Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp. Nội dung chương bao gồm tổng hợp các lý thuyết ở trong và ngoài nước liên quan tới việc xác định và đánh giá yếu tố tác động tới ý định khởi nghiệp cá nhân, qua đó trình bày rõ khoảng trống nghiên cứu của luận án. Chương 2: Cơ sở lý luận về ý định khởi nghiệp và các yếu tố tác động tới ý định khởi nghiệp. Nội dung chương bao gồm việc trình bày các vấn đề lý luận cơ bản của hoạt động khởi nghiệp, quá trình phát triển hoạt động khởi nghiệp, ý định khởi nghiệp, và các yếu tố tác động tới ý định khởi nghiệp, vai trò của ý định khởi nghiệp trong quá trình phát triển hoạt động hởi vii nghiệp và hệ thống hóa mô hình nghiên cứu về các yếu tố tác động tới ý định khởi nghiệp được áp dụng phổ biến hiện nay.
Chương 3: Tình hình phát triển các hoạt động khởi nghiệp sáng tạo và ý định khởi nghiệp sáng tạo của sinh viên khối ngành kỹ thuật Việt Nam. Chương này tập trung trình bày tổng quan về hoạt động khởi nghiệp sáng tạo ở Việt Nam nói chung của sinh viên khối ngành kỹ thuật nói riêng. Chương 3 cũng đề cập tới tiềm năng khởi nghiệp của sinh viên khối ngành kỹ thuật Việt Nam và các hoạt động khởi nghiệp sáng tạo của sinh viên nhóm ngành này. Một số mô hình hỗ trợ sinh viên khởi nghiệp tiêu biểu cũng được đề cập trong Chương 3.
Chương 4: Mô hình và phương pháp nghiên cứu đánh giá các yếu tố ảnh hưởng tới ý định khởi nghiệp của sinh viên khối ngành kỹ thuật Việt Nam. Nội dung chương trình bày về mô hình nghiên cứu các yếu tố mang tính nhận thức cá nhân tác động tới việc hình thành và phát triển ý định khởi nghiệp của nhóm sinh viên khối ngành kỹ thuật Việt Nam và phương pháp nghiên cứu mà luận án sử dụng. Chương 5: Kết quả nghiên cứu đánh giá các yếu tố ảnh hưởng tới ý định khởi nghiệp của sinh viên khối ngành kỹ thuật Việt Nam. Chương này trình bày cụ thể các kết quả nghiên cứu về các yếu tố tác động tới ý định khởi nghiệp của sinh viên khối ngành kỹ thuật, so sánh mức độ tác động của các yếu tố tới ý định khởi nghiệp sáng tạo của các nhóm sinh viên khác nhau và tìm hiểu mức độ sẵn sàng khởi nghiệp của các nhóm sinh viên dựa trên các phương pháp nghiên cứu đã trình bày ở chương 4.
Chương 6: Bàn luận và hàm ý nghiên cứu. Chương cuối của luận án luận bàn các kết quả nghiên cứu chính của luận trên cơ sở so sánh với kết quả của các nghiên cứu trên thế giới, ở Việt Nam và tham khảo ý kiến đánh giá của các chuyên gia về khởi nghiệp. Dựa trên các luận bàn và đánh giá này, Chương 6 đưa ra một số đề xuất thúc đẩy ý định khởi nghiệp cho sinh viên nhóm ngành kỹ thuật Việt Nam. Các đề xuất đến từ ba phía: các cơ quan quản lý nhà nước, các trường đại học khối ngành kỹ thuật và chính bản thân sinh viên khối ngành kỹ thuật Việt Nam.
Một số hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo được trình bày ở phần cuối của Chương 6. viii CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP 1.1 Tổng hợp cách tiếp cận của các nghiên cứu trên thế giới về các yếu tố tác động tới ý định khởi nghiệp Ý định khởi nghiệp phản ánh mức độ quan tâm của một cá nhân đối với hoạt động khởi nghiệp [145]. Ý định dự đoán khá chính xác khả năng diễn ra hành vi trong tương lai [56][61], do đó việc tìm hiểu và đánh giá cụ thể các yếu tố tác động tới ý định khởi nghiệp là vô cùng quan trọng để lý giải hành vi khởi nghiệp [201].
