Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Đoàn Thị Thu Trang với đề tài "Đánh giá những yếu tố ảnh hưởng tới ý định khởi nghiệp của sinh viên Việt Nam: Nghiên cứu trường hợp sinh viên khối ngành kỹ thuật" (Chuyên ngành: Kinh tế học, Mã số: 9310101; Người hướng dẫn khoa học: PGS. Lê Hiếu Học và TS. Phạm Thị Kim Ngọc) được thực hiện tại Trường Đại học Bách khoa Hà Nội năm 2018. Công trình thuộc định hướng nghiên cứu hỗn hợp kết hợp định tính và định lượng, trong đó trọng tâm phân tích thực nghiệm dựa trên mô hình cấu trúc tuyến tính để đo lường các yếu tố nhận thức cá nhân tác động đến ý định khởi nghiệp.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu chuyển dịch sang nền kinh tế tri thức và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo đóng vai trò thúc đẩy năng lực cạnh tranh, tăng năng suất lao động và tạo việc làm mới. Tại Việt Nam, tăng trưởng kinh tế đang có xu hướng giảm tốc và đối mặt với tình trạng gia tăng tỷ lệ thất nghiệp ở nhóm lao động có trình độ đại học trở lên. Nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách như "Năm quốc gia khởi nghiệp 2016", Đề án "Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025" (Đề án 844) và Đề án "Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp đến năm 2025" (Đề án 1665).
Tuy nhiên, theo Báo cáo Chỉ số Khởi nghiệp Toàn cầu (GEM 2015/16), tỷ lệ khởi nghiệp tại Việt Nam còn ở mức thấp (cứ 100 người trưởng thành thì chỉ có khoảng 15 người trong giai đoạn khởi nghiệp kinh doanh dưới 3,5 năm). Hàm lượng đổi mới sáng tạo và tỷ lệ bảo hộ sáng chế trong các dự án khởi nghiệp tại Việt Nam còn rất hạn chế; đa số doanh nghiệp chỉ dừng lại ở quy mô nhỏ và vừa truyền thống, thiếu nền tảng công nghệ cao.
Về mặt học thuật, hoạt động khởi sự doanh nghiệp được xác định là một hành vi có kế hoạch và dự định (intentionally planned behavior). Ý định khởi nghiệp là tiền tố dự báo chính xác nhất cho hành vi thành lập doanh nghiệp trong tương lai. Nhiều nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào các yếu tố ngoại cảnh hoặc các mẫu khảo sát chung chung (như sinh viên khối ngành kinh tế - quản trị kinh doanh). Trong khi đó, sinh viên khối ngành kỹ thuật là lực lượng nòng cốt nắm giữ kiến thức khoa học công nghệ để tạo ra các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo có giá trị gia tăng cao. Thực tiễn các trường đại học quốc tế (như Viện Công nghệ Massachusetts - MIT, Đại học Stanford) cũng như khảo sát tại Việt Nam của iPrice Group và Quỹ 500 Startups (2017) cho thấy phần lớn các nhà sáng lập dự án khởi nghiệp sáng tạo thành công đều xuất thân từ khối ngành kỹ thuật. Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là thiếu các nghiên cứu toàn diện đánh giá các yếu tố nhận thức nội tại tác động đến ý định khởi nghiệp sáng tạo của sinh viên kỹ thuật tại Việt Nam, cũng như mức độ tác động khác biệt giữa các phân nhóm sinh viên.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận án tập trung vào ba nội dung:
- Xác định, đánh giá và xem xét mức độ tác động của các yếu tố nhận thức cá nhân đến ý định khởi nghiệp của sinh viên khối ngành kỹ thuật tại Việt Nam.
- So sánh sự khác biệt về mức độ tác động của các yếu tố trên tới ý định khởi nghiệp và mức độ sẵn sàng khởi nghiệp của các nhóm sinh viên khối ngành kỹ thuật khác nhau về đặc điểm nhân khẩu học, kiến thức và kinh nghiệm khởi nghiệp.
