PHẦN MỞ ĐẦU 1/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI. Trong thời đại ngày nay, hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ trở thành một xu thế phổ biến trên thế giới với mục tiêu là thúc đ ẩy tự do thƣơng mại quốc tế, giảm dần và tiến tới xóa bỏ các hàng rào bảo hộ do các quốc gia áp đặt nhằm cản trở tự do hóa thƣơng mại. Việc Việt Nam chính thức là thành viên của WTO đang đẩy nhanh tiến trình thâm nhập của các Ngân hàng nƣớc ngoài vào Việt Nam, đặt các ngân hàng thƣơng mại trong nƣớc trƣớc những thách thức hết sức to lớn trong cuộc tranh đua giành thị phần cũng nhƣ khả năng tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. Trong suốt quá trình hội nhập, Ngân hàng TMCP Ngo ại thƣơng Việt Nam (Vietcombank) đã triển khai đề án cơ cấu lại hoạt động của mình nhằm lành mạnh hoá tình hình tài chính, đổi mới mô hình tổ chức gắn với chuẩn mực quốc tế, đa dạng hoá và hiện đại hóa các dịch vụ ngân hàng, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế.
Sau hơn 4 năm gia nhập WTO, Vietcombank đã cổ phần hoá thành công, góp phần nâng cao năng lực tài chính, vị thế của Vietcombank đối với giới đầu tƣ trong nƣớc và quốc tế. Trên địa bàn tỉnh Bình Dƣơng cũng vậy, Vietcombank Bình Dƣơng đang trong quá trình hội nhập và phát triển trong lĩnh vực tài chính chung với các chi nhánh ngân hàng khác trên địa bàn, góp phần vào mục tiêu đổi mới và phát triển của cả hệ thống Vietcombank. Tuy nhiên, bên cạnh các thành quả đã đạt đƣợc Vietcombank Bình Dƣơng cũng gặp không ít những khó khăn cũng nhƣ thách thức trong quá trình hội nhập, đặc biệt là sự cạnh tranh ngày càng gay gắt đòi hỏi Vietcombank Bình Dƣơng phải đánh giá đƣợc năng lực cạnh tranh hiện tại nhằm góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trong thời gian tới. Với mong muốn đóng góp một phần vào sự nghiệp đổi mới và phát triển của Vietcombank Bình Dƣơng cũng nhƣ đề xuất những giải pháp thích hợp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của mình, tôi xin chọn đề tài: Nâng cao năng lực 123doc cạnh tranh của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Bình Dương đến năm 2015.
2/ MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU. Đề tài đã trình bày những vấn đề sau: - Những lý luận về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh. - Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của Vietcombank chi nhánh Bình Dƣơng. - Trên cơ sở lý luận và phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Vietcombank chi nhánh Bình Dƣơng đến năm 2015.
3/ ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU. - Đối tƣợng nghiên cứu: Năng lực cạnh tranh nội tại của Ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng Việt Nam - Chi Nhánh Bình Dƣơng. - Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động của Ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng Việt Nam – Chi Nhánh Bình Dƣơng trên địa bàn tỉnh Bình Dƣơng đến năm 2015. 4/ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Thu thập thông tin và dữ liệu từ các báo cáo thƣờng niên của Ngân hàng Nhà Nƣớc, các NHTM Nhà nƣớc, các Ngân hàng TMCP cổ phần, Ngân hàng nƣớc ngoài hoạt động tại Việt Nam,….các số liệu từ Tổng cục thống kê, các tạp chí kinh tế, tạp chí Ngân hàng,…. Ngoài ra đề tài còn đƣợc sử dụng hai phƣơng pháp nghiên cứu sau: - Phƣơng pháp chuyên gia: phƣơng pháp sử dụng ý kiến của chuyên gia thể hiện qua bảng câu hỏi phỏng vấn để tổng hợp đánh giá năng lực cạnh tranh của VCB Bình Dƣơng so với các đối thủ khác trên địa bàn tỉnh. Thông qua hình ảnh ma trận cạnh tranh và tổng hợp ý kiến từ chuyên gia, luận văn sẽ đề xuất những giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của VCB Bình Dƣơng. Bảng câu hỏi phỏng vấn 1 đƣợc gửi đến 18 chuyên gia là những ngƣời có vị trí cao trong các 1 Phụ lục 1 123doc ngân hàng thƣơng mại trong tỉnh Bình Dƣơng.
