CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYÉT VE Ý ĐỊNH - HANH VI DOI VỚI KHOI SỰ KINH DOANH VA NỖI SỢ THAT BAI TRONG KHOI SỰ KINH DOANH DOI VOI HANH VI KHOI SU KINH DOANH 1. Các khái niệm liên quan đến khởi sự kinh doanh của cựu sinh viên 1. Thanh niên Thanh niên là gì? Thanh niên là tương lai của đất nước, mang đến sức trẻ, sự sáng tạo cũng như tiềm lực cho phát triển kinh tế. Đây là một lực lượng hùng hậu có những đóng góp to lớn và vai trò quan trọng đối với việc phát triển và xây dựng đất nước.
Mỗi quốc gia sẽ có những quy định về độ tuổi khác nhau cho thanh niên tùy theo điều kiện xã hội và mục đích của từng nơi. Tại Việt Nam, theo điều luật 1 Luật Thanh niên Việt Nam năm 2020 được trích dẫn như sau: “ Thanh niên là công dân Việt Nam từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi”. Đây là độ tuổi dồi dào sức khỏe, nhiều sức sáng tao, san sàng đổi mới, chấp nhận thử thách khó khăn của con người. Ở độ tuôi này, con người có nhu cầu khẳng định bản thân, sẵn sàng học hỏi, trau déi và rèn luyện để tạo ra được những thành tựu nhất định.
Điều đó vô hình chung đã đóng góp một phan cho đất nước. Đặc biệt nếu thanh niên quyết định khang định bản thân ở lĩnh vực kinh doanh, điều đó sẽ góp phần to lớn trong mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước. Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh thì có đưa ra một điều lệ đối với thanh niên như sau: “Thanh niên Việt Nam tuổi từ 16 đến 30, tích cực học tập, lao động và bảo vệ Tổ quốc, được tìm hiểu về Doan va tán thành Điều lệ Đoàn, tự nguyện hoạt động trong một tô chức cơ sở của Đoàn, có lý lịch rõ rằng đều được xét kết nạp vào Doan.” Doan TNCS Hồ Chi Minh là tổ chức chính trị xã hội của thanh niên Việt Nam do Đảng cộng sản Việt Nam và chủ tịch Hồ Chi Minh sáng lập và rèn luyện. Bên cạnh đó còn có khái niệm từ Liên hiệp Thanh niên Việt Nam.
Trong chương II, phần Hội viên, điều 5: “ Công dân Việt Nam từ 15 đến 35 tuổi tán thành Điều lệ Hội, tự nguyện gia nhập Hội thì được xét công nhận là hội viên Hội LHTN Việt Nam”. Ở đây ta có thể thấy Liên hiệp Thanh niên Việt Nam có quy định về độ tuôi của thanh niên Việt Nam dai hơn so với Luật Thanh niên Việt Nam và Doan Thanh niên cộng sản Hồ Chi Minh, cụ thé là 35 tuổi chứ không phải 30 tuổi. Bài nghiên cứu này tập trung nghiên cứu về cựu sinh viên mới ra trường đối với KSKD, tức độ tuổi nghiên cứu của bai là từ 22 — 27 tuổi. Về tính chất của Thanh niên, đó là trạng thái của con người thay đổi từ sự phụ thuộc vào gia đình đến sự tự lập phát triển và khao khát tạo dấu ấn riêng của từng cá nhân.
Từ các khái niệm được nêu, Thanh niên được hiểu là “ công dân Việt Nam có độ tuôi từ 16 đến 35 tuổi, có khao khát tạo thành tựu, sung sức, nhạy bén và sáng tao”. Theo các nghiên cứu san có trước đây, thanh niên trong độ tuôi từ 16 đến 35 tuổi thường sẽ có tỷ lệ KSKD lớn hơn nhóm tuổi những người trung niên từ 36 đến 64 tuôi. Bởi thanh niên là nhóm người nhạy bén với những điều mới, tiếp thu nhanh vã sẵn sàng nắm bắt các cơ hội kinh doanh mặc dù nhận thức của họ về khả năng duy trì doanh nghiệp hay kinh nghiệm sẽ kém hơn đối với nhóm trung niên. Có rất nhiều tắm gương sáng trong việc chứng minh thanh niên là lực lượng quan trọng đối với KSKD và phát triển kinh tế đất nước.
