vụ thanh toán xuất khẩu là việc ngân hàng thương mại làm dịch vụ thanh toán tiền hàng cho DN xuất khẩu. Thanh toán quốc tế đã ra đời từ lâu, nhưng nó mới chỉ phát triển mạnh mẽ vào cuối thế kỷ 20 khi mà khối lượng mua bán, đầu tư quốc tế và chuyển tiền quốc tế ngày càng gia tăng, từ đó làm cho khối lượng các giao dịch thanh toán qua NH cũng tăng theo. Việc thanh toán qua NH làm gia tăng việc sử dụng đồng tiền của các nước để chi trả lẫn nhau. Trong hoạt động thương mại quốc tế, thanh toán là quyền lợi và nghĩa vụ cơ bản của hai bên mua (nhập khẩu) và bán (xuất khẩu).
Phương thức thanh toán xuất khẩu là việc tổ chức quá trình trả tiền hàng trong giao dịch mua bán ngoại thương giữa người xuất khẩu và người nhập khẩu hay đơn giản là cách thức mà người bán thu tiền còn người mua trả tiền. Trong thương mại quốc tế có thể lựa chọn nhiều phương thức thanh toán khác nhau, xuất phát từ nhu cầu của người bán là thu tiền nhanh, đầy đủ và từ nhu cầu của người mua là nhập hàng đúng số lượng, chất lượng và đúng thời hạn đã quy định trong hợp đồng. Đặc điểm của dịch vụ thanh toán xuất khẩu Dịch vụ TTXK là dịch vụ về tài chính, tín dụng của NH cung cấp cho người xuất khẩu trong hoạt động thương mại quốc tế. Các dịch vụ TTXK liên quan đến nhận, thông báo, kiểm tra, xử lý bộ chứng từ XK, thu hộ tiền… phục vụ các KH công ty, DN có hoạt động XK theo các phương thức TTXK khác nhau và tài trợ vốn cho DN XK.
Dịch vụ thanh toán XK có các đặc điểm nổi bật sau: - Thanh toán XK khác thanh toán nội địa ở yếu tố ngoại quốc - Hoạt động thanh toán xuất khẩu của NHTM là hoạt động cung cấp dịch vụ: Phần lớn các hoạt động TTQT được thực hiện thông qua các NHTM. Khi thực hiện hoạt động này, NH giữ vị trí là người cung cấp dịch vụ thanh toán để hưởng phí. - Tuy nhiên, dịch vụ thanh toán xuất khẩu có những đặc điểm riêng mà các dịch vụ thanh toán trong nước không có. Những đặc điểm này chi phối rất lớn đến chất lượng hiệu quả kinh tế của dịch vụ.
10 +Một là, cung ứng dịch vụ qua biên giới quốc gia + Hai là, hình thành đại lý dịch vụ ở nước người tiêu dùng dịch vụ Bản thân dịch vụ TTXK là một loại hàng hóa vô hình. Đối tượng của dịch vụ là tiền tệ tín dụng cũng là một loại hàng hóa vô hình. Cho nên sự hiện diện của cung ứng dịch vụ ở nước người tiêu dùng dịch vụ là rất quan trọng. - Hoạt động TTQT chứa đựng nhiều rủi ro tiềm ẩn, những rủi ro trong TTQT hiện nay gồm: rủi ro hối đoái, rủi ro quốc gia, rủi ro đạo đức, rủi ro kỹ thuật.
- Hệ thống TTQT ngày càng phát triển và hoàn thiện 1. Các phương tiện và điều kiện thanh toán xuất khẩu 1. Các phương tiện TTXK a/ Hối phiếu Theo Luật Công cụ chuyển nhượng của Việt Nam năm 2005 (Điều 4): “Hối phiếu đòi nợ là giấy tờ có giá do người ký phát lập, yêu cầu người bị ký phát thanh toán không có điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời điểm nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng”.23] Hối phiếu có ba đặc điểm quan trọng đó là tính trừu tượng, tính bắt buộc và tính lưu thông. Để hối phiếu có giá trị pháp lý, người lập hối phiếu phải tuân theo những quy luật chặt chẽ về hình thức và nội dung của hối phiếu.