Số lƣợng bảng câu hỏi phỏng vấn thu thập lại là 14, số lƣợng bảng câu hỏi đƣợc chọn đánh giá là 10. - Phƣơng pháp phỏng vấn qua bảng câu hỏi điều tra: bảng câu hỏi 2 đƣợc gửi đến cho hơn 100 đối tƣợng là khách hàng có sử dụng sản phẩm dịch vụ tại các ngân hàng thƣơng mại với số lƣợng bảng câu hỏi đƣợc chọn đánh giá là 89. Phƣơng pháp phỏng vấn bằng bảng câu hỏi điều tra về chất lƣợng phục vụ khách hàng tại VCB Bình Dƣơng so với các ngân hàng khác trên địa bàn tỉnh nhằm tổng hợp lại trong số những ngƣời tham gia có bao nhiêu phần trăm hài lòng về chất lƣợng phục vụ khách hàng tại VCB Bình Dƣơng so với các Ngân hàng khác. 5/ Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU.
Đề tài giúp các nhà quản trị ngân hàng, cán bộ ngân hàng xác định rõ hơn về các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh của Ngân hàng, trên cơ sở đó tạo ra những điều kiện thuận lợi và phù hợp trong việc phát huy các yếu tố quan trọng và nhằm ngày càng nâng cao năng lực cạnh tranh cho Vietcombank – Chi nhánh Bình Dƣơng. Đề tài đề xuất một số giải pháp thiết thực và phù hợp với thực tiễn nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Vietcombank – Chi Nhánh Bình Dƣơng. Từ đó giúp các nhà quản trị ngân hàng tập trung nguồn lực để đầu tƣ và đƣa ra chính sách và các chiến lƣợc phù hợp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của VCB Bình Dƣơng. 6/ CẤU TRÚC LUẬN VĂN.
Ngoài Phần trong 3 chƣơng: CHƢƠNG 1: Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thƣơng mại CHƢƠNG 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của NHTMCP Ngoại Thƣơng Việt Nam - Chi Nhánh Bình Dƣơng. 2 Phụ lục 5 123doc CHƢƠNG 3: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTMCP Ngoại thƣơng Việt Nam – Chi Nhánh Bình Dƣơng đến năm 2015. 123doc CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA NG ÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Những vấn đề cơ bản về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh.
Thuật ngữ “Cạnh tranh” đƣợc sử dụng rất phổ biến hiện nay trong nhiều lĩnh vực nhƣ kinh tế, thƣơng mại, luật, chính trị, quân sự, sinh thái, thể thao…. Tiếp cận ở góc độ đơn giản, mang tính tổng quát thì cạnh tranh là hành động ganh đua, đấu tranh chống lại các cá nhân hay các nhóm, các loài vì mục đích giành đƣợc sự tồn tại, sống còn, giành đƣợc lợi nhuận, địa vị, sự kiêu hãnh, các phần thƣởng hay những thứ khác. [28] Trong kinh tế chính trị học, cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa những chủ thể trong nền sản xuất hàng hóa nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùng hàng hóa để từ đó thu đƣợc nhiều lợi ích nhất cho mình. Cạnh tranh có thể xảy ra giữa những ngƣời sản xuất với ngƣời tiêu dùng (ngƣời sản xuất muốn bán đắt, ngƣời tiêu dùng muốn mua rẻ); giữa ngƣời tiêu dùng với nhau để mua đƣợc hàng rẻ hơn; giữa những ngƣời sản xuất để có những điều kiện tốt hơn trong sản xuất và tiêu thụ.
