CHƯƠNG I – CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG BÁN LẺ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. KHÁI NIỆM HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG BÁN LẺ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Hoạt động tín dụng bán lẻ tại các ngân hàng thương mại 1. Khái niệm Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, các ngân hàng thương mại đã tồn tại và phát triển trở thành một trong những định chế tài chính không thể thiếu được, đóng góp vai trò quan trọng.
Theo đạo luật ngân hàng Pháp (1941), “ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”. Trong những nghiệp vụ kinh doanh tiền tệ của ngân hàng, tín dụng là một hoạt động cốt lõi, chiếm tỷ trọng tương đối lớn và không thể thiếu của một ngân hàng thương mại. Xét trong toàn cảnh nền kinh tế, tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao một lượng giá trị sang cho bên kia được sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận được phải cam kết hoàn trả theo thời hạn đã thỏa thuận (Nguyễn Thị Hà Thu, 2017). Mối quan hệ giao dịch này thể hiện các nội dung sau: (i) Người cho vay chuyển giao cho người đi vay một lượng giá trị nhất định.
(ii) Người đi vay chỉ được sử dụng tạm thời trong một thời gian nhất định, sau khi hết thời hạn sử dụng theo thỏa thuận, người đi vay phải hoàn trả cho người cho vay. Xét trong bối cảnh ngân hàng, cấp tín dụng là việc thỏa thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, bảo lãnh, chiết khấu, bao thanh toán, đầu tư trái phiếu doanh nghiệp, phát hành thẻ tín dụng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác 6 theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (Luật các tổ chức tín dụng, 2010). Chủ thể tham gia trong quan hệ tín dụng ngân hàng là ngân hàng, nhà nước, doanh nghiệp và cá nhân. Đối tượng được sử dụng trong quan hệ tín dụng là tiền, do đó, nó không chịu sự giới hạn theo hàng hóa, vận động đa phương đa chiều.
Đây chính là ưu điểm nổi bật và là đặc điểm khác biệt giữa tín dụng ngân hàng với các loại tín dụng khác. Hiện nay, tại hầu hết các ngân hàng thương mại đều phân hoạt động tín dụng theo đối tượng khách hàng để thành lập ra các khối hoạt động riêng: khối khách hàng doanh nghiệp và khối bán lẻ. Trong đó, khối khách hàng doanh nghiệp tập trung phục vụ các doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp lớn và siêu lớn, các định chế tài chính và các tổ chức phi lợi nhuận. Trong khi đó, khối bán lẻ phục vụ đối tượng khách hàng bao gồm các cá nhân, chủ hộ kinh doanh, chủ doanh nghiệp tư nhân và các doanh nghiệp siêu vi mô.
Theo thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 hiệu lực từ ngày 15/03/2017 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; hai đối tượng không còn được coi là chủ thể trong hoạt động tín dụng là doanh nghiệp tư nhân và hộ gia đình. Thay vào đó đối tượng vay vốn sẽ là chủ doanh nghiệp tư nhân và chủ hộ kinh doanh với tư cách là cá nhân vay vốn. Các hình thức của hoạt động cấp tín dụng bán lẻ - Cho vay: Cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống. Cho vay trung hạn, dài hạn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và phục vụ đời sống.
- Bảo lãnh: Đó là hoạt động mà các ngân hàng cung cấp các dịch vụ bảo lãnh cho các cá nhân, tổ chức như: bảo lãnh cho vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh đấu thầu và các hình thức bảo lãnh ngân hàng khác bằng uy tín và khả năng tài chính của mình đối với bên nhận bảo lãnh. - Chiết khấu: Các ngân hàng được chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác khi các cá nhân, tổ chức có yêu cầu. 7 - Bao thanh toán: Các ngân hàng cấp tín dụng cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc mua, bán hàng hóa đã được bên bán hàng và bên mua hàng thỏa thuận tại hợp đồng mua bán. - Phát hành thẻ tín dụng: ngân hàng cho phép khách hàng trong phạm vi hạn mức tín dụng có thể giao dịch thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ tại các cơ sở bán hàng có chấp nhận thanh toán thẻ hay rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động.
Vai trò của hoạt động cấp tín dụng bán lẻ Xét một cách tổng quan toàn bộ nền kinh tế, hoạt động tín dụng nói chung đóng một vai trò hết sức quan trọng. Thông qua hoạt động tín dụng, nguồn vốn được lưu chuyển từ nơi dư thừa sang nơi thiếu hụt, tập trung vào những ngành đang trên đà phát triển, nơi sử dụng vốn hiệu quả và hợp lý nhất. Nhờ có hoạt động tín dụng, hoạt động sản xuất và mua bán hàng hóa được liền mạch, thông suốt, tránh thời gian chờ gây lãng phí các nguồn lực khác. Đồng thời, Nhà nước cũng có thể thông qua hoạt động tín dụng để thực hiện các chính sách vĩ mô, thúc đẩy các ngành kinh tế trọng điểm, tạo nên cơ cấu ngành kinh tế hợp lý.