Về hình thức, hối phiếu bắt buộc phải bằng văn bản, hối phiếu thường được lập thành 2 bản có giá trị pháp lý như nhau. Về nội dung, hối phiếu bắt buộc phải có tiêu đề của hối phiếu, có địa điểm và ngày phát hành hối phiếu; mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện, ghi rõ số tiền bằng số và bằng chữ ; thời hạn trả tiền của hối phiếu, người trả tiền và người hưởng lợi hối phiếu… Hối phiếu được sử dụng rất rộng rãi trong TTXK, đặc biệt trong các phương thức thanh toán tín dụng chứng từ, nhờ thu…. b/ Séc Theo công ước Geneva 1931, “Séc là một tờ mệnh lệnh vô điều kiện do một người (chủ tài khoản tiền gửi) ký phát, ra lệnh cho ngân hàng trích từ tài khoản của mình một số tiền nhất định để trả cho người được chỉ định trên séc, hoặc trả theo lệnh của người này hoặc trả cho người cầm séc”. 11 Theo Luật các công cụ chuyển nhượng của Việt Nam: Séc là giấy tờ có giá do người ký phát lập, ra lệnh cho người bị ký phát là ngân hàng hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán được phép của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trích một số tiền nhất định từ tài khoản của mình để thanh toán cho người thụ hưởng.
Về hình thức, séc bắt buộc phải có đầy đủ các nội dung sau: tiêu đề “séc”; người trả tiền (NH giữ tài khoản phát hành séc của KH); nơi trả tiền; ngày tháng và nơi phát hành séc; tên, địa chỉ, số tài khoản và chữ ký của người phát hành séc. c/ Thẻ ngân hàng Quyết định số 96/2014/NĐ-CP về việc ban hành, sử dụng và thanh toán thẻ ngân hàng đã đưa ra định nghĩa: “Thẻ ngân hàng là phương tiện do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản được các bên thoả thuận.” Thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt. Thẻ ngân hàng là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành cấp cho KH sử dụng để thanh toán hàng hóa, dịch vụ; rút tiền mặt trong phạm vi số dư tiền gửi của mình hoặc hạn mức tín dụng được cấp; thực hiện các dịch vụ thông qua hệ thống giao dịch tự động. Các loại thẻ chính được sử dụng phổ biến gồm: thẻ tín dụng, thẻ thanh toán, thẻ ATM, thẻ ghi nợ.
d/ Kỳ phiếu Theo Luật Công cụ chuyển nhượng của Việt Nam năm 2005: “Kỳ phiếu là một cam kết trả tiền hộ vô điều kiện do người lập phiếu phát ra, hứa trả một số tiền nhất định cho người thụ hưởng quy định trên kỳ phiếu hoặc theo lệnh của người này để trả cho một người khác hoặc trả cho người cầm phiếu.24] Về quy tắc lưu thông, hối phiếu và kỳ phiếu giống nhau. Các điều luật dùng để điều chỉnh hối phiếu cũng được áp dụng tương tự cho một kỳ phiếu. So với hối phiếu, kỳ phiếu ít được sử dụng trong TTXK hơn. Về hình thức, kỳ phiếu cần có đầy đủ những nội dung chủ yếu sau: tiêu đề “kỳ phiếu”; cam kết trả tiền vô điều kiện, một số tiền nhất định; thời hạn trả tiền; địa điểm trả tiền; người thụ hưởng; địa điểm và ngày ký phát; chữ ký của người ký phát.
Các điều kiện thanh toán xuất khẩu Các điều kiện thanh toán quy định trong TTXK bao gồm: Đồng tiền thanh toán, địa điểm thanh toán, thời hạn thanh toán, phương thức thanh toán và điều kiện đảm bảo hối đoái. a/ Đồng tiền thanh toán Điều kiện về đồng tiền thanh toán là chỉ việc sử dụng loại tiền nào để thanh toán trong các hợp đồng TMQT, đồng thời quy định cách xử lý khi giá trị đồng tiền đó bị biến động. Đồng tiền dùng vào việc thanh toán có thể trùng hợp với đồng tiền tính giá (tức đồng tiền biểu thị giá cả) và có thể không trùng hợp. Khi các đồng tiền thanh toán và đồng tiền tính giá là hai đồng tiền khác nhau, người ta phải xác định tỷ giá để quy đổi hai đồng tiền đó.
Trong đó, đặc biệt người ta lựa chọn: - Đó là tỷ giá chính thức hay tỷ giá thị trường; - Đó là tỷ giá của công cụ thanh toán nào (tỷ giá chuyển tiền bằng điện hay bằng thư). - Đó là tỷ giá thị trường tiền tệ nào (ở nước XK, ở nước NK hay ở nước thứ ba). - Đó là tỷ giá mua vào hay tỷ giá bán ra v.v… Vì lợi ích của mình, người XK thường muốn chọn đồng tiền thanh toán là một đồng tiền ít có khả năng mất giá, tự do chuyển đổi hoặc dễ dàng đổi ra vàng. Nhà NK thì ngược lại.