- Đề xuất một số giải pháp đối với cơ quan quản lý Nhà nước, các trường đại học và bản thân sinh viên khối ngành kỹ thuật Việt Nam nhằm nuôi dưỡng và nâng cao ý định khởi nghiệp.
Câu hỏi nghiên cứu
Luận án giải quyết 4 câu hỏi nghiên cứu cụ thể:
- Tình hình khởi nghiệp sáng tạo và phát triển phong trào khởi nghiệp sáng tạo của sinh viên các trường đại học nói chung và các trường đại học kỹ thuật nói riêng trong giai đoạn hiện nay như thế nào?
- Những nhân tố nào thuộc về nhận thức cá nhân đối với hoạt động khởi nghiệp ảnh hưởng tới ý định khởi nghiệp của sinh viên ngành kỹ thuật? Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố nhận thức cá nhân trên tới ý định khởi nghiệp của sinh viên ngành kỹ thuật như thế nào?
- Các đặc điểm nhân khẩu học, kiến thức và kinh nghiệm khởi nghiệp khác nhau có tạo ra sự khác biệt về mức độ tác động của các nhân tố nhận thức cá nhân đến ý định khởi nghiệp và mức độ sẵn sàng khởi nghiệp sáng tạo của sinh viên đại học ngành kỹ thuật hay không?
- Có những giải pháp nào đối với cơ quan quản lý Nhà nước, các trường đại học và bản thân sinh viên khối ngành kỹ thuật Việt Nam để nuôi dưỡng và hiện thực hoá ý định khởi nghiệp sáng tạo của sinh viên?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Ý định khởi nghiệp và các yếu tố nhận thức cá nhân tác động tới ý định khởi nghiệp của sinh viên khối ngành kỹ thuật Việt Nam.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào các biến nhận thức bên trong cá nhân (perception-based variables), bao gồm giá trị mong đợi cá nhân, thái độ đối với việc khởi nghiệp, niềm tin về chuẩn mực xã hội, chuẩn chủ quan, cảm nhận về năng lực bản thân, nhận thức kiểm soát hành vi và cảm nhận về may mắn; cùng các biến điều khiển nhân khẩu học và đào tạo khởi nghiệp. Khảo sát tập trung vào sinh viên chính quy 2 năm cuối của khối ngành kỹ thuật.
- Phạm vi không gian: Khảo sát tại 8 trường đại học đào tạo chuyên ngành kỹ thuật tại Việt Nam (gồm 4 trường miền Bắc và 4 trường miền Nam). Cỡ mẫu phát ra là 2.500 phiếu, cỡ mẫu dự kiến thu về hợp lệ là 1.700 sinh viên.
- Phạm vi thời gian: Luận án được triển khai trong giai đoạn từ tháng 6/2014 đến tháng 6/2018; dữ liệu điều tra khảo sát sinh viên được thu thập chính thức trong năm 2016.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu quốc tế và trong nước về ý định khởi nghiệp thông qua 4 cách tiếp cận chính:
1. Tiếp cận đặc điểm tính cách cá nhân (Trait approach)
2. Tiếp cận đặc điểm xã hội học - nhân khẩu học (Demographic - sociological approach)
3. Tiếp cận hành vi (Behavioral approach)
4. Tiếp cận tổng hợp (Integrated approach)
Các hướng nghiên cứu trước trong tài liệu học thuật
- Cách tiếp cận đặc điểm, tính cách cá nhân: Các công trình tiêu biểu của David C. McClelland (1961) về nhu cầu thành đạt; Schumpeter (1934, 1947) về tư duy sáng tạo; Robinson và cộng sự (1991) về sự tự tin và tự chủ; Hornaday (1982) với 40 đặc điểm doanh nhân; Mô hình 5 đặc điểm tính cách (FFM); Mô hình ASA của Schneider (1987). Hướng tiếp cận này sau đó bị hạn chế do chỉ giải thích được khoảng 10% sự biến thiên của ý định khởi nghiệp và thiếu tính nhất quán thực nghiệm.