Có nhiều biện pháp cạnh tranh: cạnh tranh giá cả (giảm giá, chiết khấu, …) hoặc cạnh tranh phi giá cả (quảng cáo, tiếp thị…). Hay cạnh tranh của một doanh nghiệp, một ngành, một quốc gia là mức độ mà ở đó, dƣới các điều kiện về thị trƣờng tự do và công bằng có thể sản xuất ra các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ đáp ứng đƣợc đòi hỏi của thị trƣờng, đồng thời tạo ra việc làm và nâng cao đƣợc thu nhập thực tế. Theo Michael Porter, cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có.
Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hƣớng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi. [28] 123doc Hoặc cũng theo Micheal Porter “Những doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh là những doanh nghiệp đạt đƣợc mức tiến bộ cao hơn mức tiến bộ trung bình về chất lƣợng hàng hóa và dịch vụ và/hoặc có khả năng cắt giảm các chi phí tƣơng đối cho phép họ tăng đƣợc lợi nhuận (doanh thu – chi phí) và/ho ặc thị phần. Khái niệm trên đã phần nào phản ánh tƣơng đối toàn diện về năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp. Nó chỉ rõ mục tiêu của cạnh tranh và những đặc điểm cơ bản của việc cạnh tranh thành công.
Theo Ông, để có thể cạnh tranh thành công, các doanh nghiệp phải có đƣợc lợi thế cạnh tranh dƣới hình thức hoặc là có chi phí sản xuất thấp hơn hoặc là có khả năng khác biệt hóa sản phẩm để đạt đƣợc những mức giá cao hơn trung bình. Vậy cạnh tranh là cố gắng nhằm giành lấy phần hơn phần thắng về mình trong môi trƣờng cạnh tranh. Để có cạnh tranh phải có các điều kiện tiên quyết sau [23]: - Phải có nhiều chủ thể cùng nhau tham gia c ạnh tranh: Đó là các chủ thể có cùng các mục đích, mục tiêu và kết quả phải giành giật, tức là phải có một đối tƣợng mà chủ thể cùng hƣớng đến chiếm đoạt. Trong nền kinh tế, với chủ thể cạnh tranh bên bán, đó là c ác loại sản phẩm tƣơng tự có cùng mục đích phục vụ một loại nhu cầu của khách hàng mà các chủ thể tham gia cạnh tranh đều có thể làm ra và đƣợc ngƣời mua chấp nhận.
Còn với các chủ thể cạnh tranh bên mua là giành giật mua đƣợc các sản phẩm theo đúng mong muốn của mình. - Việc cạnh tranh phải đƣợc diễn ra trong một môi trƣờng cạnh tranh cụ thể, đó là các ràng buộc chung mà các chủ thể tham gia cạnh tranh phải tuân thủ. Các ràng buộc này trong c ạnh tranh kinh tế giữa các doanh nghiệp chính là các đặc điểm nhu cầu về sản phẩm của khách hàng và các ràng buộc của luật pháp và thông lệ kinh doanh ở trên thị trƣờng. Còn giữa ngƣời mua với ngƣời mua, hoặc giữa những ngƣời mua và ngƣời bán là các thoả thuận đƣợc thực hiện có lợi hơn cả đối với ngƣời mua.
- Cạnh tranh có thể diễn ra trong một khoảng thời gian không cố định hoặc ngắn (tùy từng vụ việc) hoặc dài (trong suốt quá trình tồn tại và hoạt động của mỗi 123doc chủ thể tham gia cạnh tranh). Sự cạnh tranh có thể diễn ra trong kho ảng thời gian không nhất định hoặc hẹp (một tổ chức, một địa phƣơng, một ngành) hoặc rộng (một nƣớc, giữa các nƣớc). Năng lực cạnh tranh.