Cũng chính vì lập luận đó mà các nghiên cứu trên thế giới đã xây dựng và chứng minh rất nhiều các yếu tố tác động tới ý định khởi nghiệp như: • Nhóm yếu tố nhân khẩu học (Demographic factors) như tuổi, giới tính, trình độ học vấn, tôn giáo, quốc tịch, truyền thống kinh doanh của gia đình [67]. • Nhóm nhân tố về năng lực cá nhân (Personal characteristics) như trình độ chuyên môn kỹ thuật, năng lực quản lý, năng lực kinh doanh, kinh nghiệm lãnh đạo và khởi nghiệp [59] [199]. • Nhóm đặc điểm tính cách cá nhân và cá tính (Personality traits) như mong muốn đạt được thành tựu, quyền kiểm soát, chấp nhận rủi ro, chấp nhận sự không chắc chắn, mong muốn được độc lập [162] [156]. • Nhóm các yếu tố xã hội (Social factors) như vai trò, vị trí và tầm ảnh hưởng của nhà khởi nghiệp trong xã hội, hỗ trợ từ phía gia đình và xã hội [71] [116] [98].
• Nhóm yếu tố văn hoá (Cultural factors) bao gồm chủ nghĩa cá nhân hay chủ nghĩa tập thể, văn hoá không chấp nhận sự bất ổn định, hệ tư tưởng Nho giáo, văn hoá vật chất [163] [64]. • Nhóm các yếu tố môi trường (Environmental factors) gồm nguồn lực về kinh tế, cơ hội việc làm, thể chế chính trị [110] [140]. • Nhóm yếu tố về giáo dục nói chung và các chương trình đào tạo khởi nghiệp nói riêng (Education and Entreprenuership Education Programs) [147] [220] [168] [139]. trong lịch sử, các nghiên cứu về chủ đề ý định khởi nghiệp và các yếu tố tác động tới ý định khởi nghiệp có bốn cách tiếp cận cơ bản [224] (1) Cách tiếp cận đặc điểm, tính cách cá nhân (trait approach) trả lời câu hỏi: Ai sẽ là doanh nhân (2) Cách tiếp cận đặc điểm xã hội học - nhân khẩu học (demographic-sociological approach) trả lời câu hỏi: Môi trường nào hình thành doanh nhân.
(3) Cách tiếp cận hành vi (behavioral approach) trả lời câu hỏi: Tại sao một số cá nhân lựa chọn theo đuổi hành trình khởi nghiệp. (4) Cách tiếp cận tổng hợp với quan điểm ý định khởi nghiệp chịu sự tác động của tổng hoà nhiều nhóm yếu tố khác nhau.1 Cách tiếp cận đặc điểm, tính cách cá nhân Ở giai đoạn đầu của lịch sử nghiên cứu về ý định khởi nghiệp, các nhà nghiên cứu tập trung chủ yếu vào tiếp cận đặc điểm cá nhân nhằm xây dựng bộ đặc điểm tính cách cần thiết ở một cá nhân có xu hướng nảy sinh ý định khởi nghiệp cao hơn so với những người khác [171]. Theo quan điểm của nhóm học giả này, chỉ một số cá nhân với các đặc điểm tính cách nhất định mới có 1 ý định khởi nghiệp. Bộ tính cách điển hình bao gồm: mong muốn kiểm soát, tính sáng tạo, khả năng độc lập và tự chủ trong quyết định, tính cách tham vọng, chấp nhận rủi ro [53].