- Cách tiếp cận đặc điểm xã hội học – nhân khẩu học: Các nghiên cứu của Drennan và cộng sự (2005), Alsos và cộng sự (2011) về truyền thống gia đình; Reynolds (1997), Goyane (2014), Kibler và cộng sự (2014), Van Gelderen và cộng sự (2008) về môi trường và thể chế; Kwong và cộng sự (2012), Samantha (2014), Douglas (2013), Kolvereid & Moen (1997), Koe (2012) về vai trò của giáo dục khởi nghiệp. Cách tiếp cận này thường chỉ đóng vai trò phụ trợ, không đủ độ tin cậy khi đứng độc lập.
- Cách tiếp cận hành vi: Khẳng định ý định là tiền tố dự báo chính xác nhất hành vi có kế hoạch (Ajzen, 1991; Bird, 1988; Krueger và cộng sự, 2000). Trọng tâm của hướng tiếp cận này là Lý thuyết Hành vi có Kế hoạch (Theory of Planned Behavior - TPB) của Ajzen (1991), kiểm định tác động của ba thành tố: Thái độ đối với hành vi, Chuẩn chủ quan và Nhận thức kiểm soát hành vi. Các nghiên cứu thực nghiệm của Tegtmeier (2012), Miranda và cộng sự (2017), Autio và cộng sự (2001), Wu & Wu (2008), Boissin và cộng sự (2009), Yurtkoru và cộng sự (2014) cho thấy kết quả tác động của Thái độ và Kiểm soát hành vi tương đối đồng nhất, nhưng mối quan hệ giữa Chuẩn chủ quan và Ý định khởi nghiệp chưa có sự thống nhất giữa các bối cảnh văn hóa khác nhau.
- Cách tiếp cận tổng hợp: Kết hợp các biến cá nhân, nhận thức và môi trường, như các mô hình của Robinson và cộng sự (1991), Learned (1992), Weber và cộng sự (2009), Lans và cộng sự (2014), Fayolle & Gailly (2008), Schillo và cộng sự (2016).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Luận án chỉ ra các nghiên cứu về ý định khởi nghiệp ở Việt Nam trước đây chủ yếu thực hiện trên sinh viên ngành kinh tế - quản trị kinh doanh, sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính đơn giản hoặc chưa phân tích sâu cấu trúc nhận thức nhiều tầng bậc. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống:
- Đánh giá tính phù hợp của mô hình TPB mở rộng trên đối tượng đặc thù là sinh viên khối ngành kỹ thuật Việt Nam.
- Kiểm định lại vai trò của Chuẩn chủ quan và bổ sung các nhân tố nhận thức mới phù hợp với bối cảnh văn hóa Á Đông (như Cảm nhận về may mắn).
- Làm rõ các biến tiền tố nhận thức cấp cơ sở (Giá trị mong đợi của cá nhân, Niềm tin về chuẩn mực xã hội, Cảm nhận về năng lực bản thân) tác động gián tiếp đến ý định khởi nghiệp thông qua ba trụ cột của TPB.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và mô hình nghiên cứu đề xuất
Luận án phát triển khung phân tích dựa trên nền tảng Lý thuyết Hành vi có Kế hoạch (TPB - Ajzen, 1991) kết hợp với Mô hình Sự kiện Khởi sự Kinh doanh (SEE - Shapero & Sokol, 1982) và mô hình ý định của Linan (2004), Krueger (2000).
Mô hình nghiên cứu bao gồm các nhóm biến số sau:
- Biến phụ thuộc: Ý định khởi nghiệp của sinh viên kỹ thuật.
- Biến trung gian / biến độc lập trực tiếp:
- Thái độ đối với việc khởi nghiệp.
- Chuẩn chủ quan.
- Nhận thức kiểm soát hành vi.
- Cảm nhận về may mắn (biến bổ sung).
- Biến tiền tố (tác động gián tiếp):
- Giá trị mong đợi của cá nhân (tác động đến Thái độ đối với việc khởi nghiệp).
- Niềm tin về chuẩn mực xã hội (tác động đến Chuẩn chủ quan).
- Cảm nhận về năng lực bản thân (tác động đến Nhận thức kiểm soát hành vi).