Đó là Bill Gate — nhà đồng sáng lập Microsoft, Steves Job — nhà thành lập Apple hay Mark Zuckerberg — ông chủ của Facebook. Các thần đồng trên đã đưa ra quyết định tạo bạo, đi ngược lại với số đông, đó là từ bỏ đại học và bắt đầu KSKD từ những năm hai mươi tuổi. Các bài nghiên cứu còn chi ra người trẻ tuổi sẽ có cái nhìn sắc bén hơn về thị trường, không bị ràng buộc bởi trách nhiệm gia đình và không ngại định kiến của xã hội. Họ dám có những ý tưởng táo bạo, dám nghĩ dám làm, dám phá vỡ các quy tac đời thường (Weinberg, 2007).
Mặc dù KSKD trước tuổi 30 sẽ thường bị coi là gặp nhiều thách thức trở ngại và dễ dẫn đến thất bại nhiều hơn sau độ tuổi trung niên. Tuy nhiên, thanh niên luôn luôn là nhóm người có tiềm năng vô hạn và nhu cầu mong muốn được KSKD cực kì cao, xứng đáng được nghiên cứu kĩ càng về quy trình và cách thức KSKD, hướng đi đùng đắn và phù hợp cho thanh niên dé từ đó có thể đưa ra nhiều hơn các chỉnh sách hỗ trợ nhằm đưa thị trường Việt Nam thành một sân chơi đành cho mọi độ tuôi. Khởi sự kinh doanh và các khái niệm về Ý định, Hành vi và Nỗi sợ thất bại trong khởi sự kinh doanh 1. Khởi sự kinh doanh Tên gọi được xuất phát từ tiếng Pháp “entrepreneur” (người khởi sự kinh doanh), thế nhưng lại chưa có một định nghĩa nào của KSKD được cộng đồng học giả chấp nhận rộng rãi.
Dưới đây là tổng hợp các định nghĩa của KSKD theo các góc độ khác nhau: - Dưới góc độ khởi dau một cái gì mới, theo Leibenstein (1968 & 1979) hay Gartner (1988) và Cromie (2000) thì KSKD bao gồm các hoạt động cần thiết cho việc hình thành một doanh nghiệp mới, tô chức mới hay một hoạt động kinh doanh mới. - Dưới góc độ doanh nhân /ngwoi chủ tổ chức (doanh nghiệp) mới, KSKD là việc “một cá nhân chấp nhận rủi ro và khó khăn đề thành lập doanh nghiệp mới, tự làm chủ nhăm mục đích kiếm tiền và làm giàu” (Wortman, 1987), hoặc KSKD là việc “bắt đầu tạo lập một công việc kinh doanh mới bang cách đầu tư vốn kinh doanh, hay mở cửa hàng kinh doanh” (Macmillan, 1993). KSKD là “sự lựa chọn nghề nghiệp của một cá nhân giữa việc đi làm thuê hay tự làm chủ kinh doanh" hoặc KSKD là “sự lựa chọn nghề nghiệp của những người không sợ thất bại, rủi ro, muốn tự lập và làm chủ công việc kinh doanh của chính mình”. Hơn nữa, Hisrich và Peters (2002) cho rằng “KSKD có mối liên hệ chặt chẽ với một số đặc điểm cá nhân như tính sang tạo, khả năng làm việc độc lập và tinh thần chấp nhận rủi ro”.