Trên cơ sở lập luận này, một số mô hình đặc điểm tính cách cá nhân đã được xây dựng và áp dụng trong lĩnh vực nghiên cứu tiềm năng khởi nghiệp cá nhân. Điển hình là Mô hình Đặc điểm Tính cách 5 yếu tố (FFM – Five factor model) dựa trên những phát hiện từ một số nhà nghiên cứu độc lập vào cuối năm 1950. Mô hình FFM bao gồm 5 đặc điểm tính cách: Cầu thị - Openness to experience: tư duy, sáng tạo, trí tưởng tưởng, thích khám phá trải nghiệm mới; Tận tâm - Conscientiousness: sự chăm chỉ, tỉ mỉ, trách nhiệm, cẩn thận; Hướng ngoại -Extroversion: tính mạnh mẽ, thích xã giao, nhiệt tình; Đồng thuận - Agreeableness: sự tin tưởng, hợp tác, tán thành, linh hoạt và Nhiễu tâm - Neuroticism (thường được nhiều nghiên cứu thay thế bằng đặc điểm đối lập là ổn định cảm xúc-Emotional stability): sự bình tĩnh, biết cách thư giãn, trạng thái cân bằng [92]. Bên cạnh FFM, mô hình Thu hút, Lựa chọn, Tiêu hao (ASA - Attraction–Selection– Attrition model) do học giả Schneider phát triển năm 1987 cũng được ứng dụng nhiều trong các nghiên cứu khởi nghiệp nhằm tìm hiểu vai trò của cá tính cá nhân tới ý định khởi nghiệp.
ASA cho rằng cá nhân với một số đặc điểm tính cách nhất định có xu hướng bị hấp dẫn nhiều hơn với hoạt động khởi nghiệp. Thêm nữa, các bên thứ ba như nhà đầu tư, khách hàng có xu hướng lựa chọn đối tác chủ doanh nghiệp là những cá nhân có một số đặc điểm tính cách nhất định. Đặc biệt, những cá nhân với bộ đặc điểm tính cách nhất định luôn nhận thấy việc làm chủ doanh nghiệp sẽ đáp ứng mong muốn và nhu cầu bản thân; do vậy họ sẽ gắn kết lâu dài để thực sự thiết lập doanh nghiệp khởi nghiệp [232] Nhà nghiên cứu David C. McClelland với nghiên cứu mang tựa đề ‘The Achieving Society’ xuất bản năm 1961 được coi là học giả tiên phong mở đầu cho xu thế tiếp cận này.
McClelland nhấn mạnh rằng nhu cầu thành đạt là yếu tố quyết định chính đến tiềm năng khởi nghiệp của cá nhân [118]. Nghiên cứu của Schumpeter cho thấy tư duy sáng tạo là yếu tố tính cách trung tâm ở mọi doanh nhân khởi nghiệp [197]. Trong khi đó, Robinson khẳng định sự tự tin và thỏa mãn bản thân là yếu tố quyết định [192].1 tổng hợp một số kết quả nghiên cứu về cách tiếp cận các yếu tố đặc điểm tính cách cá nhân tác động tới ý định khởi nghiệp.1: Tổng hợp nghiên cứu liên quan đến các yếu tố tính cách, đặc điểm cá nhân tác động tới ý định khởi nghiệp Nhóm yếu tố Nguồn Mong muốn đạt được thành tựu, quyền kiểm soát, chấp nhận rủi [162] [76] [128] [156] ro, chấp nhận sự không chắc chắn, mong muốn được độc lập Sự tự tin, sự năng động nhạy bén, có hoài bão, khuynh hướng tự [127] [226] chủ cao và sẵng sàng chấp nhận rủi ro. Năng lực cá nhân như trình độ chuyên môn kỹ thuật, năng lực quản lý, năng lực kinh doanh, kinh nghiệm lãnh đạo và khởi [199] [148] [59] [217] nghiệp (Nguồn: Nghiên cứu sinh tổng hợp) Trong khoảng 15 năm phát triển đỉnh cao của phương pháp tiếp cận ý định khởi nghiệp dựa trên bộ đặc điểm tính cách cá nhân, rất nhiều các thành tựu đã được ghi nhận.
Tuy nhiên vào cuối những năm 1980 do không chứng minh được tính nhất quán từ các kết quả nghiên cứu thực 2 nghiệm, các mô hình và lý thuyết xem xét ý định khởi nghiệp dựa trên cách tiếp cận đặc điểm tính cách cá nhân có xu hướng bị giới học giả bác bỏ [77]. Thêm nữa các nghiên cứu đương đại cũng chỉ ra rằng việc đánh giá ý định khởi nghiệp dựa trên nhóm yếu tố tác động là tính cách cá nhân chỉ lý giải được khoảng 10% kết quả, 90% còn lại nằm ở các yếu tố tác động khác ngoài đặc điểm tính cách cá nhân [56].