- Biến điều khiển: Giới tính, năm học, trường đào tạo, khu vực địa lý/quê quán, nghề nghiệp của gia đình, hoạt động nghiên cứu khoa học/làm thêm, và việc tham gia các chương trình đào tạo khởi nghiệp.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:
- Phương pháp định tính:
- Phương pháp nghiên cứu tại bàn (desk research) thu thập và phân tích dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo chính thức của Bộ Giáo dục và Đào tạo, GEM, APEC, VCCI.
- Phỏng vấn sâu chuyên gia quản lý, giảng viên khởi nghiệp và đại diện sinh viên đã hoặc chưa tham gia khởi nghiệp.
- Áp dụng phương pháp Delphi 2 vòng với hội đồng chuyên gia để điều chỉnh, sàng lọc và chuẩn hóa thang đo khảo sát.
- Phương pháp định lượng:
- Khảo sát thử nghiệm sơ bộ tại 01 trường đại học kỹ thuật trọng điểm để hoàn thiện bảng hỏi.
- Khảo sát chính thức trên diện rộng tại 08 trường đại học đào tạo kỹ thuật trên cả nước.
- Công cụ phần mềm sử dụng: SPSS và AMOS.
- Quy trình phân tích: Thống kê mô tả mẫu; Kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha; Phân tích nhân tố khám phá (EFA); Phân tích nhân tố khẳng định (CFA) cho mô hình đo lường và mô hình tới hạn; Mô hình hóa cấu trúc tuyến tính (SEM) để kiểm định các giả thuyết từ H1 đến H7; Phân tích đa nhóm kiểm định các giả thuyết H8, H9; Phân tích Bootstrap với 2.000 mẫu tái lập để kiểm định độ vững của mô hình; Phân tích kiểm định sai biệt T-Test, ANOVA và kiểm định hậu định (Post-hoc).
| Yếu tố trong mô hình |
Nguồn gốc lý thuyết / Cơ sở thang đo |
Vai trò trong mô hình |
| Ý định khởi nghiệp |
Krueger (1993, 2000), Linan (2004), Ajzen (1991) |
Biến phụ thuộc chính |
| Thái độ đối với việc khởi nghiệp |
Ajzen (1991), Robinson và cộng sự (1991) |
Biến trung gian / tác động trực tiếp |
| Chuẩn chủ quan |
Ajzen (1991), Autio và cộng sự (2001) |
Biến trung gian / tác động trực tiếp |
| Nhận thức kiểm soát hành vi |
Ajzen (1991), Bandura (1986) |
Biến trung gian / tác động trực tiếp |
| Cảm nhận về may mắn |
Đề xuất mới dựa trên bối cảnh thực nghiệm Việt Nam |
Biến độc lập tác động trực tiếp |
| Giá trị mong đợi của cá nhân |
Ajzen (1991), Shapero & Sokol (1982) |
Tiền tố tác động lên Thái độ |
| Niềm tin về chuẩn mực xã hội |
Ajzen (1991), Linan (2004) |
Tiền tố tác động lên Chuẩn chủ quan |
| Cảm nhận về năng lực bản thân |
Bandura (1986), Chen và cộng sự (1998) |
Tiền tố tác động lên Kiểm soát hành vi |
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP
Chương 1 tổng hợp các hướng tiếp cận lý thuyết trên thế giới về các nhân tố tác động đến ý định khởi nghiệp, bao gồm: tiếp cận theo đặc điểm tính cách cá nhân, tiếp cận xã hội học - nhân khẩu học, tiếp cận hành vi và tiếp cận tổng hợp. Tác giả phân tích các nghiên cứu điển hình tại Việt Nam và chỉ ra khoảng trống lý thuyết: sự cần thiết phải kiểm định mô hình nhận thức cá nhân nhiều tầng bậc trên đối tượng sinh viên khối ngành kỹ thuật, làm rõ tính mâu thuẫn của biến Chuẩn chủ quan trong các nghiên cứu trước đây.
CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP
Chương 2 trình bày các khái niệm cơ bản về khởi nghiệp, các hình thức và quá trình phát triển hoạt động khởi nghiệp (mô hình Rubicon của Hikkerova, mô hình 2 giai đoạn của Mishra & Zachary, mô hình của GEM và Founder Institute). Chương này phân tích khái niệm ý định khởi nghiệp, vai trò của ý định như một điểm khởi phát (trigger factor) và chỉ báo quyết định hành vi. Tác giả hệ thống hóa các mô hình nghiên cứu: Mô hình xu hướng thái độ kinh doanh (Robinson et al., 1991), Mô hình sự kiện khởi nghiệp (Shapero & Sokol, 1982), Mô hình tiềm năng khởi nghiệp (Krueger & Brazeal, 1994), Mô hình TPB (Ajzen, 1991) và mô hình ý định của Linan (2004), từ đó lập luận việc lựa chọn các nhóm yếu tố nhận thức cá nhân làm trọng tâm phân tích.
CHƯƠNG 3. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO VÀ Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO CỦA SINH VIÊN KHỐI NGÀNH KỸ THUẬT VIỆT NAM
Chương 3 khái quát bức tranh khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam: hệ thống văn bản pháp lý, các đề án hỗ trợ (Đề án 844, Đề án 1665, dự án FIRST, IPP2), thực trạng các thương vụ đầu tư khởi nghiệp (theo báo cáo TFI, Echelon), số lượng bằng sáng chế được cấp và chỉ số GEM. Chương này đánh giá quy mô đào tạo sinh viên kỹ thuật, cơ cấu việc làm sau tốt nghiệp, tiềm năng sáng tạo của sinh viên kỹ thuật và các mô hình ươm tạo, hỗ trợ khởi nghiệp tại các trường đại học tiêu biểu như Trường Đại học Bách khoa Hà Nội và Trường Đại học Bách khoa - ĐHQG TP.HCM.
CHƯƠNG 4. MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP CỦA SINH VIÊN KHỐI NGÀNH KỸ THUẬT VIỆT NAM
Chương 4 thiết lập khung mô hình nghiên cứu đề xuất và phát triển hệ thống các giả thuyết nghiên cứu (H1 đến H9). Tác giả trình bày chi tiết quy trình nghiên cứu gồm các bước: xây dựng thang đo sơ bộ từ tổng quan tài liệu; tham vấn chuyên gia qua phương pháp Delphi 2 vòng; điều tra sơ bộ; khảo sát chính thức tại 8 trường đại học kỹ thuật trên cả nước. Chương này mô tả các kỹ thuật phân tích định lượng (Cronbach's Alpha, EFA, CFA, SEM, Đa nhóm, Bootstrap) và quy trình xử lý dữ liệu định tính.
CHƯƠNG 5. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP CỦA SINH VIÊN KHỐI NGÀNH KỸ THUẬT VIỆT NAM
Chương 5 trình bày toàn bộ kết quả phân tích dữ liệu thực nghiệm:
- Thống kê mô tả đặc điểm mẫu khảo sát theo giới tính, năm học, trường, quê quán, nghề nghiệp gia đình và hoạt động ngoại khóa/đào tạo khởi nghiệp.
- Kết quả đánh giá sơ bộ thang đo qua phân tích EFA và loại bỏ các biến quan sát không đạt yêu cầu.
- Kết quả phân tích CFA mô hình đo lường và mô hình tới hạn, khẳng định tính đơn hướng, giá trị hội tụ và giá trị phân biệt của các thang đo.
- Kết quả phân tích SEM kiểm định các giả thuyết H1 đến H7; phân tích đa nhóm kiểm định H8 và H9; kiểm định Bootstrap (N = 2.000) khẳng định độ vững của mô hình ước lượng.
- Kết quả phân tích tác động trực tiếp, gián tiếp và tổng hợp của các yếu tố; phân tích T-Test, ANOVA so sánh mức độ ý định khởi nghiệp theo trường, chuyên ngành và các biến nhân khẩu học.