- Dưới góc độ tìm kiếm và nắm bắt các cơ hội khởi sự kinh doanh, theo Nwachuku (1990), KSKD là thời điểm một cá nhân bắt đầu có những nhận xét, đánh giá các cơ hội kinh doanh xung quanh, từ đó cân nhắc, tập hợp những nguồn lực cần thiết và bắt đầu quá trình những hành vi KSKD nhằm khai thác tốt các cơ hội kinh doanh đó. Theo Reynolds (1995) thì KSKD còn được hiểu là việc nhạy bén trước các cơ hội, từ đó nắm bắt và tạo ra một thị trường/hoạt động kinh tế mới. Bên cạnh đó, qua nhận định của Shane & Venkataraman (2000) thì KSKD là đánh giá và tận dụng các nguồn lực dé phát triển cơ hội kinh doanh. KSKD còn là quá trình một cá nhân tìm kiếm các cơ hội mà không xét đến những nguồn lực mà họ hiện đang quan lý (Baringer & Ireland, 2010); hay theo Okpara (2000) thì KSKD là “sự sẵn lòng danh toàn bộ khả năng của một cá nhân trong việc kiếm tìm và phát hiện các cơ hội đầu tư mới; và có thể xây dựng, dẫn dắt một tổ chức đạt được nhiều thành tựu nhờ sự nhạy bén với thị trường cơ hội của chủ doanh nghiệp.
Như vậy, theo tác giả, KSKD được hiểu là khoảng thời gian một cá nhân đánh giá các cơ hội kinh doanh hấp dẫn, sau đó tập hợp các nguôn lực cần thiết đề thành lập một tổ chức kinh doanh/ doanh nghiệp mới với mục đích mang lại của cải cho cá nhân, đất nước và tạo ra nhiễu giá trị cho xã hội. Ý định khởi sự kinh doanh Tương tự như KSKD, Ý định KSKD cũng có rất nhiều định nghĩa khác nhau: Ý định KSKD đã được nghiên cứu dưới nhiều gốc độ khác nhau. Được định nghĩa là trang thái tinh thần của việc lập kế hoạch thực hiện một hành động trong tương lai (Bratman, 1987), ý định KSKD đòi hỏi một kế hoạch và động lực được xác định trước dé đảm bảo thực hiện thành công (Wibard, 2009; Bagozzi và cộng sự, 1989). Theo cách hiểu này, ý định KSKD là mong muốn, nhu cầu có một kế hoạch đề thực hiện các dự án trong tương lai.
Những người muốn tham gia vào các hoạt động kinh doanh phải luôn cân nhắc và đưa ra những lựa chọn sáng suốt khi theo đuổi những ý định đó (Bird, 1988). Ý định KSKD cũng thường được coi là gắn liền với thời điểm lúc cá nhân nhìn nhận ra cơ hội kinh doanh, trong điều kiện kinh tế cụ thé và sau đó xem xét, cân nhắc, sử dụng các nguồn lực sẵn có đề thành lập doanh nghiệp của riêng mình. Tuy nhiên, KSKD là điểm nhắn quan trọng trong khoảng thời gian một cá nhân lên kế hoạch chuẩn bị dé nắm bat cơ hội, quyết định và thực hiện hành vi KSKD. Do đó, phần đông các nhà nghiên cứu, điển hình là Bagozzi và cộng sự (1989), Krueger và Brazel (1994) đã đồng nhất về quan điểm: ý định KSKD là một yếu tô quan trọng, dẫn tới hành vi KSKD.
Ngoài ra, ý định KSKD còn được định nghĩa theo các nhà nghiên cứu như sau: - Ý định KSKD là ý định của một cá nhân, ho tìm kiếm thông tin va cân nhắc giữa các nguồn lực dé quyết định KSKD, thành lập một doanh nghiệp mới (Katz và Gartner, 1988). - Y định KSKD là các dự định về hành động, được lên kế hoạch đề thực hiện một hoạt động kinh doanh của một cá nhân (Tubbs và Ekeberg, 1991). - Ý định KSKD là sự cam kết thực hiện hành vi KSKD (Krueger, 1993; Krueger với cộng sự, 1993). - Ý định KSKD là ý định của một cá nhân trong việc khởi đầu một công việc kinh doanh mới (Engle và cộng sự, 2010).
Như vậy, ý định KSKD được hiểu là: (i) Những mong muốn, suy nghĩ trong việc kiếm tìm các cơ hội và ỷ tưởng tạo lập, phát triển kinh doanh. (ii) Y dinh trong viéc lén kha nang kiém duocthu thap va tiép cdn nguon luc (iii) Ý định trong việc chuẩn bị các tiềm lực dé quản lý các hoạt động kinh doanh; các ý định này có thể là độc lập nhưng chúng cũng có thể được diễn ra cùng lic.