Hoạt động tín dụng cũng mở rộng trên thị trường quốc tế, tạo điều kiện cho nhà nước, doanh nghiệp và kể cả người dân được tiếp cận nguồn vốn vay từ nước ngoài. Từ đó, hoạt động trong nước được tăng cường tính minh bạch, hiệu quả để đáp ứng yêu cầu vay vốn từ các tổ chức nước ngoài. Quan hệ kinh tế quốc tế theo đó ngày càng phát triển, giúp Việt Nam hội nhập và học hỏi với các nước tiên tiến trên thế giới. Đối với doanh nghiệp, tín dụng ngân hàng trở thành một phần không thể thiếu để thúc đẩy hiệu quả sử dụng vốn, nâng cao tính thanh khoản.
Bảo lãnh ngân hàng giúp doanh nghiệp tự tin tham gia các hoạt động thương mại trong và ngoài nước. Tín dụng cũng giúp doanh nghiệp vượt qua những khó khăn tạm thời, thúc đẩy đầu tư cải tiến, phát triển quy mô và tăng trưởng. Đối với người dân, tín dụng giúp nâng cao đời sống, tạo nguồn vốn kinh doanh. Nhờ có tín dụng mà độ tuổi của người dân có nhà để ở, có xe ô tô để đi, có vốn để bắt đầu hoạt động kinh doanh từ rất trẻ.
Tín dụng giúp xóa bỏ khoảng cách 8 giữa những người được sinh ra trong hoàn cảnh khác nhau, đem cơ hội phát triển tới tất cả mọi người. Từ đó, tín dụng giúp xã hội trở nên giàu có, tốt đẹp hơn. Phân loại hoạt động cấp tín dụng bán lẻ * Theo thời gian: - Tín dụng ngắn hạn: là các khoản tín dụng có thời hạn từ 12 tháng trở xuống. Mục đích là đáp ứng nhu cầu vốn lưu động phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp về mua nguyên vật liệu, chi phí sản xuất hoặc nhu cầu tiêu dùng, thanh toán của cá nhân có giá trị nhỏ.
- Tín dụng trung hạn: là các khoản tín dụng có thời hạn trên 12 tháng và không quá 60 tháng. Mục đích để sửa chữa, khắc phục, thay thế tài sản cố định hoặc cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa quá trình sản xuất, đổi mới quy trình công nghệ và xây dựng mới những công trình loại nhỏ thu hồi vốn nhanh. - Tín dụng dài hạn: là các khoản tín dụng có thời hạn trên 60 tháng. Mục đích tương tự tín dụng trung hạn nhưng với những công trình quy mô lớn, thời hạn thu hồi vốn lâu hơn.
* Theo phương thức cấp tín dụng: - Cấp tín dụng từng lần: áp dụng đối với khách hàng có nhu cầu cấp tín dụng không thường xuyên hoặc ngân hàng xét thấy cần phải áp dụng phương thức từng lần để giám sát, kiểm tra, quản lý việc sử dụng vốn chặt chẽ, an toàn. Mỗi lần đề nghị cấp tín dụng, khách hàng và ngân hàng ký một hợp đồng tín dụng. Tổng doanh số cho vay đảm bảo không vượt quá số tiền đã ký trong hợp đồng tín dụng. - Cấp tín dụng theo hạn mức: căn cứ vào dự án, kế hoạch sản xuất kinh doanh của khách hàng, ngân hàng tính toán và thỏa thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong thời hạn nhất định hoặc theo chu kỳ sản xuất kinh doanh.
Khách hàng được rút vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng cho phép căn cứ vào nhu cầu vốn của phương án sản xuất kinh doanh và chỉ phải xuất trình những thủ tục đơn giản. Phương thức này thường được áp dụng cho các khách hàng có nhu cầu cấp tín dụng thường xuyên, sản xuất kinh doanh ổn định, có uy tín trong quan hệ với ngân hàng. 9 - Cấp tín dụng theo dự án đầu tư: ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời sống. Áp dụng đối với các khoản tín dụng trung, dài hạn.
* Theo hình thức bảo đảm: - Tín dụng có bảo đảm bằng tài sản: là loại hình tín dụng theo đó nghĩa vụ trả nợ của chủ thể vay vốn được bảo đảm bằng tài sản cầm cố, thế chấp của chính chủ thể vay vốn, tài sản hình thành từ vốn vay hoặc tài sản bảo đảm của bên thứ ba. Sự bảo đảm này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm nguồn thu nợ khi xảy ra rủi ro. - Tín dụng không có bảo đảm bằng tài sản: là loại hình tín dụng không có tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh; mà việc cấp tín dụng này do chính các ngân hàng lựa chọn dựa trên cơ sở các phương án vay vốn hiệu quả, khả thi và dựa vào độ tín nhiệm, uy tín trong quan hệ tín dụng của khách hàng. Trên thực tế, tín dụng bán lẻ thường chú trọng vào tài sản đảm bảo, coi đây là một trong những yếu tố quan trọng khi đưa ra quyết định cấp tín dụng.
Trong khi đó, khối doanh nghiệp thường có tỷ trọng lớn các khoản tín dụng không được đảm bảo đầy đủ bằng tài sản.