CHƯƠNG 6. BÀN LUẬN VÀ HÀM Ý NGHIÊN CỨU
Chương 6 tiến hành luận bàn các phát hiện thực nghiệm trên cơ sở so sánh với các nghiên cứu tiền nhiệm quốc tế và bối cảnh thực tế tại Việt Nam. Tác giả thảo luận về thứ tự mức độ tác động của các nhân tố nhận thức đến ý định khởi nghiệp, giải thích ý nghĩa thống kê của yếu tố may mắn và tác động của giáo dục khởi nghiệp. Từ đó, chương này đề xuất hệ thống giải pháp cho ba chủ thể: Cơ quan quản lý Nhà nước, các trường đại học kỹ thuật và bản thân sinh viên khối ngành kỹ thuật; đồng thời nêu rõ các đóng góp mới, hạn chế của đề tài và định hướng nghiên cứu tiếp theo.
Kết quả và những đóng góp mới
Kết quả nghiên cứu chính
- Kiểm định mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM): Kết quả phân tích khẳng định các nhân tố nhận thức cá nhân đều có tác động có ý nghĩa thống kê đến ý định khởi nghiệp của sinh viên kỹ thuật:
- Thái độ đối với việc khởi nghiệp và Nhận thức kiểm soát hành vi là hai yếu tố có tác động trực tiếp cùng chiều mạnh nhất đến ý định khởi nghiệp.
- Chuẩn chủ quan có tác động tích cực đến ý định khởi nghiệp, khẳng định vai trò của áp lực và sự ủng hộ từ gia đình, bạn bè và xã hội trong bối cảnh văn hóa Việt Nam.
- Nhân tố mới Cảm nhận về may mắn được chứng minh có tác động trực tiếp cùng chiều có ý nghĩa thống kê đến ý định khởi nghiệp.
- Các biến tiền tố: Giá trị mong đợi của cá nhân tác động mạnh đến Thái độ; Niềm tin về chuẩn mực xã hội tác động mạnh đến Chuẩn chủ quan; Cảm nhận về năng lực bản thân tác động mạnh đến Nhận thức kiểm soát hành vi.
- Kiểm định Bootstrap: Số mẫu tái lập N = 2.000 xác nhận các ước lượng trong mô hình đạt độ tin cậy cao và cấu trúc mô hình có tính bền vững.
- Phân tích so sánh đa nhóm và sai biệt:
- Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về ý định khởi nghiệp giữa nhóm sinh viên đã từng tham gia các chương trình đào tạo khởi nghiệp so với nhóm chưa từng tham gia.
- Có sự khác biệt về mức độ ý định khởi nghiệp theo chuyên ngành kỹ thuật và theo từng trường đại học khảo sát.
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về ý định khởi nghiệp và nhận diện các yếu tố cấu thành nhận thức cá nhân đối với hoạt động khởi nghiệp sáng tạo.
- Xây dựng và kiểm định thành công mô hình cấu trúc đa tầng mở rộng từ TPB cho đối tượng sinh viên khối ngành kỹ thuật tại một quốc gia đang phát triển, bổ sung biến độc lập Cảm nhận về may mắn và các biến điều khiển đặc thù.
- Lượng hóa cơ chế tác động trực tiếp và gián tiếp của các biến niềm tin nền tảng thông qua các thành tố thái độ, chuẩn chủ quan và kiểm soát hành vi đến ý định khởi nghiệp.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn và kiến nghị giải pháp
- Phác thảo bức tranh thực trạng về ý định và tiềm năng khởi nghiệp sáng tạo của sinh viên khối ngành kỹ thuật tại Việt Nam.
- Đề xuất hệ thống khuyến nghị gồm 3 nhóm giải pháp:
- Đối với cơ quan quản lý Nhà nước: Hoàn thiện hành lang pháp lý bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; mở rộng quỹ đầu tư khởi nghiệp và các chương trình hỗ trợ thương mại hóa đề tài nghiên cứu kỹ thuật; xây dựng hệ sinh thái kết nối trường đại học với doanh nghiệp.
- Đối với các trường đại học kỹ thuật: Đưa học phần giáo dục khởi nghiệp vào chương trình đào tạo chính khóa; thành lập và nâng cao hiệu quả các trung tâm ươm tạo, không gian sáng chế (makerspace); đẩy mạnh hoạt động kết nối sinh viên với các nhà đầu tư và cựu sinh viên khởi nghiệp thành công.
- Đối với sinh viên khối ngành kỹ thuật: Chủ động tích lũy kiến thức quản trị kinh doanh và kỹ năng mềm song song với chuyên môn kỹ thuật; tích cực tham gia các dự án nghiên cứu khoa học ứng dụng và hoạt động trải nghiệm thực tế để nâng cao năng lực bản thân.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Dựa trên nội dung luận án công bố, các hạn chế và hướng nghiên cứu mở rộng được xác định như sau:
- Hạn chế về phạm vi mẫu: Nghiên cứu chỉ tập trung khảo sát sinh viên 2 năm cuối hệ chính quy tại 8 trường đại học chuyên ngành kỹ thuật, chưa bao quát toàn bộ các cơ sở đào tạo kỹ thuật trên cả nước hoặc các hệ đào tạo khác.
- Hạn chế về thiết kế nghiên cứu cắt ngang: Luận án đo lường ý định khởi nghiệp tại một thời điểm nhất định (cross-sectional study), chưa thực hiện nghiên cứu theo dõi dọc (longitudinal study) để đánh giá tỷ lệ chuyển hóa thực tế từ ý định sang hành vi thành lập doanh nghiệp sau khi sinh viên tốt nghiệp.
- Hạn chế về biến số môi trường: Nghiên cứu tập trung sâu vào các biến nhận thức nội tại cá nhân; các yếu tố thuộc hệ sinh thái vĩ mô (chính sách, thị trường vốn, cơ chế hỗ trợ tài chính) chỉ được xem xét dưới dạng biến điều khiển hoặc qua đánh giá định tính.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng nghiên cứu so sánh đối sánh giữa sinh viên khối kỹ thuật và sinh viên các khối ngành khác (kinh tế, xã hội, y dược); thực hiện các nghiên cứu dọc theo dõi quá trình khởi nghiệp thực tế của sinh viên sau 3 đến 5 năm ra trường.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh và học viên cao học: Tham khảo quy trình thiết kế nghiên cứu hỗn hợp chuẩn mực, phương pháp xây dựng thang đo qua kỹ thuật Delphi 2 vòng, và quy trình xử lý dữ liệu phức hợp (EFA, CFA, SEM, Đa nhóm, Bootstrap) trên phần mềm SPSS và AMOS.
- Giảng viên và nhà nghiên cứu giáo dục: Cung cấp tài liệu tham khảo để biên soạn giáo trình, bài giảng về đổi mới sáng tạo và giáo dục khởi nghiệp trong các cơ sở giáo dục đại học, đặc biệt là các trường kỹ thuật và công nghệ.
- Các nhà hoạch định chính sách (Bộ GD&ĐT, Bộ KH&CN): Cung cấp bằng chứng thực nghiệm để đánh giá hiệu quả triển khai các đề án hỗ trợ khởi nghiệp (như Đề án 844, Đề án 1665), từ đó hoàn thiện các cơ chế thúc đẩy thương mại hóa công nghệ từ trường đại học.
- Ban giám hiệu và cán bộ quản lý các trường đại học kỹ thuật: Định hướng xây dựng mô hình đại học khởi nghiệp, thiết lập vườn ươm doanh nghiệp khởi nguồn (spin-off) và tổ chức các hoạt động hỗ trợ sinh viên đổi mới sáng tạo.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao luận án lại tập trung nghiên cứu ý định khởi nghiệp của sinh viên khối ngành kỹ thuật thay vì khối ngành kinh tế?
Sinh viên khối ngành kỹ thuật được đào tạo chuyên sâu về khoa học công nghệ, là lực lượng nòng cốt tạo ra các sản phẩm đổi mới sáng tạo có hàm lượng tri thức cao – yếu tố then chốt hình thành doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo (start-up). Khác với sinh viên kinh tế thường có xu hướng lập nghiệp trong các mô hình thương mại truyền thống, sinh viên kỹ thuật sở hữu tiềm năng phát minh sáng chế nhưng thường thiếu hụt kỹ năng kinh doanh, do đó việc nghiên cứu các yếu tố nhận thức để thúc đẩy ý định khởi nghiệp ở nhóm này mang ý nghĩa quyết định đối với việc xây dựng kinh tế tri thức.
2. Mô hình lý thuyết nền tảng của luận án là gì và tác giả đã bổ sung yếu tố mới nào?
Luận án sử dụng Lý thuyết Hành vi có Kế hoạch (TPB) của Ajzen (1991) làm khung lý thuyết cốt lõi, đồng thời mở rộng mô hình bằng cách bổ sung biến độc lập Cảm nhận về may mắn nhằm phản ánh đặc điểm nhận thức trong bối cảnh văn hóa Việt Nam, cùng hệ thống các biến tiền tố bậc hai (Giá trị mong đợi của cá nhân, Niềm tin về chuẩn mực xã hội, Cảm nhận về năng lực bản thân) tác động gián tiếp đến ý định khởi nghiệp.
3. Quy mô và phương pháp chọn mẫu khảo sát định lượng của luận án được thực hiện như thế nào?
Khảo sát định lượng được thực hiện trên đối tượng sinh viên 2 năm cuối hệ chính quy tại 8 trường đại học kỹ thuật (4 trường phía Bắc và 4 trường phía Nam). Tổng số phiếu phát ra là 2.500 phiếu, cỡ mẫu dự kiến thu về hợp lệ đạt chuẩn là 1.700 sinh viên. Cỡ mẫu này đáp ứng tiêu chuẩn cỡ mẫu lớn, đảm bảo độ tin cậy để phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM.
4. Luận án đã sử dụng các kỹ thuật phân tích thống kê nào để kiểm định mô hình?
Tác giả đã sử dụng phần mềm SPSS và AMOS để thực hiện chuỗi phân tích gồm: Kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach's Alpha, Phân tích nhân tố khám phá (EFA), Phân tích nhân tố khẳng định (CFA mô hình đo lường và mô hình tới hạn), Mô hình hóa cấu trúc tuyến tính (SEM), Phân tích đa nhóm (Multi-group analysis), Ước lượng Bootstrap với 2.000 mẫu tái lập, Kiểm định Independent Samples T-Test, Phân tích phương sai ANOVA và kiểm định hậu định Post-hoc.
5. Kết quả nghiên cứu đưa ra khuyến nghị gì đối với các trường đại học khối ngành kỹ thuật?
Các trường đại học kỹ thuật cần tích hợp môn học khởi nghiệp và kỹ năng kinh doanh vào chương trình đào tạo chính khóa; phát triển các trung tâm ươm tạo, không gian chế tác kỹ thuật; hỗ trợ sinh viên hoàn thiện hồ sơ đăng ký sở hữu trí tuệ cho các đề tài nghiên cứu; và xây dựng mạng lưới cố vấn khởi nghiệp kết nối giữa giảng viên, cựu sinh viên thành đạt và các doanh nghiệp công nghệ.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Đoàn Thị Thu Trang là công trình nghiên cứu thực nghiệm có hệ thống về các nhân tố nhận thức cá nhân ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên khối ngành kỹ thuật tại Việt Nam. Thông qua việc phát triển và kiểm định mô hình Lý thuyết Hành vi có Kế hoạch (TPB) mở rộng trên mẫu khảo sát diện rộng tại 8 trường đại học kỹ thuật Bắc - Nam, luận án đã làm rõ cơ chế tác động trực tiếp và gián tiếp của các nhóm yếu tố nhận thức, chuẩn chủ quan, năng lực bản thân và yếu tố may mắn đến ý định khởi sự doanh nghiệp. Các phát hiện thực nghiệm cung cấp luận cứ khoa học vững chắc cho việc hoạch định chính sách giáo dục khởi nghiệp, hỗ trợ các trường đại học kỹ thuật xây dựng hệ sinh thái ươm tạo và thúc đẩy phát triển đội ngũ doanh nhân khởi nghiệp sáng tạo trong nền kinh tế tri thức.